Mục lục
Trang
Mở đầu 1
Chơng 1: Nhật bản - đất nớc và con ngời 7
1.1. Đất nớc Nhật Bản 7
1.2. Con ngời Nhật Bản 8
Chơng 2: Văn hóa nhật bản từ cải cách taika đến
trớc khi thành lập chế độ mạc phủ (từ
thế kỷ Vii đến thế kỷ xii)
11
2.1. Bối cảnh lịch sử của Nhật Bản trong giai đoạn từ cải cách
Taika đến trớc khi thành lập chế độ Mạc Phủ
11
2.2. Văn hóa Nhật Bản từ cải cách Taika đến trớc khi thành
lập chế độ Mạc Phủ
15
Chơng 3: Văn hóa nhật bản thời kỳ đầu của chế độ
mạc phủ (từ cuối thế kỷ xii đến cuối thế
kỷ xvi)
60
3.1. Bối cảnh lịch sử Nhật bản thời kỳ đầu của chế độ Mạc Phủ 60
3.2. Văn hóa Nhật Bản thời kỳ đầu của chế độ Mạc Phủ 64
Chơng 4: văn hóa nhật bản thời kỳ cuối chế độ mạc
phủ (từ thế kỷ xvii đến cuối thế kỷ xix)
90
4.1 Bối cảnh lịch sử trong thời kỳ cuối của chế độ Mạc Phủ 90
4.2 Văn hóa Nhật Bản thời kỳ cuối của chế độ Mạc Phủ 92
Chơng 5: một số văn hóa truyền thống khác 108
5.1 Trà đạo (nghi thức uống trà) 108
5.2. Ngắm hoa anh đào ở Nhật Bản 114
5.3. Nghệ thuật cắm hoa (Ikebana) ở Nhật Bản 117
tiến bộ, loại trừ những cái xấu xa, lỗi thời, để tự mình vơn lên chứ không tự
đánh mất mình, hòa nhập mà không hòa tan và hiểu ngời để hiểu mình.
Do vậy, chăm lo văn hóa là chăm lo củng cố nền tảng tinh thần của
xã hội. Thiếu nền tảng tinh thần tiến bộ lành mạnh, không quan tâm giải
3
quyết tốt mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với tiến bộ và công bằng xã
hội thì không thể có sự phát triển kinh tế xã hội bền vững. Điều đó, Tổng Bí
th Đỗ Mời đúc kết một câu rằng: Quá trình tiến hóa của một Quốc gia luôn
luôn phải gắn với cội nguồn, phát triển trên nền bản sắc văn hóa dân tộc đi
đôi với việc tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại Nếu phát triển tách
khỏi cội nguồn, xa rời những giá trị văn hóa truyền thống, nhất định sẽ lâm
vào nguy cơ đánh mất bản thân, chẳng những không thể đóng góp cho nền
văn hóa chung của nhân loại mà còn trở thành bản sao mờ nhạt của dân tộc
khác.
Chính bởi vậy, nhận thức đúng về văn hóa là một điều kiện không
thể thiếu trong việc trang bị hành trang tiến vào tơng lai. Để bớc sang thế
kỷ XXI này, làm cho mối quan hệ sâu sắc hơn theo tinh thần "Việt Nam
muốn làm bạn với tất cả các nớc trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa
bình độc lập và phát triển" cũng nh mối quan hệ giữa Việt Nam và Nhật
Bản nói riêng cần phải phát huy hơn nữa thì việc tăng cờng sự hiểu biết lẫn
nhau giữa các dân tộc và nhân dân Việt Nam - Nhật Bản là điều cần thiết.
