LUẬN ÁN: Tìm hiểu nền văn hóa phong kiến Nhật Bản (Từ thế kỷ VII đến cuối thế kỷ XIX) - Pdf 15

II LUẬN ÁN:

Tìm hiểu nền văn hóa phong kiến
Nhật Bản (Từ thế kỷ VII đến cuối
thế kỷ XIX)
mất bản thân, chẳng những không thể đóng góp cho nền văn hóa chung của nhân loại mà
còn trở thành bản sao mờ nhạt của dân tộc khác.
Chính bởi vậy, nhận thức đúng về văn hóa là một điều kiện không thể thiếu trong
việc trang bị hành trang tiến vào tương lai. Để bước sang thế kỷ XXI này, làm cho mối
quan hệ sâu sắc hơn theo tinh thần "Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trong
cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình độc lập và phát triển" cũng như mối quan hệ
giữa Việt Nam và Nhật Bản nói riêng cần phải phát huy hơn nữa thì việc tăng cường sự
hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc và nhân dân Việt Nam - Nhật Bản là điều cần thiết.
Bằng những ý nghĩa thực tiễn như trên, chúng tôi chọn đề tài "Tìm hiểu nền
văn hóa phong kiến Nhật Bản (Từ thế kỷ VII đến cuối thế kỷ XIX)" làm đề tài nghiên
cứu.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Trong thời đại ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế - xã hội của các
quốc gia dân tộc thì việc tìm hiểu, giao lưu văn hóa giữa các Quốc gia với nhau trở thành
một vấn đề quan trọng. Cũng như nhiều quốc gia khác, đặc biệt là sự thành công về kinh
tế của Nhật Bản sau những thập kỷ chiến tranh thế giới thứ hai đã thu hút sự quan tâm
của các quốc gia trên thế giới và khu vực. ở Việt Nam, việc nghiên cứu Nhật Bản đã
được quan tâm từ lâu và đã có những công trình được xuất bản, những bài đăng trên tạp
chí.

Cùng với quá trình đổi mới, sự quan tâm của các nhà lãnh đạo và nhân dân Việt
Nam ngày càng tăng. Đặc biệt là hiện nay, mối quan hệ Nhật Bản - Việt Nam ngày càng
được tăng cường thì nhu cầu tìm hiểu về Nhật Bản càng trở nên cần thiết.
Vì thế, khi nghiên cứu về Nhật Bản đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể, một số
các tác giả đã có những công trình nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực. Trong đó nghiên cứu
về văn hóa như chữ viết, văn học, nghệ thuật, tôn giáo, tín ngưỡng cũng đã được nhiều
tác giả đề cập đến. Tiêu biểu như: Năm 1989 tác giả Hữu Ngọc trong cuốn "Hoa Anh
Đào và điện tử" đã có nhiều gợi ý về những thành tựu đã đạt được của nền văn hóa đó
qua các giai đoạn lịch sử. Năm 1990 San Som tác giả của hai tập "Lược sử văn hóa Nhật
Bản" đã miêu tả sơ lược về nguồn gốc và những đặc điểm của tín ngưỡng dân tộc ở

