VĂN HÓA DÂN TỘC TÀY Ở CAO BẰNG - Pdf 21

VĂN HÓA DÂN TỘC TÀY Ở CAO BẰNG
Dân tộc Tày là một cộng đồng thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái có số dân
khoảng 1.500.000 người, đông nhất trong các dân tộc thiểu số nước ta.
Dân tộc Tày còn có tên gọi khác là Thổ và bao gồm cả các nhóm: Ngạn,
Phén, Thu Lao, Pa Dí. Phần đông người Tày cư trú ven các thung lũng, triền núi
thấp ở các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Quảng Ninh và
một số vùng thuộc Bắc Giang v.v Người Tày có một nền nông nghiệp cổ
truyền khá phát triển với đủ loại cây trồng như lúa, ngô, khoai và rau quả mùa
nào thức đó.
Bản của người Tày thường ở chân núi hay ven suối. Tên bản thường gọi theo
tên đồi núi, đồng ruộng, khúc sông. Mỗi bản có từ 15 đến 20 nóc nhà. Bản lớn
chia ra nhiều xóm nhỏ. Nhà ở có nhà sàn, nhà đất và một số vùng giáp biên giới
có loại nhà phòng thủ. Trong nhà phân biệt phòng nam ở ngoài, nữ ở trong
buồng. Người Tày thường mặc quần áo vải bông nhuộm chàm, áo phụ nữ dài
đến bắp chân, ống tay hẹp, xẻ nách ở bên phải, cài 5 khuy.
Gia đình người Tày thường quí con trai hơn và có qui định rõ ràng trong quan
hệ giữa các thành viên trong nhà. Vợ chồng yêu thương nhau, ít ly hôn. Đã từ
lâu không còn tục ở rể.
Thờ cúng tổ tiên là nghi lễ tôn giáo hàng đầu của người Tày. Nơi thở tổ tiên
chiếm vị trí trung tâm, tôn nghiêm nhất trong nhà. Chiếc giường trước bàn thờ
để không, khách lạ không được ngồi, nằm lên đó. Ngoài ra, có những điều kiêng
kị như không đặt chân lên khúc củi đang cháy trong bếp lửa hay đặt chân lên
thành bếp. Những người đi đám ma về chưa tắm rửa sạch sẽ không được nhìn
vào gia súc, gia cầm. Người mới sinh con không được đến chỗ thờ tổ tiên
Người Tày có một nền văn nghệ cồ truyền phong phú, đủ các thể loại, thơ,
ca, múa nhạc, có cả múa rối. Tục ngữ, ca dao chiếm một khối lượng đáng kể.
Các điệu dân ca phổ biến nhất là hát lượn, hát đám cưới, ru con.
1
Người Tày mến khách, cởi mở, dễ làm quen và thích nói chuyện. Họ rất
trọng người cùng tuổi, khi đã kết nghĩa bạn bè thì coi nhau nhanh em ruột thịt,
bà con thân thích của mình.

Rượu của người Tày được làm bằng nguyên liệu là gạo, ngô, khoai, sắn, có khi
bằng cả mật mía, chuối quả Men dùng để ủ rượu thường làm từ các loại lá rừng
nên uống rất êm.
Với người Tày, rượu là cách để chủ nhà thể hiện lòng hiếu khách của mình.
Dù quen hay lạ, trước khi bắt đầu một câu chuyện bao giờ chủ nhà cũng mời
rượu. Có thể nói rượu của người Tày như “miếng trầu” để mở đầu câu chuyện
của người Kinh chúng ta. Điều đặc biệt trong các cuộc rượu của người Tày đó là
hiếm khi xảy ra hiện tượng quá chén dẫn đến mất tự chủ, xô xát nhau mà thường
kết thúc trong sự thân ái, vui vẻ.
Rượu không thể vắng mặt trong các sinh hoạt văn hoá cộng đồng của người
Tày, nó gắn với người Tày như một sự tất yếu. Trong các cuộc vui chung như lễ
hội, thoảng trong câu sli, câu lượn trao duyên của những đôi trai gái hay trong
những điệu nhảy của các chàng trai Tày luôn phảng phất men say nồng của
rượu.
Nghề dệt thổ cẩm của người Tày Cao Bằng
Không ai rõ nghề dệt thổ cẩm của người dân tộc Tày Cao Bằng có từ bao
giờ, mà chỉ biết những tấm vải thổ cẩm do chính họ dệt ra từ lâu đã nổi tiếng với
những hoa văn đẹp mắt, sặc sỡ, mang đậm sắc thái dân tộc.
Nguyên liệu chính để dệt thổ cẩm là sợi bông nhuộm chàm và tơ tằm nhuộm
màu. Tuy nhiên, do giá tơ tằm đắt nên ngày nay người dệt thổ cẩm dùng len có
chi phí thấp hơn để thay thế. Quy trình dệt thổ cẩm hoàn toàn thủ công và chính
đôi tay khéo léo và sự nhẫn nại của người phụ nữ Tày mà những tấm thổ cẩm
nên hình nên dạng vô cùng đặc sắc. Từ những tấm thổ cẩm tự tạo ấy người phụ
nữ Tày may thành mặt chăn, mặt địu, khăn trải giường và nhất là những bộ trang
phục đặc sắc của dân tộc.
Ở Cao Bằng, nghề dệt thổ cẩm phát triển mạnh ở xã Đào Ngạn, Phù Ngọc
(huyện Hà Quảng) và khu vực thị trấn Nước Hai (huyện Hoà An). Các sản phẩm
thổ cẩm hiện nay cũng khá phong phú, đường nét, màu sắc đẹp hơn và là món
3
quà lưu niệm ý nghĩa mà các du khách thường chọn mua để tặng người thân và

