Tìm hiểu về dân tộc H Mông - Pdf 21

DÂN TỘC H’MÔNG

I. KHÁI QUÁT:
Việt nam là một quốc gia bao gồm nhiều thành phần dân tộc, chung sống
trên cùng một lãnh thổ, có cùng bản sắc văn hóa và có chung vận mệnh
lịch sử.
Qua những thành tựu nghiên cứu mấy chục năm qua, chúng ta biết được
rằng: các thành phần dân tộc trên đất nước ta cùng thuộc chủng mông-gô-
lô-it phương nam, đã làm nên cuộc cách mạng đá mới trên địa bàn rộng và
vùng trung tâm về sau là cương vực nước văn lang.
Đến thời đại đồng thau hoặc sớm hơn đôi chút do sự chuyển hóa nội tại
cùng với quá trình Mông-gô-lô-it hóa tiếp tục đã hình thành loại hình nam
á cổ, là tổ tiên trực tiếp của người việt, người Mường, người H’mông và
một số dân tộc anh em gần gũi.
Trong những thế kỷ tiếp theo, trên lãnh thổ nước ta lại có sự quần cư đông
đúc hơn do nhiều tộc người khác nhập cư đến vào những thời gian khác
nhau, từ những miền đất khác nhau. Trong đó có dân tộc H’mông. Cũng
như các dân tộc khác người H’mông có những nét văn hóa riêng và nét
chung hòa mình vào một đất nước có đến 54 dân tộc anh em.
I.1. Tên gọi:
Người H’Mông, còn gọi là người Hmông, người Miêu (ở Trung Quốc), người
Mèo (ở Việt Nam), người Mẹo (ở Lào) là một dân tộc ở châu Á nói tiếng H'Mông.
Tên gọi khác là: Mèo Hoa, Mèo Đỏ, Mèo Xanh, Mán Trắng, Ná Mẻo.
I.2. Ngôn ngữ:
Nhóm H’mông thuộc ngữ hệ Nam Á, H’mông-Dao có 3 ngôn ngữ:
Hmông, Dao, Pà Thẻn.
I.3. Lịch sử hình thành và phát triển của dân tộc H’mông ở Việt Nam:
Người H’mông ở Việt Nam hiện nay đều có nguồn gốc chủ yếu từ phương
Bắc. Các tài liệu khoa học, cũng như các truyền thuyết đều cho biết rằng
người Mông là tộc người di cư vào Việt Nam sớm nhất khoảng 300 năm và
muộn nhất là 100 năm về trước. Theo các nhà dân tộc học Việt Nam thì

Biên (170.648 người), Sơn La (157.253 người), Lào Cai (146.147 người), Lai Châu
(83.324 người), Yên Bái (81.921 người), Cao Bằng (51.373 người), Nghệ An
(28.992 người), Đắk Lắk (22.760 người), Đắk Nông (21.952 người), Bắc Kạn
(17.470 người), Tuyên Quang (16.974 người), Thanh Hóa (14.799 người).
I.4.2. Nhóm địa phương ( ngành )
Căn cứ vào đặc điểm về dân tộc học và ngôn ngữ học, các màu áo người ta
chia dân tộc h mông ra các ngành:
H’mông Đỏ hoặc h mông Đâu (H mông Trắng)
H‘mông Đu (h mông Đen)
H’mông Si (h mông Đỏ)
H’mông Dua (h mông Xanh)
H’mông Lềnh (h mông Hoa)
H’mông Súa (h mông Lai)
Ná Mẻo (h mông Nước)
II. VĂN HÓA:
II.1. Nhà ở:
Với môi trường sống trên các triền núi cao, khí hậu lạnh, khắc nghiệt…thì
ngôi nhà trình tường bằng đất, lợp ngói hay tranh của người HMông có ưu
điểm mát mẻ về mùa hè, giữ ấm về mùa đông, chống thú dữ…
Nhà người HMông thường thống nhất 3 gian 2 cửa, một cửa chính, một
cửa phụ và phải có hai cửa sổ trở lên. Trong 3 gian nhà chính, gian bên trái
dùng để đặt bếp lò và chỗ ngủ của vợ chồng chủ nhà. Gian bên phải đặt
bếp sưởi và giường khách. Gian giữa rộng hơn để đặt bàn thờ tổ tiên và là
nơi tiếp khách, ăn uống của gia đình. Hai gian trái đặt cối xay ngô, giã
gạo…
Bàn thờ tổ tiên của người HMông rất đơn giản, chỉ là một mảnh ván hoặc 3
ống cắm hương làm bằng tre nứa cắm vào tường.
Trong gia đình người HMông, phòng ngủ của vợ chồng con cái được bố trí
riêng. Người HMông ngủ bằng phản hoặc giát bằng tre mai đập giập.
Người HMông rất khắt khe, nơi ngủ của con dâu, em dâu thì bố chồng và