Tồn tại" [4].
Các công trình nghiên cứu trên là những tư liệu quý có ý nghĩa quan trọng trong
việc gợi ý, hướng dẫn chúng tôi thực hiện đề tài.
Như vậy, vấn đề mà đề tài đặt ra còn mới mẻ. Theo suy nghĩ của chúng tôi,
nghiên cứu để góp thêm một ý kiến nhằm đáp ứng phần nào đó về nhu cầu tìm hiểu nền
văn hóa phong kiến Nhật Bản là điều cần thiết và bổ ích.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích của đề tài là nghiên cứu, tìm hiểu về nền văn hóa thời phong kiến Nhật
Bản, nhằm nâng cao hơn nữa về sự hiểu biết nền văn hóa, và những nét truyền thống nổi
bật của đất nước Nhật Bản.
Để thực hiện được mục đích đó, chúng tôi đã nghiên cứu về các vấn đề văn hóa
như chữ viết, văn học, nghệ thuật, tôn giáo, tín ngưỡng thông qua các giai đoạn lịch sử,
thiết chế chính trị thời phong kiến Nhật Bản. Qua việc nghiên cứu cho thấy, quá trình
hình thành và phát triển Nhật Bản nói chung, là một dân tộc gặp nhiều khó khăn. Do sự
tác động của điều kiện địa lý cũng như chịu sự ảnh hưởng nền văn hóa bên ngoài. Nhưng
nhân dân Nhật Bản đã tự vượt qua mọi khó khăn, từng bước vươn lên trở thành một biểu
tượng của một quốc gia phát triển nhất ở phương Đông thời hiện đại. Quá trình ảnh
hưởng, tiếp thu và xây dựng đó là cơ sở cho đề tài chúng tôi cần nghiên cứu.
Chúng tôi hy vọng rằng, đề tài thành công sẽ đóng góp một phần nhỏ bé vào việc
nghiên cứu, trao đổi với nhau trong mối quan hệ giữa hai nền văn hóa Nhật Bản và Việt
Nam. Theo mục tiêu thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế, văn hóa mà Hội nghị lần thứ 5
Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đề ra.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài chúng tôi đã sử dụng kết hợp các phương pháp
sau:
- Nghiên cứu lịch sử là phương pháp quan trọng. Sử dụng phương pháp này dựa
trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu sự thật, cụ thể. Bao gồm các tài liệu có liên quan về văn
hóa thời phong kiến Nhật Bản như: Văn học, nghệ thuật, kiến trúc, hội họa, tôn giáo và
tín ngưỡng

0
33 đến 20
0
25. Nhật Bản có tổng diện tích là 377.815km
2
. Tuy là một quần
đảo nhưng nó chỉ có 4 đảo lớn, theo thứ tự từ Bắc xuống Nam là: Hokkaido (Bắc Hải
đảo); Honshu (Bản đảo hay Bản Châu); Shikoku (Tứ quốc); Kyushu (Cửu Châu).
Xét về mặt địa lý, Nhật Bản nằm ở một vị trí biệt lập cách xa đại lục, khoảng
cách từ Nhật Bản đến Trung Quốc là 800km, vùng gần miền Nam bán đảo Triều Tiên là
đảo Kyushu cách tới 180km. Có thể nói rằng, Nhật Bản đủ xa châu á để thoát khỏi các
đột biến của lục địa nhưng lại đủ gần để có thể hưởng những thành quả của nền văn minh
đó. Từ xa xưa, quần đảo Nhật Bản giữ mối quan hệ với lục địa châu á qua ba con đường:
Phía Bắc từ miền Đông Xibia đến Hokkaido qua Sakhalin; Phía Đông từ bán đảo Triều
Tiên đến Honshu và đường phía Nam từ đất Trung Hoa đến đảo Kyushu qua Đài Loan và
quần đảo Ryukyu. Từ ba con đường này, Nhật Bản có mối quan hệ giao lưu kinh tế, văn
hóa từ lâu với thế giới. Tuy nhiên, tính chất "đảo" ấy đã tạo nên ở Nhật Bản một hoàn
cảnh địa lý đặc biệt. Nếu như nữ thần Amatêraxu đã ưu ái phú cho Nhật Bản những
người con gái đẹp và khí hậu ôn hòa, thì người lại dồn cho Nhật Bản nhiều thử thách
thiên nhiên mà trong đó thường trực tai họa khủng khiếp như: Bão tố, sóng thần thường
xuyên ập đến, nhất là khi giao thông còn sơ khai, là một trở ngại lớn đối với Nhật Bản
trong việc quan hệ giao lưu với các nước xung quanh và thế giới. Nhưng sự biệt lập của
tính chất "đảo" lại tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng và bảo vệ nền độc lập dân

tộc, giúp cho người Nhật chủ động cải tạo và xây dựng nền văn minh thống nhất và độc
đáo của mình.
Điều kiện tự nhiên Nhật Bản tuy đẹp nhưng quả thật khắc nghiệt đối với con
người. Những hòn đảo nghèo nàn này không được hưởng những thiên thời và địa lợi. ở
Nhật Bản, đất đai canh tác ít chỉ chiếm 15% diện tích, còn lại là đồi núi. Nhật Bản không
những không có con sông lớn, không có những cánh đồng phù sa màu mỡ như ở Ai Cập,

