Nguyễn Hải Bình
I. T ây Nguyên
(*)
Theo địa lý hành chính hiện nay, Tây Nguyên
gồm có năm tỉnh, kể từ bắc vào nam : Kontum,
Gia Lai, Đắc Lắc, Đắc Nông, Lâm
Đồng.Tây Nguyên là một tiểu vùng, cùng với
vùng Duyên hải Nam Trung Bộ hợp
thành vùng Nam Trung Bộ,
thuộc Trung Bộ Việt Nam. Thời Việt Nam
Cộng hòa, nơi đây được gọi là Cao nguyên
Trung phần. Hiện nay đôi khi được gọi là Cao
nguyên Trung Bộ. Trước đó, thời Bảo
Đại làm Quốc trưởng, vùng đất này còn được hưởng quy chế riêng là
vùng Hoàng triều Cương thổ.
1. Vị trí địa hình
Tây Nguyên là vùng cao nguyên, phía
bắc giáp tỉnh Quảng Nam, phía đông
giáp các tỉnh Quảng Ngãi, Bình
Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh
Thuận,Bình Thuận, phía nam giáp các
tỉnh Đồng Nai, Bình Phước, phía
tâygiáp với các tỉnh Attapeu (Lào)
và Ratanakiri và Mondulkiri (Campuchia).
(*). Tổng quát về Tây Nguyên - Nguồn: />%C3%AAn
1
Nguyễn Hải Bình
Trong khi Kon Tum có biên giới phía tây giáp với cả Lào và Campuchia,
thì Gia Lai, Đắk Lắk và Đắk Nông chỉ có chung đường biên giới với
Campuchia. Còn Lâm Đồng không có đường biên giới quốc tế. Tổng diện
tích của 5 tỉnh ở đây rộng 54.639 km
không giữ nước, nước mưa trượt đi trên bề mặt, , trong đó tháng 3 và
tháng 4 là hai tháng nóng và khô nhất, về mùa khô Tây Nguyên gần như
hoàn toàn không có nước. Do ảnh hưởng của độ cao nên trong khi ở các
cao nguyên cao 400-500 m khí hậu tương đối mát và mưa nhiều, riêng cao
nguyên cao trên 1000 m (như Đà Lạt) thì khí hậu lại mát mẻ quanh năm
như vùng ôn đới.
3. Quá trình hình thành của Tây Nguyên
Vùng đất Tây Nguyên từ xưa vốn là vùng đất tự trị, địa bàn sinh sống của
các bộ tộc thiểu số, chưa phát triển thành một quốc gia hoàn chỉnh. Do đất
rộng, người thưa, các bộ tộc thiểu số ở đây thỉnh thoảng trở thành nạn
nhân trước các cuộc tấn công của vương quốc Champa hoặc Chân
Lạp nhằm cướp bóc nô lệ. Tháng 2 năm Tân Mão niên hiệu Hồng Đức thứ 2
(1471), vua Lê Thánh Tông thân chinh đi đánh Chiêm Thành, phá được
thành Chà Bàn, bắt sống vua Chăm Pa là Trà Toàn, sáp nhập 3 phần 5 lãnh
thổ Chăm Pa thời đó vào Đại Việt. Hai phần Chăm Pa còn lại, được Lê
Thánh Tông chia thành các tiểu quốc nhỏ thuần phục Đại Việt. Phần đất
Phan Lung (tức Phan Rang ngày nay) do viên tướng Chăm là Bồ Trì trấn
giữ, được vua Lê coi là phần kế thừa của vương quốc Chiêm Thành. Một
phần đất nay là tỉnh Phú Yên, Lê Thánh Tông phong cho Hoa Anh vương
tạo nên nước Nam Hoa. Vùng đất phía Tây núi Thạch Bi, tức miền bắc Tây
3
Nguyễn Hải Bình
Nguyên ngày nay được lập thành nước Nam
Bàn, vua nước này được phong là Nam Bàn
vương.
Sau khi Nguyễn Hoàng xây dựng vùng cát
cứ phía Nam, các chúa Nguyễn ra sức loại
trừ các ảnh hưởng còn lại của Champa và cũng phái một số sứ đoàn để
thiết lập quyền lực ở khu vực Tây Nguyên. Các bộ tộc thiểu số ở đây dễ dàng
chuyển sang chịu sự bảo hộ của người Việt, vốn không có thói quen buôn
hàng loạt các cuộc thám hiểm và chinh phục vùng đất Tây Nguyên. Trước
đó, các nhà truyền giáo đã đi tiên phong lên vùng đất còn hoang sơ và chất
phác này.