Bằng những ý nghĩa thực tiễn nh trên, chúng tôi chọn đề tài "Tìm
hiểu nền văn hóa phong kiến Nhật Bản (Từ thế kỷ VII đến cuối thế kỷ
XIX)" làm đề tài nghiên cứu.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Trong thời đại ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế - xã
hội của các quốc gia dân tộc thì việc tìm hiểu, giao lu văn hóa giữa các
Quốc gia với nhau trở thành một vấn đề quan trọng. Cũng nh nhiều quốc
gia khác, đặc biệt là sự thành công về kinh tế của Nhật Bản sau những thập
kỷ chiến tranh thế giới thứ hai đã thu hút sự quan tâm của các quốc gia trên
Trung và sau này của phơng Tây mà vẫn kiến tạo đợc một bản sắc
5
độc đáo, Nhật Bản là một biểu mẫu của thân hóa, dung hợp và
phát triển các ngọn nguồn văn minh khác nhau [35, tr. 223].
Trong các công trình ấy, đều nói về các tiêu đề văn học, nghệ thuật,
tôn giáo, kiến trúc hội họa, điêu khắc đã đợc các tác giả đề cập đến.
Ngoài các công trình nghiên cứu trên, các tác giả: Nguyễn Thị Việt
Thanh đã đóng góp nhiều ý kiến trong việc nghiên cứu về hệ thống chữ
Kana của Nhật Bản. Trần Hải Yến trong "Một số nét đặc trng của văn học
Nhật Bản" đã viết:
Văn học Nhật Bản có những nét đặc trng liên quan tới văn
học Trung Quốc và văn học phơng Tây, những đặc trng này gắn
liền với 5 nhân tố chính đó là: Vai trò của văn học trong văn hóa
Nhật Bản với t cách một tổng thể, mô hình phát triển của lịch sử
văn học, ngôn ngữ Nhật Bản và hệ thống chữ viết của nó, cơ sở xã
hội của văn học và những yếu tố tôn giáo và triết học [34].
Trong "Tìm hiểu Đạo Phật ở Nhật Bản", Nguyễn Thị Thúy Anh đã
chia quá trình hình thành và phát triển của Đạo Phật Nhật Bản ra 3 thời kỳ
"Truyền bá, Nhật Bản hóa, Tồn tại" [4].
Các công trình nghiên cứu trên là những t liệu quý có ý nghĩa quan
trọng trong việc gợi ý, hớng dẫn chúng tôi thực hiện đề tài.
Nh vậy, vấn đề mà đề tài đặt ra còn mới mẻ. Theo suy nghĩ của
chúng tôi, nghiên cứu để góp thêm một ý kiến nhằm đáp ứng phần nào đó
về nhu cầu tìm hiểu nền văn hóa phong kiến Nhật Bản là điều cần thiết và
bổ ích.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của đề tài là nghiên cứu, tìm hiểu về nền văn hóa thời
phong kiến Nhật Bản, nhằm nâng cao hơn nữa về sự hiểu biết nền văn hóa,
và những nét truyền thống nổi bật của đất nớc Nhật Bản.
6
- Ngoài các phơng pháp trên, đề tài còn kết hợp sử dụng phơng pháp
lôgic và phơng pháp lịch sử. Hai phơng pháp này có tác dụng bổ sung hỗ trợ
lẫn nhau giúp ngời nghiên cứu nhìn nhận vấn đề một cách lôgic, khoa học
trong việc xử lý tài liệu, so sánh, đối chiếu theo hệ thống thông tin đã thu
thập đợc. Dựa trên cơ sở đó để giải thích, đánh giá và tìm ra những kết luận
đúng mang tính khách quan.
5. Phạm vi nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, vấn đề quan tâm trớc tiên là sự hình thành, tiếp
thu và phát triển của nền văn hóa phong kiến Nhật Bản. Chúng tôi đã
nghiên cứu về tất cả các mặt của nền văn hóa Nhật Bản nh văn học, nghệ
thuật, kiến trúc, hội họa, điêu khắc, tôn giáo theo các giai đoạn phát triển
lịch sử.
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, và Danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn đợc kết cấu thành 5 chơng.