thanh cao nên khi đưa cây đòn nóc ở rừng về người ta phải đưa lên nóc
ngay, không đựoc đặt xuống đất. Đặc biệt khi vào rừng chặt hạ cây cột cái,
cây đòn nóc thường phải chọn ngày tốt hợp với tuổi của của gia chủ. Tìm
được cây gỗ, phải thắp 3 nén hương, tiếp đó cắm 3 tờ giấy bản vào gốc cây
khấn thần rừng, thần cây cho xin cây gỗ về làm nhà. Họ quan niệm rằng
như thế thần cây, thần rừng mới không quở mắng và nhà cửa mới yên vui,
mọi người khoẻ mạnh, ăn nên làm ra.
Cửa chính nhà của ngưòi HMông cũng phải tìm gỗ tốt để làm, nếu là tre
nứa thì phải là thân trúc hoặc mai già. Cửa bao giờ cũng mở vào trong chứ
không mở ra ngoài. Người HMông không sử dụng bản lề, then chốt bằng
sắt mà hoàn toàn bằng gỗ, bởi người HMông coi cửa mở ra đóng vào là
lòng bụng con người, trong khi đó bản lề sắt thép là những vật cứng được
ví như dao kiếm. Ngoài cửa chính, nhà của người HMông còn có cửa phụ,
là lối để đưa đồ dùng cho người chết vào nhà lúc tang ma. Chỉ khi đưa ra
nghĩa địa mới đi qua cửa chính.
Làm nhà được coi là một việc hệ trọng trong đời người HMông, do vậy
ngày về nhà mới là ngày đại sự của gia chủ. Ngày hôm ấy, người ta tổ chức
ăn uống vui vẻ, chúc nhau mọi sự tốt lành.
Cùng với việc làm nhà mới là làm chuồng gia súc. Chuồng gia súc được
làm chếch với cửa chính, tuỳ thuộc vào hướng gió. Để làm chuồng gia súc,
người ta cũng phải xem tuổi gia chủ, tính ngày tháng rồi mới làm. Người
HMông rất yêu quý gia súc, có khi còn làm chuồng gia súc tốt hơn làm nhà
ở. Khi làm chuồng gia súc người HMông đều thắp hương cúng ma chuồng,
ma trại phù hộ cho gia súc hay ăn chóng lớn, dễ nuôi.
Nhà người HMông thường được xếp đá xung quanh làm hàng rào che
chắn. hàng rào đá xếp xung qunah một nhà hoặc 2,3 nhà có quan hệ anh
em nội tộc với nhau, làm thành một khu riêng biệt.Người HMông cũng làm
nhà dựa lưng vào núi, kiêng làm nhà quay lưng ra khe, vực sâu. Bản của
người HMông có từ vài ba nóc nhà trở lên, có bản chỉ có một dòng họ,
nhưng không nhiều, còn lại đa số là một bản có nhiều dòng họ sống cùng

thân. Quần nam giới là loại chân què ống rất rộng so với các tộc trong khu
vực. Đầu thường chít khăn, có nhóm đội mũ xung quanh có đính những
hình tròn bạc chạm khắc hoa văn, có khi mang vòng bạc cổ, có khi không
mang.
II.3. Ẩm thực:
Người Mông thường ăn ngày hai bữa, ngày mùa ăn ba bữa. Bữa ăn với các
thực phẩm truyền thống có mèn mén (bột ngô đồ) hay cơm, rau xào mỡ và
canh. Bột ngô được xúc ăn bằng thìa gỗ. Phụ nữ khéo léo làm các loại
bánh bằng bột ngô, gạo vào những ngày tết, ngày lễ. Người Mông quen
uống rượu ngô, rượu gạo, hút thuốc bằng điếu cày. Ðưa mời khách chiếc
điếu do tự tay mình nạp thuốc là biểu hiện tình cảm quý trọng. Trước kia,
tục hút thuốc phiện tương đối phổ biến với họ.
Nếu người miền xuôi tự hào với món phở, thì người miền núi tự hào vì có
thắng cố. Nói đến thắng cố, ai cũng biết đó là đặc sản của đồng bào dân tộc Mông ở miền núi phía
Bắc. Nhưng bây giờ, thắng cố đã trở thành món ăn ngon và quen thuộc của nhiều tộc người vùng cao.
Trời càng lạnh, thắng cố càng ngon, thêm bát rượu ngô ấm nồng với người miền núi thực không có gì
sánh bằng.
Nói đến rượu thì không thể không nhắc tới rượu ngô Bản Phố, hay còn gọi
là rượu ngô Bắc Hà là một thứ rượu ngon đặc sản của người Mông ở Bản
Phố, cao nguyên Bắc Hà, Lào Cai. Cùng với rượu Táo Mèo và rượu San Lùng, rượu ngô
Bản Phố là các danh tửu của Lào Cai. rượu Bản Phố có màu trong như
nước suối, lúc mới uống nghe hương vị thơm nồng, sau đó là cảm giác êm
dịu. Rượu ngô nơi đây say lâu nhưng không làm người ta ngu muội mà
cảm giác vẫn sảng khoái. Rượu ngô Bản Phố nấu từ nước lấy từ suối Hang
Dế. Rượu ngô Bản Phố hương thơm thì nồng nàn, quyến rũ, uống vào
không gắt, không chua. Ngô dùng nấu rượu Bản Phố không phải trồng ở
nương rẫy hoặc thung lũng, mà ở trên núi đá cao heo hút. Loại ngô này cho
bắp chắc, vàng, năng suất không cao, bù lại hạt mềm, bùi và rất giàu dinh
dưỡng. Sau khi thu hoạch, ngô được giữ nguyên bắp, phơi khô và bảo quản
để nấu rượu dần. Bí quyết tạo nên sự khác biệt của rượu ngô Bản Phố với