Năm 1888, một người Pháp gốc đảo Corse tên là Mayréna sang Đông
Dương, chọn Dakto làm vùng đất cát cứ và lần lượt chinh phục được các bộ
lạc thiểu số. Ông ta thành lập Vương quốc Sedangcó quốc kỳ, có giấy bạc, có
cấp chức riêng và tự mình lập làm vua tước hiệu Marie đệ nhất. Nhận thấy
được vị trí quan trọng của vùng đất Tây Nguyên, nhân cơ hội Mayréna về
châu Âu,chính phủ Pháp đã đưa công sứ Quy Nhơn lên “đăng quang” thay
Mayresna. Vùng đất Tây Nguyên được đặt dưới quyền quản lý của Công sứ
Quy Nhơn. Sau đó vài năm, thì vương quốc này cũng bị giải tán.
Năm 1891, bác sĩ Alexandre Yersin mở cuộc thám hiểm và phát hiện ra cao
nguyên Lang Biang. Ông đã đề nghị với chính phủ thuộc địa xây dựng một
thành phố nghỉ mát tại đây. Nhân dịp này, người Pháp bắt đầu chú ý khai
5
Nguyễn Hải Bình
thác kinh tế đối với vùng đất này. Tuy nhiên, về danh nghĩa, vùng đất Tây
Nguyên vẫn thuộc quyền kiểm soát của triều đình Đại Nam. Vì vậy, năm
1896, khâm sứ Trung kỳ Boulloche đề nghị Cơ mật viện triều Nguyễn giao
cho Pháp trực tiếp phụ trách an ninh tại các cao nguyên Trung kỳ. Năm
1898, vương quốc Sedang bị giải tán. Một tòa đại lý hành chính được lập
ở Kontum, trực thuộc Công sứ Quy Nhơn. Năm 1899, thực dân Pháp buộc
vua Đồng Khánh ban dụ trao cho họ Tây Nguyên để họ có quyền tổ chức
hành chính và trực tiếp cai trị các dân tộc thiểu số ở đây.
Năm 1900, Toàn quyền Paul Doumer đích thân thị sát Đà Lạt và quyết định
chọn Đà Lạt làm thành phố nghỉ mát. Vùng đất cao nguyên Trung kỳ (Tây
Nguyên) hoàn toàn thuộc quyền cai trị của chính quyền thực dân Pháp.
Năm 1907, tòa đại lý ở Kontum đổi thành tòa Công sứ Kontum, cùng với
việc thành lập các trung tâm hành chính Kontum và Cheo Reo. Những thực
dân người Pháp bắt đầu lên đây xây dựng các đồn điền đồng thời cũng
với cơ quan chính quyền ước lượng dân số Tây Nguyên thực tế vào khoảng
5,5 đến 6 triệu người.
Trước 1975, Chính quyền Việt Nam Cộng hòa chia Cao nguyên Trung Phần
thành các tỉnh: Kontum, Pleiku, Phú Bổn, Darlac, Quảng Đức, Tuyên
Đức và Lâm Đồng với tổng cộng gần một triệu dân với 50% dân số tập
trung vào hai tỉnh Darlac và Tuyên Đức. Từ 1976 đến đầu thập niên 1990,
Tây Nguyên gồm 3 tỉnh là Gia Lai-Công Tum, Đắc Lắc, Lâm Đồng. Sau đó
tỉnh Gia Lai-Công Tum được chia thành hai tỉnh: Gia Lai và Kon Tum (thay
7
Nguyễn Hải Bình
đổi cả cách viết chính thức tên tỉnh). Tỉnh Đắc Lắc chia thành hai tỉnh: Đắk
Lắk và Đắk Nông.
Hiện tại, địa bàn Tây Nguyên có 5 tỉnh là Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk
Nông, Lâm Đồng.
II. Văn hóa- phong tục lễ hội
1. Bản sắc văn hóa Tây Nguyên
(*)
Là nơi hội tụ nhiều nét văn hoá truyền thống của đồng bào các dân tộc Êđê,
Jarai, M’nông… cùng với những phong tục, tập quán, lễ hội đã tạo cho Tây
Nguyên trở thành vùng văn hóa dân gian đa dạng và đặc sắc.