8
Chơng 1
Nhật Bản - đất nớc và con ngời
1.1. Đất nớc Nhật Bản
Nhật Bản - "Xứ sở hoa Anh Đào" là một quần đảo ở phía Đông Bắc
lục địa châu á, nằm giữa biển Nhật Bản và Thái Bình Dơng. Quần đảo này
đợc hình thành bởi những vụ nổ núi lửa cách đây nhiều triệu năm. Nó bao
gồm gần 4000 đảo lớn nhỏ uốn theo hình cánh cung rải từ Đông Bắc xuống
Tây Nam, với chiều dài khoảng 3.900km, từ vĩ độ bắc 45
0
33 đến 20
0
25.
Nhật Bản có tổng diện tích là 377.815km
2
nay, ở Nhật Bản còn hơn 30 ngọn núi lửa đang hoạt động trong số 196 ngọn
núi. Hàng năm có tới hàng nghìn lần rung chuyển địa chất và thỉnh thoảng
lại có những trận động đất lớn, có khi thiêu hủy cả thành phố.
Ngời Nhật đã ý thức sớm đợc những khó khăn bất lợi trong điều
kiện địa lý và tự nhiên. Cho nên, từ thời cổ đại, Nhật Bản đã nhanh chóng
tiếp thu những tinh hoa tiến bộ từ bên ngoài vào, đặc biệt là ảnh hởng của
văn hóa Trung Hoa để tạo điều kiện cho bớc phát triển của mình. Nh vậy,
việc tìm hiểu vị trí địa lý và tự nhiên của Nhật cho chúng ta thấy, Nhật Bản
đã vơn lên thật là mạnh mẽ nh thế nào để trở thành một trong những dân tộc
đứng hàng đầu thế giới về kinh tế, kỹ thuật. Sự thành công đó đã chứng tỏ là
một thắng lợi của con ngời đối với thiên nhiên.
1.2. Con ngời Nhật Bản
Ngời Nhật Bản có nguồn gốc nh thế nào? Hay ngời Nhật từ đâu
đến? Đây là một vấn đề còn đang đợc tranh luận. Nhng có một số điểm gần
nh đợc nhiều nhà nghiên cứu và nhiều nhà khảo cổ học thống nhất với nhau
rằng, tổ tiên xa xa của ngời Nhật là từ nhiều nơi đến. Đặc biệt là nhóm di c
từ phía Bắc lục địa châu á xuống và có một bộ phận từ các miền duyên hải
10
Nam á lên. Những phát hiện trên quần đảo cho thấy, từ thời đại đồ đá cũ
khoảng 10 vạn năm trớc đây có các nhóm c dân săn bắn và hái lợm, rải rác
từ miền Đông Xibia di c sang phía Bắc Nhật Bản qua đờng Hokkaido và
Sakhalin. Nền văn hóa thuộc thời đại này đợc phát hiện nằm rải rác trên
khắp nớc Nhật nh: Những chiếc cầu bằng đất, những kiểu nhà ở và các câu
chuyện truyền thuyết gợi lên nguồn gốc đại dơng, các đặc điểm văn hóa đa
dạng có nhiều nét tơng tự nh ở phía Nam Trung Quốc, các lăng mộ và việc
chế tác đã gợi đến mối liên hệ với việc di c của ngời dân từ vùng Triều Tiên
và vùng phía Bắc Trung Quốc. Tất cả điều đó đã cho thấy: "Chủng tộc Nhật
Bản là kết quả của sự pha trộn các yếu tố của các miền khác nhau trên lục
địa châu á từ thời tiền sử" [26, tr. 14]. Trong đó, nòi giống phơng Bắc
chiếm một phần khá mạnh, chủ yếu là ngời Mông Cổ, ngoài ra còn các yếu
12
Chơng 2
Văn hóa Nhật Bản từ cải cách taika
đến trớc KHI thành lập chế độ Mạc Phủ
(từ thế kỷ VII đến thế kỷ XII)
2.1. Bối cảnh lịch sử của Nhật Bản trong giai đoạn từ
cải cách Taika đến trớc khi thành lập chế độ Mạc Phủ
Từ cuối thế kỷ VI, một bộ phận quý tộc Nhật Bản chịu ảnh hởng của
nền văn hóa, đặc biệt là những học thuyết chính trị và pháp luật của Trung
Quốc, muốn cải cách nớc Nhật theo mô hình của nhà Đờng. Nhng lúc đó,
dòng họ Soga (Tô Ngã) đang nắm quyền lực lớn trong triều đình, chiếm
đoạt nhiều ruộng đất và nhiều bộ dân, đó là chớng ngại chủ yếu trên con đ-
ờng xây dựng và củng cố Nhà nớc Trung ơng tập quyền ở Nhật Bản. Vì vậy
chỉ có thủ tiêu thế lực Soga thì việc cải cách mới có thể thực hiện đợc. Năm
645, trong khi tiếp kiến với sứ giả Triều Tiên, quan nhiếp chính Soga Iruca
(Tô Ngã Nhập Lộc) đã bị ám hại. Những ngời đảo chính sau đó bao vây và
đốt cháy dinh phủ, giết hại những ngời thuộc dòng họ Soga. Quyền lực thực
sự trả về cho Thiên hoàng Kotoku (Hiếu Đức), đặt niên hiệu là Taika (Đại
Hòa).