uống rượu đến khi nghe thấy tiếng gà gáy đầu tiên.
Tuy nhiên, cơm cúng có thể thiếu thịt (đối với những nhà nghèo) nhưng
không thể thiếu món bánh dày, chính vì vậy, trong lễ hội thì thi giã bánh
dày bao giờ cũng rất vui và được thi đầu tiên.
Cơm nếp được nấu sẵn và mang đến, sau khi nghe hiệu lệnh, cơm được đổ
ra cối và lập tức được giã nhanh chóng, vì giã lúc nóng thì bánh sẽ dẻo,
cũng như khi giã giò phải giã thật nhanh tay khi thịt vừa pha xong còn
nóng. Mỗi đội được giã trong vòng 50 phút, thành phẩm là 5 chiếc bánh
đường kính 20cm, bánh phải trắng, dẻo, và kéo dài 30 cm không bị đứt.
Cộng với điểm thời gian và trình bày sẽ quyết định đội thắng cuộc. Trong
khi đàn ông giã bánh, thì phụ nữ chuẩn bị lá, và bóp vụn lòng đỏ trứng gà
để trộn vào bột trước khi nặn thành bánh. Bánh đã giã xong, chắc chỉ trong
vòng 10 phút, 4 chiếc với đường kính 20cm được đặt trên lá chuối, một
chiếc được đặt trên đĩa để ban giám khảo chấm.
II.5. Tục lệ cưới hỏi:
Người H'mông có rất nhiều phong tục, tập quán đẹp, có chiều sâu vǎn hoá.
Trong đó, đặc sắc nhất có lẽ là những tục lệ về cưới xin. Những tục lệ như
"bắt vợ", "ǎn hỏi" và "buộc chỉ cổ tay cô dâu" là di sản lớn về tinh thần do
cha ông ta từ xa xưa truyền lại. Người H'mông đã mang nó đi qua hàng
trǎm cánh rừng du canh du cư ngày xưa đến những bản làng trù phú định
canh định cư ngày nay.
Bao giờ cũng vậy, Xuân về, Tết đến cũng là dịp để thanh niên nam nữ
H’Mông có cơ hội gặp gỡ, tìm hiểu nhau, đó có thể là các phiên chợ cuối
năm, hội hè trong những ngày Tết hay đơn giản chỉ là những buổi đi lấy
củi, địu nước chuẩn bị cho một năm mới Khi đôi trai gái đã ưng ý và thề
nguyền đi đến hôn nhân thì họ sẽ về thưa chuyện với bố mẹ và dòng họ.
Nếu mọi chuyện suôn sẻ thì nhà trai sẽ mời ông mối sang đánh tiếng dạm
hỏi, rồi tiến tới lễ ăn hỏi (hẹn cưới) và cuối cùng là lễ cưới (đón dâu). Đám
cưới của người H’Mông thường được tổ chức linh đình vào ngày lành
tháng tốt, thường là vào mùa Xuân.