Các lễ hội của đồng bào dân tộc Tây Nguyên ra đời từ niềm tin mãnh liệt
vào thần linh mà họ thường vẫn gọi là Yàng nên mang tính cộng đồng rất
cao. Các nghi lễ, lễ hội vừa là những sinh hoạt văn hoá có tác dụng to lớn
trong việc củng cố và tăng cường sức mạnh của tình đoàn kết, sự gắn bó
của cộng đồng nhưng cũng đồng thời tạo môi trường diễn xướng của nhiều
nhạc cụ dân tộc như: K’ni, Brố, đinh Tăk Tà, đinh Tút, đinh Năm Ở đây có
những nghi lễ, lễ hội đặc sắc, độc đáo như: lễ trưởng thành, lễ bỏ mả, lễ
cúng bến nước, mừng lúa mới, nhà mới, lễ rước Kpan mang đậm nét văn
hóa riêng của dân tộc Tây Nguyên .
Âm nhạc của Tây Nguyên cũng thật đặc sắc với tiếng đàn T’rưng, đàn Klông
Nguyễn Hải Bình
xã hội. Luật tục đề cập tới nhiều vấn đề khác nhau trong đời sống
tộc người từ môi trường tự nhiên, quan hệ sản xuất và sở hữu, tổ chức và
các quan hệ xã hội, phong tục tập quán, hôn nhân và gia đình…
- Xã hội truyền thống của các dân tộc Ê Đê, M Nông, Gia Rai… là xã hội mẫu
hệ.
Dòng họ mẹ thống trị mọi mặt trong đời sống xã hội như quyền thừa kế tài
sản, hôn nhân và gia đình.
Do vậy, luật tục là công cụ hữu hiệu để bảo vệ xã hội mẫu hệ, khẳng định
vai trò của dòng họ nữ, khẳng định vị trí to lớn của người phụ nữ trong xã
hội.
Trong luật tục Ê Đê, mọi của cải trong gia đình do người phụ nữ quản lý,
giữ gìn cho tổ tiên dòng họ.
Luật tục nói rõ : “Dù là cái chén sứ con, cái bát đồng nhỏ hay những đồ lặt
vặt cũng không được cả gan đem bán đi để ăn mà phải mãi mãi cất giữ.
Từ những cái gùi Gia Rai (có nắp đậy) đến những cái sọt, cái túi, cái nải và
những đồ lặt vặt, người chị cả đại diện cho người mẹ là người có nhiệm vụ
chăm nom, giữ gìn.
Tất cả những cái bát vỏ bầu, cái thúng đựng tro, cái hòn để mài, các cái trã
để luộc rau, người chị cả là người phải bảo quản.
Các ché tuk đỏ, các ché êbak Mnông, các vòng đeo tay, các chén bát đẹp
bằng bạc bằng vàng là những của cải quý giá do tổ tiên xưa kia giàu có để
lại, chính người chị cả là người phải giữ gìn”
(1)
.
10
Nguyễn Hải Bình
Tài sản trong gia đình đều thuộc về quyền quản lý của người mẹ hay người
đại diện cho mẹ là chị cả. Việc thừa kế tài sản chỉ thực hiện theo dòng họ nữ.
Khi vợ chết, mọi của cải và cả con cái đều thuộc về phía gia đình vợ (dì, bà
Ngay cả những người làm mai mối cũng không có quyền ép buộc : “Nếu anh
bằng lòng lấy người ta thì cái vòng đồng để trên chiếu anh hãy cầm lấy.
Chúng tôi là người hỏi người mối, chúng tôi không cầm trao tận tay anh
đâu kẻo mai kia anh lại bảo những người mối kia ép anh”
(2)
.
Nhìn chung, hôn nhân trong xã hội mẫu hệ theo chế độ một vợ một chồng.
Thế nhưng trong cuộc sống, những kẻ có thế lực, giàu có lại muốn lấy nhiều
vợ. Trong trường hợp này, người chồng phải thực hiện việc đền bù vật chất
cho vợ cả :
Ché tặng bên vợ phải đủ
Của tặng bên vợ phải đủ
Của chuộc vợ phải đầy đủ
(3)
Người phụ nữ có quyền đòi người chồng nộp đầy đủ của cải đền bù về việc
vi phạm phong tục truyền thống của mình.
Ở người Ê Đê, tục “nối nòi” (chuê nuê) được luật tục bảo vệ nghiêm ngặt,
cũng giống như : “Dầm nhà gãy thì phải thay, dát sàn nát thì phải thế. Chết
người này thì phải nối bằng người khác”
(4)
. Theo đó, khi chồng chết, người
đàn bà có quyền đòi hỏi nhà chồng một người em trai chồng để nối nòi.