Khi lên nắm chính quyền Thiên hoàng Kotoku đã ban hành một loạt
cải cách, vào tháng giêng năm 646 (năm Taika thứ hai). Thiên hoàng Kotoku
hạ chiếu cải cách và tiếp đó ban hành một số luật lệnh cụ thể dựa trên cơ sở
của chế độ chính trị và tô thuế nhà Đờng. Những cuộc cải cách này trong
lịch sử Nhật Bản gọi đó là cuộc cải cách Taika (Đại Hòa Cách Tân).
Nội dung chủ yếu của cuộc cải cách Taika là thiết lập một hệ thống
chính trị từ trung ơng đến địa phơng theo mô hình nhà Đờng ở Trung Quốc,
đồng thời tuyên bố xóa bỏ chế độ sở hữu t nhân về ruộng đất của các quý
13
tộc thị tộc. Trừ ruộng đất của các đền chùa, còn lại tất cả ruộng đất trong n-
ớc đều thuộc quyền sở hữu của Nhà nớc. Chế độ bộ dân (những ngời dân
quý tộc. Ngoài ra, chúng còn cớp đoạt ruộng đất của nông dân để mở rộng
thêm phần đất của mình.
Do vậy, quy mô và hình thức sở hữu đất đai ngày càng lớn và đa
dạng, đó là tiền đề làm cho cuộc cải cách Taika trong thực tế đã bị thất bại.
Thêm vào đó, sự yếu kém của chính quyền từ trung ơng đến địa phơng,
quyền lực bị chia cắt nhỏ trong việc quản lý đất đai, thu thuế cũng là những
bối cảnh dẫn đến hệ quả trên. Chế độ ban điền đã bị bãi bỏ từ năm 850. Lợi
dụng chính sách khai khẩn đất hoang của triều đình, lại đợc sự che chở của
giới quý tộc ở kinh đô, nên tầng lớp địa chủ ở địa phơng đã chiếm đoạt
nhiều ruộng đất. Các thế lực mạnh lên nhanh chóng, họ muốn có quyền sở
hữu vĩnh viễn đối với đất đai của họ. Cùng với thời gian, các phần đất đợc
chia bị biến thành trang viên (Shoen) phong kiến. Các Tự Viện (đền chùa)
cũng đợc Thiên hoàng và quý tộc ban tặng nhiều ruộng đất và cũng trở
thành các trang viên, đợc miễn thuế hoàn toàn. Các chủ trang viên đã trở
thành các chúa đất độc lập, họ không chịu sự kiểm soát của triều đình.
Những ngời nông dân trở thành sở hữu riêng của các chủ lãnh địa
phong kiến. Sự bóc lột tàn bạo, tô thuế cao cùng với việc chiếm đoạt ruộng
đất của nông dân đã gây ra những cuộc phản kháng rõ rệt, những ngời nông
dân chạy trốn khỏi lãnh địa. Một số ngời chạy trốn đã tổ chức thành các đội
chuyên đi ăn cớp, từ đó xuất phát các cuộc khởi nghĩa chống phong kiến đ-
ợc hình thành.