thuần nhất để phân biệt với các nước láng giềng như Trung Quốc, Triều Tiên, Mông Cổ,
cả trong ngôn ngữ, sinh hoạt, tôn giáo, cơ cấu chính trị và xã hội Những nét riêng đó đã
sớm trở thành bản chất của người Nhật Bản.
Trong lịch sử phát triển của mình, yếu tố Trung Hoa đóng một vai trò quan trọng.
Từ xa xưa, người Nhật đã có sự khát khao đối với các nền văn minh khác, và trong lịch
sử tiến hóa của mình, người Nhật hoan nghênh các yếu tố văn hóa nước ngoài mà không
gạt bỏ các tập tục truyền thống đã có. Có thể nói, nhân dân Nhật Bản đã hấp thụ có chọn
lọc nhiều phát kiến văn hóa của các nền văn minh trên thế giới. Ngay từ thời tiền sử, văn
hóa Trung Hoa đã thấm đượm trong văn hóa Nhật Bản. Do sự kết hợp giữa con người,
điều kiện địa lý và thiên nhiên độc đáo, tạo nên tính cách đặc trưng của con người Nhật
Bản.
Trước tiên là tính hiếu kỳ, nhạy cảm với văn hóa nước ngoài. Điều đó có thể nói,
không có một dân tộc nào nhạy bén về văn hóa nước ngoài như người Nhật, họ không
ngừng phát triển, theo dõi những biến đổi của thế giới bên ngoài. Khi họ biết trào lưu nào
đang thắng thế thì họ sẵn sàng chấp nhận, học hỏi, nghiên cứu để bắt kịp trào lưu đó
không để lỡ thời cơ. Ví như: Khi thấy văn hóa Trung Quốc phát triển mạnh mẽ, người
Nhật đã nhanh chóng tiếp thu nền văn hóa ấy, nhưng họ rất ý thức về tài sản văn hóa của

họ, một nền văn hóa đã được trang trọng bồi dưỡng và tích lũy qua các thời đại lịch sử vì
thế người Nhật rất trân trọng nó.
Người Nhật cũng có óc thẩm mỹ, sự bền bỉ, kiên trì cũng là tính cách của người
Nhật. Họ ưa chuộng cái đẹp, điều đó được thể hiện trong tính cách ăn mặc, kiến trúc và
lối sống. Những đặc trưng trong tính cách người Nhật là điều kiện thuận lợi cho sự tiếp
thu những tinh hoa của nhân loại, đồng thời nó giúp cho người Nhật Bản chủ động nắm
bắt và cải tiến nền văn hóa ấy mang màu sắc dân tộc mình.

Chương 2
Văn hóa Nhật Bản từ cải cách taika
đến trước KHI thành lập chế độ Mạc Phủ
(từ thế kỷ VII đến thế kỷ XII)

đình nên họ hứng thú sản xuất hơn. Tuy nhiên, họ phải chịu nộp mức thuế cố định theo
chế độ bóc lột Tô-Dung-Điệu của Nhà nước. Những nguyên tắc chính của chế độ này đã
được cụ thể hóa trong bộ luật Taiho Retsurgo. Các gia đình, những người nông dân được
chia ruộng đất nhưng họ không có quyền rời khỏi phần ruộng đất được chia của mình và
họ phải trả tô thuế cho Nhà nước và các nghĩa vụ lao động bắt buộc khác.
Như vậy, chế độ "ban điền" sau cải cách Taika đã xác nhận quan hệ sản xuất
phong kiến ở Nhật Bản. Mặc dù những biện pháp trên giải phóng được chế độ bộ dân và
đem lại ruộng đất cho nông dân, nhưng đồng thời nó cũng trói chặt nông dân vào ruộng
đất để Nhà nước và bọn chủ ruộng thống trị, nô dịch họ.
Bên cạnh việc chia ruộng đất cho nông dân, Nhà nước còn phân phong đất đai
cho tầng lớp quý tộc tùy theo tước vị, chức sắc và công lao của họ. Những phần đất đặc
quyền này được quy định theo ba loại là: tước vị và chức sắc chỉ được ban tặng tạm thời
một hoặc hai, ba đời. Còn công lao là tối đa, phần lớn đất đai này là của con cháu giới
quý tộc có quyền thế trong bộ máy chính quyền ở trung ương và địa phương, nên đã dần
dần biến ruộng đất được ban cấp thành ruộng đất tư hữu. ở những vùng đất đặc quyền có