Ngược lại, người vợ chết, người chồng cũng có thể lấy em gái của vợ để nối
nòi.Cũng có khi tục nối nòi truyền thống vượt ra ngoài phạm vi hôn nhân
12
Nguyễn Hải Bình
chị em vợ và hôn nhân anh em chồng. Chẳng hạn, khi cậu (amiêt) chết thì
nối lại bằng cháu (a muôn), bà (a chuôn) chết cũng được nối lại bằng cháu.
Tập quán của người Gia Rai không để cho người đàn bà chịu cảnh góa bụa,
nhân hợp với phong tục, trị tội những kẻ làm trái, làm cản trở hôn nhân,
đồng thời lên án, phê phán quyết liệt những cuộc hôn nhân không theo
phong tục như cưới xin không báo cho buôn làng, không nộp đủ đồ lễ
cưới… Còn nếu người chồng có ý định ly hôn thì việc đầu tiên anh ta phải
nộp của cải, đền bù vật chất theo nguyên tắc một đền hai :
Kẻ nào gây ra việc này
Phải đền thịt, rượu cần, lễ cưới
Đồ vật một nó phải trả hai
Chém con trâu làm lễ ly hôn
Đối với những người chồng lười biếng, không chăm sóc vợ con, thì luật tục
cho phép người vợ có quyền đi lấy chồng khác và tất nhiên, mọi của cải
thuộc về người phụ nữ :
Lợn cưới sẽ mất
Ché cưới sẽ mất
Nhà chồng không được thắc mắc
Nhà chồng không được bắt tội
Sau đó vợ có quyền đi lấy chồng khác
(3)
.
Lễ trao vòng (ba kông hay dja kông) của người Gia Rai tương tự như lễ
dạm hỏi của người Kinh (Việt), nhưng có ý nghĩa quan trọng hơn. Lễ này do
nhà gái tiến hành, chủ động sang phía nhà trai dạm hỏi. Sau lễ trao vòng,
đôi trai gái đã có thể ở với nhau với điều kiện không được có con trước khi
tổ chức lễ cưới chính thức. Việc trả vòng đồng nghĩa với việc từ chối đám
14
Nguyễn Hải Bình
cưới và lúc này, hai bên có thể tự do tìm bạn tình mới, giao ước hôn nhân
giữa hai gia đình coi như được xóa bỏ. Luật tục bênh vực quyền lợi chính
đáng của người phụ nữ :
Của cải tôi sẽ lấy lại
(2)
Những quy định xử phạt nặng của luật tục đối với người chồng đã hạn chế
tình trạng bỏ bê vợ con, chểnh mảng công việc làm ăn, hạn chế tình trạng ly
hôn trong cộng đồng các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên. Điều đó có tác
động tích cực trong việc củng cố quan hệ vợ chồng, gia đình, bảo vệ lợi ích
của người phụ nữ.Luật tục các dân tộc thiểu số có nhiều điều bênh vực
quyền và lợi ích của người phụ nữ.
(1),(2) Phan Đăng Nhật : Luật tục Gia Rai, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999, tr 324, 401
Điều này thể hiện rất rõ trong những vụ xét xử có liên quan đến người phụ
nữ, thì ý kiến của họ thường được khoa phạt kđi (người xử kiện) coi trọng.
Luật tục Ê Đê có câu : “Êbuh mniê djê êkei” (con gái ngã là con trai chết).
Theo đó, nếu người phụ nữ đã khai thì dù có hay không, người đàn ông
cũng bị quy tội là đã có quan hệ bất chính với chị ta.
Tiếp đó, nếu người đàn ông có vợ sẽ bị vợ phạt. Nói chung, người ta tin lời
nói của người phụ nữ, mặc dù có khi sự thật là không có. Trong vấn đề ly
hôn, lỗi của người phụ nữ bao giờ cũng được đánh giá nhẹ hơn so với đàn
ông. Khi giải quyết các vụ kiện ly hôn, người ta vẫn có những quy định ưu
tiên quyền lợi của phụ nữ.
Tập tục của người Ê Đê, Gia Rai cho phép người phụ nữ có quyền “đi bước
nữa” trong trường hợp người phụ nữ đó có chồng đi vắng lâu năm, không
16
Nguyễn Hải Bình
còn chờ đợi được nữa. Trường hợp khác, khi người chồng bị cầm tù hay bị
bắt làm nô lệ, luật tục không bắt buộc người vợ phải chờ mà có thể đi lấy
chồng khác.