xảy ra trước kia, dưới thời xã hội phong kiến. Còn ngày nay, cũng như
nhiều dân tộc khác, người H’Mông luôn trọng chế độ hôn nhân một vợ,
một chồng và quan niệm cái đẹp lứa đôi là khỏe mạnh, đạo đức và chăm
chỉ. Hôn nhân là kết quả của tình yêu tự nguyện, các cuộc “kéo vợ” giờ
đây chỉ là sự khẳng định cho tình yêu mãnh liệt, khát vọng về một gia đình
hạnh phúc của trai gái người H’Mông mà thôi. Chính vì vậy, hiểu tục “kéo
vợ” của người H’Mông như ngày này chúng ta vẫn hiểu, là khi người con
trai thích một người con gái, liền rủ bạn bè bắt cóc người đó về làm vợ là
rất sai lầm, nghiêng về khía cạnh bạo lực mà không thấy hết được tính
nhân văn sâu sắc trong đó. Chính vì vậy, có thể nói, người H’Mông có rất
nhiều tục lệ với những ràng buộc khắt khe song bên trong đó đều chứa
đựng các yếu tố nhân văn rất tình người, được xử lý linh hoạt trên cơ sở
đoàn kết thương yêu. Đó chính là nhân lõi để giữ gìn sự gắn bó của cộng
đồng và bảo lưu các giá trị văn hóa độc đáo của người H’Mông.
II.6. Tục đổi tên mới:
Cũng như các dân tộc khác, người Mông đến tuổi trưởng thành được cha
mẹ làm lễ đặt tên mới và công nhận là người trưởng thành, từ đó mới được
lấy vợ và sinh con đẻ cái.
Người Mông chọn ngọn núi mà người Mông cho nó là cao nhất để tiến
hành cho các buổi lễ mang tính tâm linh, , đứng trên đỉnh ngọn núi người
ta có thể phóng tầm mắt nhìn ra cả xã, những bản khác có nằm trên núi cao
hơn khi đến đó vẫn phải leo ngược dốc mới lên được đến đỉnh. Trên ngọn
núi có một phiến đá to, người Mông coi nó như cha, mẹ nuôi của mình.
Nơi đây thường diễn ra lễ cầu cho những người tình duyên lận đận, số
phận không gặp nhiều may mắn và cầu cho cuộc sống được suôn sẻ, nhất
là đặt tên mới cho con cái mình phải được đến đó để nhận cha mẹ nuôi
mong khi trưởng thành người con sẽ thành đạt trong cuộc sống, xua đi ma
tà để con người được khỏe mạnh không bị bệnh tật đeo đuổi.
Lễ thay tên mới ( Chus khuas) thường được chọn làm vào buổi sáng những
ngày cuối tháng 11, 12 dương lịch, khi mặt trời đã nhô lên khỏi ngọn núi.

- Hương: 12 nén
- Giấy 4 tờ ( Cắt thành tiền)
- Một con lợn nhỏ
- Gạo, muối
Buổi lễ tết được diễn ra ngay ngày đầu năm mới. Mọi người mổ lợn cúng
chúc tết cha nuôi với và cảm ơn cha nuôi, cầu cho cuộc sống tâm linh của
chàng trai và gia đình mạnh khỏe…
Từ khi được mang tên mới chàng trai phải hai lần về chúc tết và cảm ơn
cha nuôi, thì mới hết nghĩa vụ của một người trưởng thành. Từ đó trở đi
mọi người trưởng thành sẽ được bình an trong cuộc sống. Cha nuôi sẽ xua
đuổi tà ma, xua đuổi những điều không may mắn để cuộc sống sau này con
được cuộc sống tươi đẹp hạnh phúc.
Đây là một nghi lễ quan trọng mà ở đây nó không thể thiếu trong đời sống
tâm linh của mỗi người Mông
III.KINH TẾ:
Khác với dân tộc Thái làm nông nghiệp là chính nương rẫy chỉ là phụ và
bổ sung. Còn người Hmông sống chủ yếu bằng cách du canh, đốt nương
làm rẫy, trồng ngô, lúa. Cây lương thực chính là ngô và lúa nương. Người
Hmông có truyền thống trồng xen canh cùng với cây trồng chính như: các
cây ý dĩ, khoai, rau, lạc vừng, đậu… ở một và nơi còn có ruộng bậc thang.
Chiếc cày của người Hmông rất nổi tiếng về độ bền và tính hiệu quả.
Ngoài ra còn trông cây lanh để lấy sợi dệt vải và trồng cây dược liệu, thuốc
phiện, cây ăn quả: táo, lê, đào, mận.
Họ phát triển các nghề thủ công như đan nát, rèn, làm yên cương ngựa, đồ
gỗ nhất là đồ đựng, làm giấy, bản đồ, trang sức bằng bạc phục vụ những
nhu cầu thị yếu của con người.
Người Hmông chăn nuôi gia súc như: ngựa, trâu, dê, chó,lợn. gà…


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status