nông dân sinh sống thì những người nông dân đã trở thành "phong hộ" cho giai cấp quý
tộc, họ phải nộp phần lớn thu nhập sản phẩm của mình cho giai cấp quý tộc. Ngoài ra,
chúng còn cướp đoạt ruộng đất của nông dân để mở rộng thêm phần đất của mình.
Do vậy, quy mô và hình thức sở hữu đất đai ngày càng lớn và đa dạng, đó là tiền
đề làm cho cuộc cải cách Taika trong thực tế đã bị thất bại. Thêm vào đó, sự yếu kém của
chính quyền từ trung ương đến địa phương, quyền lực bị chia cắt nhỏ trong việc quản lý
đất đai, thu thuế cũng là những bối cảnh dẫn đến hệ quả trên. Chế độ ban điền đã bị bãi
bỏ từ năm 850. Lợi dụng chính sách khai khẩn đất hoang của triều đình, lại được sự che
chở của giới quý tộc ở kinh đô, nên tầng lớp địa chủ ở địa phương đã chiếm đoạt nhiều
ruộng đất. Các thế lực mạnh lên nhanh chóng, họ muốn có quyền sở hữu vĩnh viễn đối
với đất đai của họ. Cùng với thời gian, các phần đất được chia bị biến thành trang viên
(Shoen) phong kiến. Các Tự Viện (đền chùa) cũng được Thiên hoàng và quý tộc ban tặng
nhiều ruộng đất và cũng trở thành các trang viên, được miễn thuế hoàn toàn. Các chủ
trang viên đã trở thành các chúa đất độc lập, họ không chịu sự kiểm soát của triều đình.

chính, không tuyển hoàng hậu thuộc họ Fujiwara, thiết lập chế độ nghị chính. Theo chế
độ này, Thiên hoàng nhường ngôi cho con và trở thành Thượng hoàng rồi lên Pháp
hoàng.
Vào năm 1086, khi Thiên hoàng Shirakawa nhường ngôi cho con và ông trở
thành Thượng hoàng. Cùng năm đó, ông thiết lập một cơ quan mới gọi là Isne (Viện
chính). Thực chất của Viện chính là một tổ chức theo dõi việc chính trị của triều đình để
giúp đỡ Thiên hoàng, và là cơ sở của Hoàng gia để chống lại họ Fujiwara. Đến đầu thế kỷ
XII, Viện chính của Thiên hoàng dựa vào hai họ Taira và Minamoto để đấu tranh với họ
Fujiwara, cũng làm cho thế lực này ngày càng giảm sút. Trong khi đó họ Taira lại nhanh

chóng phát triển thế lực của mình, nắm lấy mọi quyền hành. Điều đó, làm cho mâu thuẫn
giữa Viện chính và họ Minamoto diễn ra gay gắt. Vào năm 1181, cuộc nội chiến giữa họ
Taika và Minamoto nổ ra nhằm tranh giành bá quyền với nhau. Năm 1185, họ Minamoto
đánh bại hoàn toàn họ Taika trong trận Dannoura, từ đó quyền hành chuyển sang tay
dòng họ Minamoto.
2.2. Văn hóa Nhật Bản từ cải cách Taika đến trước khi thành lập chế độ
Mạc Phủ
2.2.1. Tôn giáo
2.2.1.1. Thần đạo
Từ xa xưa, người Nhật luôn luôn gắn bó đời sống của mình với lễ bái, thờ phụng
thiên nhiên, các chư thần, tổ tiên Nói chung việc lễ bái, thờ phụng ấy không bị ảnh
hưởng bất cứ một dòng tôn giáo nào. Cho nên, lúc đầu nó chưa có tên gọi. Đến thế kỷ VI,
khi Phật giáo du nhập vào Nhật Bản. Để phân biệt với Đạo Phật, các nhà tư tưởng học
Nhật Bản mới đặt tên cho tôn giáo đó là Thần đạo.
Thần đạo là tôn giáo sơ khai bản địa của người Nhật, do người Nhật sáng tạo ra
từ thời nguyên thủy và tồn tại cho đến ngày nay. Nó hình thành từ niềm tin, từ lòng thành
kính của mỗi người dân Nhật Bản đối với tổ tiên, thiên nhiên và thánh thần. Họ tin rằng,
tất cả mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên đều do thánh thần sinh ra, kể cả tổ tiên của họ
cũng là con cháu của thánh thần. Từ đó, họ coi là một thế giới thần quyền, có quyền
quyết định đến số phận của con người trong một xã hội nông nghiệp. Thế giới ấy được