Lồng tồng vào dịp giêng hai.
Hát then trong sinh hoạt văn hoá thường nhật
Khi vui người ta mời then, khi nhà có chuyện mời Then, người có bệnh mời
Then, người hiếm muộn mời Then, Then không thể thiếu trong đời sống tinh
thần và tâm linh của người Tày, nó đã trở thành một trong số tín ngưỡng đặc thù
của cộng đồng tộc người này. Theo quan niệm của người Tày có ba tầng trời,
mỗi Mường đều có người sinh sống, trần sao âm vậy và họ tin khi tiếng đàn tính
cùng lời Then cất lên là lúc các ông Then đang bắt đầu cuộc hành trình với từng
đường Then dẫn quan quân đi khắp ba tầng trời. Trong tàng Then Thống Đẳm
(đưa đười chết về Mường trời), hay Pang Khoăn, Cấp Sắc, Cầu Hoa…đều thể
hiện rất rõ quan niệm ấy. Qua lời Then người nghe có thể biết được quan quân
của Then đã đến đâu trên Mường trời. Lời then cũng chỉ rõ đặc điểm của từng
bản ở Mường Trời nơi quan quân Then đang qua. Điệu then khi trầm khi bổng,
đôi lúc sôi động gấp gáp kết hợp với động tác mô phỏng cùng tiếng hò reo tạo
khí thế quyết tâm của quan quân Then đồng thời xuất hiện yếu tố thiêng. Đặc
biệt là trong Thống Đẳm, điệu hát cùng động tác lên ngựa hay đánh nhau với
thủy quái, vượt Khái… khiến người xem hồi hộp, nín thở. Khi lên ngựa Then
hát rằng: Phạt cờ khửn bưởng lăng tứn mạ/ Phạt cờ khửn bưởng nả tứn loan(phất
cờ về phía sau lên ngựa/ phất cờ về phía trước xuất quân) đồng thời tay Then mô
phỏng theo câu hát. Tiếng kèn mạy loi, tiếng trống mạy tảng reo lên, rồi cứ thế
đoàn quan quân Then đi hết từ pá nhả khâm thai đét (bãi trà may chết nắng),
rồi pá nhả lẹp thai mươi (bãi rau hẹ chết sương), đến ruộng rồi đến các bản trong
Mường trời. Lời then cứ thế thủ thỉ, sôi động rồi lại trầm buồn, ngẫm ngợi. Mỗi
bản một tâm trạng, một sắc thái, không khí. Có khi căng thẳng lo lắng, có lúc hồ
hởi vui tươi, tiếng đàn tiếng hát quyện với nhau hư ảo, tiếng xáu mạ rộn vang
đưa Then dần vào trạng thái tự thôi miên kiểu Shaman giáo của người Tungus ở
vùng Sibiri của Nga. Toàn bộ cuộc hành trình đưa linh hồn người chết về
Mường Đẳm đều gắn với đường Then Thống Đẳm, câu then khắc họa những vất
vả khó khăn của quan quân trên cuộc hành trình đó. Lời then khi đến chợ Tam
5