Điều này được luật tục Êđê biện luận như sau : “Chị ta đã mòn mỏi trông
chờ, đã già đi, công việc nương rẫy lại không có người làm. Chòi không có ai
đi thăm, rẫy không có ai đi phát, con két, con vẹt không có ai xua đuổi. Chị
ta đã chờ hết năm này qua năm khác, hết mùa khô này đến mùa khô khác.
Trong trường hợp họ hàng không còn ai thì buôn làng vận động người
khác nhận làm con nuôi. Điều đó thể hiện sự quan tâm của gia đình và cộng
đồng làng buôn đối với trẻ em.Trách nhiệm nuôi nấng, chăm sóc trẻ em là
bổn phận của bậc làm cha mẹ, gia đình và cộng đồng làng buôn. Tập quán
của đồng bào các dân tộc phê phán những ông bố, bà mẹ không làm trọn
bổn phận của mình, thậm chí còn bỏ rơi con trẻ :
Ống cháo sao bỏ bãi cỏ
Ống cá sao bỏ giữa buôn
(1) Phan Đăng Nhật : Luật tục Gia Rai, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999, tr 348
Có con sao bỏ cho ai
Cha mẹ bỏ rơi con, có tội
(1)
Đối với những đứa trẻ lang thang, cơ nhỡ do nhiều hoàn cảnh khác nhau xô
đẩy, có thể do cha mẹ chúng vô trách nhiệm, không thể nuôi nổi chúng vì
quá nghèo khổ hoặc rơi vào hoàn cảnh éo le cha mẹ không may bị mất sớm
khi tuổi chúng hãy còn nhỏ dại, luật tục cho phép quyền được nhận con
nuôi :
Tôi thấy chuột ở ngoài rừng
Thấy kỳ nhông ở ngoài làng
18
Nguyễn Hải Bình
Thấy mang ở trong bụi cây
Thấy rái cá ở trong nước
Thấy vượn ở trên núi
Đến cửa nhà tôi
Tôi phải nuôi nấng chúng thôi
(2)
Luật tục cho phép mọi người dân có quyền nhận người khác làm con nuôi
luật hiện hành. Điều đó thể hiện trách nhiệm chung của cộng đồng làng
buôn, của gia đình đối với trẻ em.
Một trong những tội bị luật tục lên án gay gắt nhất, mạnh mẽ nhất là tội
hãm hiếp trẻ con và được khép vào loại tội lớn nhất, dơ dáy nhất mà không
một vật chất nào đền bù thỏa đáng :
Hãm hiếp trẻ con là tội lớn
Trả bằng trâu chưa khớp
Trả bằng ché chưa đúng
Trả bản thân cũng chưa xong
(1) Ngô Đức Thịnh : Luật tục M Nông, nxb chính trị quốc gia, Hà Nội,1998, tr 512
Luật tục coi tội hãm hiếp trẻ con là tội không thể xóa sạch : Hãm hiếp trẻ
con xóa không sạch
(1)
.
- Tập tục truyền thống của các dân tộc có nhiều điều đề cập đến quyền của
người phụ nữ và trẻ em. Nhiều điều quy định đến nay vẫn có giá trị và phù
hợp với pháp luật Nhà nước. Tuy nhiên, bên cạnh những điều luật đề cao và
bênh vực người phụ nữ thì còn không ít những tập tục tỏ ra không phù hợp,
20
Nguyễn Hải Bình
thậm chí lạc hậu. Có những tập tục xử phạt người phụ nữ quá nặng như tội
ngoại tình, loạn luân, hay quan hệ tình dục trước hôn nhân.
Chẳng hạn, dân tộc Xê Đăng cư trú ở huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum quy
định, nếu phụ nữ có thai trước khi cưới sẽ bị phạt heo và rượu để cả buôn
làng cùng uống.
Còn theo tập quán của người Xê Đăng ở huyện Kon Plông, nếu người phụ
nữ có thai trước khi cưới thì gia đình, họ hàng, buôn làng không giúp đỡ
mà hai người tự tổ chức lấy, trường hợp không cưới sẽ bị phạt một con bò
và 10 ché rượu
(2)
lửa làm cho cơm lam có một hương vị đặc biệt, hơn hẳn cơm nếp nấu trong
chõ, trong nồi.
Thịt là thực phẩm chủ yếu trong các món ăn ngày Tết. Người Tây Nguyên
làm lông con vật bằng cách thui đốt. Họ không chế biến được các món ăn
đặc biệt như ở miền xuôi. Đáng chú ý là món nướng và làm món như tiết
canh, nem sống ở dạng thô sơ. Những món ăn này dùng để khoản đãi hay
để dâng cúng thần linh.