những hòn đảo sẽ là lãnh thổ của Nhật Bản. Nhưng đến khi sinh ra vị thần lửa thì nữ thần
Izanami bị thiêu chết. Nam thần Izanagi đi theo bà xuống dưới âm phủ, vì quá muộn nên
xác bà đã bắt đầu thối rữa, Izanagi hoảng sợ bỏ chạy để khỏi nhìn thấy cảnh chết rục của
vợ, về đến trần gian chàng vội vã tẩy uế thân thể bằng cách nhảy xuống biển tắm. Tất cả
quần áo của chàng cởi ra đều là thánh thần "Kami" của Thần đạo. Trong số những vị thần
đó thì Amateraxu được tôn là đại thần đã phái xuống trần gian 800 vị thần để phò tá
Thiên hoàng. Về sau Amateraxu nhường ngôi trị vì các đảo Nhật Bản cho con cháu của
mình và đó chính là Thiên hoàng. Dòng dõi hoàng tộc đó vẫn trị vì ở Nhật Bản cho tới
ngày nay. Có lẽ, chính vì tôn sùng thần Mặt trời nên người Nhật thường gọi đất nước
mình là "Đất nước Mặt trời mọc". Cùng với thời gian, những tín ngưỡng này ngày càng
ăn sâu vào đời sống tinh thần của người Nhật. Dần dần phát triển lên gọi là Thần đạo.
Như vậy, Thần đạo là kết quả của sự pha trộn từ những tín ngưỡng từ thời tiền
sử, hay nói cách khác là có nguồn gốc bái vật giáo. Đối tượng chính trong các nghi lễ của
Thần đạo là những vị thần được gọi là Kami. Kami có thể có nhiều loại khác nhau và
được phân biệt bằng những tên riêng, nhưng lại có đặc điểm chung. Kami không có hình
dạng cố định và chỉ biểu lộ hình thức khi được mời gọi trú ngụ trong những vật cụ thể
như cái bình, gậy, tảng đá Những người có khả năng về tâm linh sẽ đóng vai trò cầu
nối giữa Kami với thế giới loài người. Kami sống ở thế giới riêng và hàng năm được mời
đến với thế giới loài người vào các mùa thông qua các nghi lễ để mong được ban phước
lành.
Đặc điểm chủ yếu của nghi lễ Thần đạo là chú ý đến sự trong sạch, vi phạm điều
này có nghĩa là xúc phạm đến Kami, như vậy sẽ là có tội. Do đó, muốn tránh được tội thì
phải kiêng giữ sạch sẽ khi đến gần Kami. Trước khi hành lễ, phải tắm rửa, thay quần áo
sạch sẽ, vì người bẩn là điều tối kỵ. Tuyệt đối không được hành lễ khi phải mang trong
người những thứ bẩn như đang hành kinh hay trong thời kỳ sinh đẻ. Trong những truyện
thần thoại có nói đến "những lều đẻ" hay "lều cưới" phải làm cách xa nhà nhằm tránh cho
nhà khỏi bị bẩn. Ngoài ra, bệnh tật, người chết ốm đau cũng là nguồn gây bẩn. Vì thế,
ngay từ thời cổ đại đã có một danh sách những tội cần được rửa trong các kỳ lễ.