từ rất lâu đời, được truyền từ đời này sang đời khác trong cộng đồng người
dân tộc Tày, Nùng ở các tỉnh miền núi phía Bắc – Thái Nguyên, Cao Bằng,
Lạng Sơn và một số tỉnh Tây Bắc. Lễ hội của dân tộc Tày - Nùng ở Cao
Bằng diễn ra từ ngày 2 đến 30 tháng giêng âm lịch để mở mùa gieo trồng
mới (tùy theo từng địa phương).
Lễ hội Nàng Hai của dân tộc Tày
Hội được bắt đầu vào tháng giêng và kéo dài đến trung tuần tháng ba.Theo tín
ngưỡng dân gian dân tộc Tày thì trên cung trăng có Mẹ Trăng và mười hai nàng
tiên - con gái của mẹ. Mẹ cùng các nàng hằng năm chăm lo bảo vệ mùa màng
cho dân. Hội Nàng Hai được tổ chức với ý nghĩa tượng trưng các mẹ các nàng ở
dưới trần gian hành trình lên trời đón Mẹ Trăng và các nàng tiên xuống thăm
trần gian và giúp trần gian trong công việc làm ăn để sinh sống.
Đám cưới của người tày Cao Bằng
Đám cưới thường được tổ chức vào lúc chiều tối (tầm 4 -5 giờ trở đi). Cưới vào
giờ này không ảnh hưởng đến công việc trong ngày của mọi người, người ở xa
mấy núi cũng đến kịp. Hơn nữa, mọi người sẽ có thời gian ở chơi lâu hơn. Tiệc
cưới được chia làm hai tiệc. Tiệc thứ nhất dành cho người lớn tuổi, bậc cha chú,
anh em họ hàng. Tiệc thứ hai dành cho nam nữ thanh niên, bạn bè gần xa của cô
dâu chú rể. Tiệc này bắt đầu vào khoảng 7-8 giờ đêm. Ăn uống xong, mọi người
vẫn ở lại. Người lớn ngồi uống nước, hàn huyên với gia chủ. Thanh niên, đám
thì tổ chức lày cỏ (một trò chơi như kiểu oẳn tù tì, người thua sẽ bị uống rượu
7
phạt), đám thì bên trai bên gái hát lượn với nhau. Cuộc vui ồn ã, kéo dài thâu
đêm, mờ sáng mới tan.
Theo phong tục, mọi chi phí tổ chức đám cưới của nhà gái đều do nhà trai lo
liệu hết: tiền mặt, lợn, gà, gạo, rượu… Điều đó có ý nghĩa là nhà trai tỏ lòng biết
ơn, mong đền đáp phần nào công lao dưỡng dục của bố mẹ cô gái. Nhà gái sẽ
trích ra một số tiền để sắm sửa tư trang, cho con gái làm của hồi môn: quần áo
mới, vòng bạc, xà tích bạc, chăn màn thổ cẩm, chiếu hoa… và những đồ gia
dụng khác. Còn rượu, thịt, gạo nếp, gạo tẻ sẽ dùng làm cỗ để mời họ hàng, làng

Tục gọi đó là lễ slam nâư (ba ngày)- hiểu nôm na là lễ lại mặt.
Theo cách giải thích của những người cao tuổi thì sở dĩ có tục này là bởi trước
và trong ngày cưới chú rể sẽ rất mệt mỏi vì phải lo nhiều việc, nhất là phải uống
rất nhiều rượu mừng của mọi người, nếu động phòng ngay thì sẽ không có lợi.
Nhưng cô dâu cũng chỉ ở nhà chồng chừng dăm bảy ngày, sau đó lại quay về
sống với bố mẹ đẻ. Bởi theo phong tục của người Tày, khi nào con dâu có con
mới được về ở hẳn nhà chồng. Chính vì thế mới có chuyện, cứ dăm bữa nửa
tháng, mẹ chồng lại cho gọi con dâu về với những lý do: giúp nhổ mạ, cấy lúa
hay xay lúa, giã gạo hộ mẹ… Tóm lại là kiếm đủ cớ để gọi con dâu về, mục đích
là để đôi trẻ có dịp gần gũi nhau, để bà mau có cháu bế. Khi cô gái có mang, gần
đến ngày khai hoa mãn nguyệt, nhà chồng mới đón về để sinh nở. Có con rồi cô
gái mới chính thức về nhà chồng, được giao chìa khóa tay hòm, gánh vác mọi
công việc.
Ở một số huyện của tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, đồng bào Tày còn có tục
cưới vắng mặt chú rể. Nếu chú rể vì một lý do nào đó mà vắng mặt trong ngày
cưới, nhà trai sẽ chọn một người thế vai chú rể, gọi là rể giả (khươi chả). Người
làm rể giả phải là trai tân, khỏe mạnh, có đạo đức… thường là con cháu trong
nhà hoặc là bạn thân của chú rể. Rể giả sẽ cùng họ nhà trai đi đón dâu, cùng cô
dâu ra mắt hai họ… Cốt là để cô dâu không phải lẻ bóng trong ngày cưới. Tục
này có từ bao giờ cũng không rõ, chỉ biết những năm đất nước còn chiến tranh,
tục này diễn ra khá phổ biến. Những chàng trai do bận công tác đột xuất, đi bộ
đội đóng quân ở xa, ngày cưới của mình không về được cũng không sao. Ở nhà,
đám cưới vẫn được tổ chức bình thường, chu đáo; mà cũng không vì thế mà mất
9
vui. Và những chàng rể vắng mặt đó vẫn yên tâm về người vợ mới cưới của
mình.
Cùng với thời gian và sự phát triển của xã hội, nhiều tập tục trong việc cưới
xin của người Tày cũng có sự thay đổi, không còn nguyên như xưa nữa. Ví như
bây giờ người con gái không còn phải đợi đến khi có con mới về nhà chồng,
hoặc nhà gái cũng không còn đòi hỏi nhà trai quá nặng về vật chất… Việc cưới


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status