(*). Ẩm thực trong ngày lễ tết ở Tây Nguyên
/>Tay-Nguyen.aspx
Ngoài ra, họ còn dùng phèo lấy từ ruột con vật bốn chân để chế biến món
ăn là một đặc điểm trong cách thức ngả món của đồng bào Gia Rai, Ba Na.
Kỹ thuật băm sống và trộn bóp đóng vai trò quan trọng tạo ra nhiều món
từ thịt trâu bò, dê, nguồn thịt chính trong lễ hiến tế thần linh. Có món thịt
bóp với phèo. Có món thịt băm nhỏ trộn với muối đựng trong ống tre. Có
22
Nguyễn Hải Bình
món thịt trộn với phèo rồi gói lá. Có món thịt trộn với tiết, phèo và muối ớt
để trên lá. Có món thịt, ruột non, gan, ruột già hỗn hợp đựng trong ống tre.
Lại có món thịt băm, tiết, phèo, muối ớt trộn nhuyễn. Da bóp với phèo cũng
thành một món. Món thường gặp là gan và lá sách thái miếng xiên xen kẽ
vào que tre để nướng.
Trong các món ăn kể trên họ đều dùng thịt sống, tuy không được nấu
nướng nhưng có thể phèo là nguyên liệu có tác dụng làm tái các loại thịt
tươi, giống như thính gạo trong món nem của người Kinh. Hơn nữa, tất cả
những món sống ấy bao giờ cũng làm thành món đưa cay. Rượu cần là đồ
uống không thể thiếu được trong các ngày lễ Tết. Thức nhắm, thậm chí
được đặt gần bên các ghè rượu, có lót lá chuối đặt vào chiếc rá (rổ) để thực
khách vừa nhâm nhi thưởng thức vừa chuyện trò, thỉnh thoảng đưa tay bốc
một nhúm thức ăn đưa lên miệng
Cùng với món sống, họ cũng làm các món nấu chín theo tập tục lâu đời.
khách xa đến chơi.Đặc biệt là trong những lễ nghi phục vụ cho sản xuất
nông nghiệp, những lễ hội của cả buôn làng.
Gia đình hay buôn làng nào “có việc” như vậy, liền được sự đóng góp của cả
họ hàng, cả buôn. Mọi gia đình đều chuẩn bị ghè rượu to nhất, ngon nhất
của mình để đem tới góp chung.
(*)Phong tục uống rượu cần của người Tây Nguyên – Nguồn:
/>Vừa xẻ chia, giúp đỡ, vừa tạo nên tình cảm gắn bó, thân tình đầm ấm trong
cộng đồng.
24
Nguyễn Hải Bình
Để có được ché rượu, phải tiến hành nhiều công đoạn, từ chuẩn bị nguyên
liệu đến cách thức chế biến, tính toán thời gian phù hợp, sao cho vừa kịp xử
dụng… để ghè rượu đạt chất lượng cao nhất.Gia đình Tây nguyên nào cũng
biết làm rượu cần, nhưng tỷ lệ lại là bí quyết riêng chỉ được phép truyền
trong mỗi nhà.Do đó rượu được tạo ra bởi những hương vị khác nhau theo
sở thích của từng gia đình. Tuy nhiên có một điều ai cũng phải tuân theo
là : trong thời gian làm men rượu, kể cả làm rượu, phải giữ cho thân thể
được sạch sẽ, nhất là vợ chồng không được quan hệ sinh lý với nhau. Đồng
bào cho rằng như thế sẽ ảnh hưởng đến chất lượng, hương vị cuả men
rượu.
1) Cách thức làm rượu cần
Để có được ghè rượu, phải tiến hành nhiều công đoạn, từ chuẩn bị nguyên
liệu đến cách thức chế biến, tính toán thời gian sử dụng cho phù hợp để
rượu đạt chất lượng cao nhất.
Rượu có thể làm quanh năm, nhưng men để làm rượu không phải lúc nào
cũng làm được.
* Người Xê Đăng ở Kon tum chỉ làm men rượu một lần, vào một ngày duy
nhất trong năm, gọi là “ hăl pro plao “ (ngày làm men).
Sau khi đã thu hoạch xong mùa màng (khoảng tháng 11, 12 dương lịch),
người ta chọn ngày tốt và làm lễ cúng với một con gà, một ché rượu nhỏ để