đồng hóa với tín ngưỡng ngay từ tiền khởi của nền tôn giáo sơ khai
2.2.1.2. Phật giáo
Từ sau công nguyên, Đạo Phật đã vượt ra khỏi biên giới và phạm vi của triết lý
truyền thống ấn Độ, mở rộng ra nhiều nước trong khu vực Trung á và Đông á. Đặc biệt,
Trung Quốc là nơi Phật giáo được truyền bá rất thành công, và sau quá trình du nhập nó
đã được nhào nặn ở Trung Quốc mang những nét khác biệt cơ bản so với Phật giáo ở ấn
Độ. Từ Trung Quốc, Đạo Phật đã du nhập vào Triều Tiên, và từ đó được truyền bá sang
Nhật Bản vào thế kỷ VI.
Theo sử sách, vào năm 552, vua Triều Tiên Bách Tế (Packeche) cử hai học giả
Achiki và Wani, sang cầu viện triều đình Yamato giúp đỡ về mặt quân sự và hy vọng
Nhật Bản sẽ trợ giúp mình chống lại kẻ thù. Cho nên, đã gửi cho Thiên hoàng Yamato
một tượng phật bằng vàng và nhiều tặng phẩm khác. Trong đó, có một số bộ kinh phật và
kèm theo một bức thư hết lòng tán dương Phật giáo rằng: "Phật giáo tuy khó giải thích và
khó hiểu, đây là một thứ học thuyết hay nhất và có thể giúp thực hiện mọi nguyện vọng"
[26, tr. 75]. Điều này đã tác động lớn đến tầng lớp quý tộc Nhật Bản, đặt vấn đề có nên
tiếp nhận tôn giáo mới hay không? Do đó, đã thường xuyên xảy ra những cuộc xung đột
giữa hai phe phái, đại diện cho phái chống đối là họ Nakatomi và Mononobe, còn phái
ủng hộ Phật giáo là họ Soga, cuộc đấu tranh giữa hai phái diễn ra trong suốt gần nửa thế
kỷ. Cuối cùng, phái Soga giành thắng lợi. Đến cuối thế kỷ VI, Phật giáo đã trở thành tôn
giáo chính thức của Nhật Bản, khi đó mới chấm dứt được những mâu thuẫn giữa thần đạo
và Phật giáo. Thật ra Phật giáo cũng có nhiều yếu tố gần giống với thần đạo. ở Nhật Bản,
các thần (Kami) cũng trở thành thần bảo vệ chùa chiền.

Sau khi giành được sự bảo trợ của triều đình thì Phật giáo dường như đã mở rộng
cửa đón nền văn minh đại lục sâu xa hơn trước. Một trong những nhân vật lịch sử xuất
hiện để hoàn thành sứ mệnh văn hóa ấy, đó là Thái tử Shotoku (574-622). Ông là một
người có học vấn uyên thâm, nhãn quan chính trị sáng suốt, trở thành nhiếp chính cho nữ
Thiên hoàng Suiko vào năm 593. Trong 30 năm hoạt động, Thái tử đã biến đổi nước Nhật
trên nhiều phương diện. Trong đó, Nho giáo và Phật giáo được khuyến khích, nâng đỡ và
ngày càng phát triển nhanh chóng. Ngay trong bộ luật 17 điều của Thái tử Shotoku cũng

liêng bảo vệ xứ sở. Một ngôi chùa vĩ đại kiến tạo ở Nara mang tên là Todaiji (Đông Đại
Tự) với tượng Đại Phật uy nghi, làm trung tâm của Phật giáo, liên kết và điều khiển chùa
chiền ở các địa phương. Ngoài ra, triều đình còn có những ưu tiên đặc biệt đối với các
nhà sư, như: Phong tước cho các nhà sư, còn nhà chùa thì được ban cấp nhiều ruộng đất,
miễn thuế. Điều này đã thúc đẩy cho Phật giáo phát triển nhanh chóng. Nhưng dần dần
các chùa và giới tăng lữ do được ưu tiên đã tự do lộng quyền câu kết với các quý tộc ở
địa phương, giúp cho tầng lớp này không phải đóng thuế rồi chia nhau lợi tức. Do đó, đã
làm cho ngân sách của Nhà nước ngày càng giảm sút, đời sống nhân dân đói khổ bên
cạnh cuộc sống giàu sang của tầng lớp quý tộc và sư sãi. Hơn nữa, do sự ưu đãi của triều
đình về kinh tế nên các sư sãi đã vượt ngoài giới hạn của lĩnh vực tôn giáo, can thiệp sang
lĩnh vực chính trị. Do được nữ Thiên hoàng Shotoku sủng ái, Dokyo trở thành đại thần
Thiền sư và được phong tước hiệu là Pháp Vương, nhưng vẫn chưa hài lòng, âm mưu
chiếm cả ngôi Thiên hoàng. Hành động này đã làm đảo lộn chính trị trong triều đình và
cả hệ thống Hoàng gia, dẫn đến cuộc đảo chính năm 770 do nhà quý tộc Fujiwara lãnh
đạo và đã đoạt được quyền từ tay nhà sư tên là Dokyo.
Như vậy, ở thời Nara Đạo Phật đã trở thành quốc giáo, tăng lữ trở thành một thế
lực chính trị, trong số đó không thiếu những người mang đầy tham vọng quyền lực như
trường hợp Dokyo.

Thời Nara còn hình thành nhiều tông phái khác nhau của Đạo Phật, các tông phái
từ ấn Độ vào Trung Quốc rồi truyền sang Nhật Bản và hầu như về giáo lý của các tông
phái này không có sự chống đối gì với nhau, nó chỉ là những biến thể của một chủ đề
chung gọi là sáu tông phái Nara.
Tông phái đầu tiên là Tam Luận Tông (Sanron), do nhà sư Triều Tiên tên là
Eikwan truyền bá vào Nhật. Giáo lý của tông phái này dựa theo bộ Trung luận của
Nagarjuna (Long Thọ Bồ Tát) mang một triết lý hết sức duy tâm và tuyệt đối, cho rằng:
Mọi hiện tượng là không thực, không tồn tại riêng biệt mà chỉ tồn tại trong đối với nhau
mà thôi, một quan niệm rất khó hiểu đối với người Nhật học nó. Tuy nhiên là tông phái
đầu tiên, nên vẫn tồn tại và đến cuối thời Nara đã bị sa sút. Sau Tam Luận Tông là Thành
Thực Tông (Jojitsu) du nhập từ Triều Tiên. Các giáo lý của Tông phái này cũng giống

một vũ trụ, và trong mỗi vũ trụ lại có vô vàn thế giới. Trên mỗi cánh hoa là một vị Thích
Ca, hiện thân của Lư Xá Na. Còn trong thế giới của vô vàn thế giới kia lại có một vị Phật
nhỏ, hiện thân của Thích Ca, Triều đình và Tăng lữ đã thấy sự giống nhau giữa các tôn ti
trật tự này với cái tôn ti của Nhà nước. Vì thế kinh Hoa Nghiêm được triều đình trọng
dụng và được coi là kinh có quyền uy.
Đến thế kỷ IX, để tránh ảnh hưởng của Phật giáo, Thiên hoàng Kamu chủ trương
dời đô từ Nara đến Heian. ở đó, Thiên hoàng đã đặt ra các quy định chặt chẽ đối với Phật
giáo, như quy định lại vị trí của tăng ni trong xã hội chủ trương "Đạo dời dị biệt". Ngoài
ra, còn quy định một loạt các điều khoản khác nhằm hạn chế quyền lực của Phật giáo
như: Quy định việc phong tước, tăng quan, quy định hình phạt cho những người vi
phạm Do có các biện pháp như vậy, nên hơn nửa thế kỷ đầu của thời Heian, quyền lực
của Thiên hoàng được toàn vẹn, không bị giáo quyền xâm phạm.
Cũng trong giai đoạn này, bản thân nội bộ Phật giáo cũng có sự thay đổi cho phù
hợp với hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ. Bên cạnh sự suy thoái của các tông phái Phật giáo

thời Nara dẫn đến phong trào "Tân hưng Phật giáo", tuy các tông phái cũ vẫn còn tồn tại
nhưng hầu như đều khuất chìm trước làn sóng mới ở đầu thế kỷ IX, đó là do hai hòa
thượng Saicho lập ra phái Tendai (Thiên Thai) và Kukai lập ra phái Shingon (Chân
Ngôn). Hai vị tăng trưởng này, sau khi đắc đạo từ Trung Quốc trở về nước đúng vào thời
của thịnh của Pháp Tướng Tông và Nghiêm Hoa Tông. Vì bị hai phái này chèn ép, nên
phải dựng chùa trên núi với chủ trương "Đời là dục vọng, đạo là thanh" [19, tr. 40], xa
lánh chốn phồn hoa đô hội và các nhà quyền quý, rút vào rừng núi tĩnh tu, khi nào "nhập
đạo" mới hạ sơn cứu nhân độ thế, tiếp xúc với bình dân lam lũ. Chủ trương của hai Tông
phái này rất phù hợp với ý tưởng của triều đình. Nhà vua dời đô với lý do là để xa lánh
Pháp Tương Tông, "vì tăng giới này tại cựu đô rất phức tạp trong quan niệm giáo lý,
nên Trẫm đã chứng kiến nhiều hành động phi pháp và phi đạo của họ" [19, tr. 40]. Vì
thế, trong những năm Thiên hoàng Kamu còn trị vì, chỉ tăng giới Thiên Thai Tông và
Chân Ngôn Tông được triều đình và nhân dân quý mến.
Nhìn chung, Phật giáo thời Heian trở thành một tôn giáo có vai trò to lớn, ảnh
hưởng đến đời sống của mọi tầng lớp trong xã hội Nhật Bản. Vì thời kỳ này, Phật giáo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status