Từ sau cuộc đảo chính năm 645, chính quyền trở về tay Thiên
hoàng. Đến năm 710, kinh đô thờng trực đầu tiên của Nhật Bản đợc xây
dựng hoàn thành theo lệnh của nữ hoàng Genmei, đó là kinh đô Nara (Nại
Lơng). Trong suốt 70 năm, từ năm 710 đến năm 794, Nara trở thành trung
15
tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của Nhật Bản. Tuy nhiên, có những cuộc đấu
tranh giữa tầng lớp quý tộc cũ, muốn khôi phục lại quyền lợi và địa vị trớc
kia với tầng lớp quan lại diễn ra thờng xuyên. Đại diện cho tầng lớp quý tộc
cũ là họ Otomo và tầng lớp quan lại mới là họ Fujiwara. Vì dòng họ này có
hoàng dựa vào hai họ Taira và Minamoto để đấu tranh với họ Fujiwara, cũng
làm cho thế lực này ngày càng giảm sút. Trong khi đó họ Taira lại nhanh
chóng phát triển thế lực của mình, nắm lấy mọi quyền hành. Điều đó, làm
cho mâu thuẫn giữa Viện chính và họ Minamoto diễn ra gay gắt. Vào năm
1181, cuộc nội chiến giữa họ Taika và Minamoto nổ ra nhằm tranh giành bá
quyền với nhau. Năm 1185, họ Minamoto đánh bại hoàn toàn họ Taika
trong trận Dannoura, từ đó quyền hành chuyển sang tay dòng họ Minamoto.
2.2. Văn hóa Nhật Bản từ cải cách Taika đến trớc khi
thành lập chế độ Mạc Phủ
2.2.1. Tôn giáo
2.2.1.1. Thần đạo
Từ xa xa, ngời Nhật luôn luôn gắn bó đời sống của mình với lễ bái,
thờ phụng thiên nhiên, các ch thần, tổ tiên Nói chung việc lễ bái, thờ
phụng ấy không bị ảnh hởng bất cứ một dòng tôn giáo nào. Cho nên, lúc
đầu nó cha có tên gọi. Đến thế kỷ VI, khi Phật giáo du nhập vào Nhật Bản.
Để phân biệt với Đạo Phật, các nhà t tởng học Nhật Bản mới đặt tên cho tôn
giáo đó là Thần đạo.
Thần đạo là tôn giáo sơ khai bản địa của ngời Nhật, do ngời Nhật
sáng tạo ra từ thời nguyên thủy và tồn tại cho đến ngày nay. Nó hình thành
từ niềm tin, từ lòng thành kính của mỗi ngời dân Nhật Bản đối với tổ tiên,
thiên nhiên và thánh thần. Họ tin rằng, tất cả mọi sự vật, hiện tợng trong tự
nhiên đều do thánh thần sinh ra, kể cả tổ tiên của họ cũng là con cháu của
17
thánh thần. Từ đó, họ coi là một thế giới thần quyền, có quyền quyết định
đến số phận của con ngời trong một xã hội nông nghiệp. Thế giới ấy đợc
phản ánh qua các thần núi, thần ma, gió, thần sông, thần suối, thần mặt
trăng, mặt trời và cần phải thờ phụng nó.
Đối với ngời Nhật, thế giới thánh thần là biểu hiện tình cảm cao quý
của nhân dân Nhật Bản. Tình cảm đó giống nh một phần nào của tín ngỡng
đa thần giáo ở Hy Lạp, La mã cổ đại, nó cha phải là tôn giáo theo đúng giáo
Nam thần Izanagi đi theo bà xuống dới âm phủ, vì quá muộn nên xác bà đã
bắt đầu thối rữa, Izanagi hoảng sợ bỏ chạy để khỏi nhìn thấy cảnh chết rục
của vợ, về đến trần gian chàng vội vã tẩy uế thân thể bằng cách nhảy xuống
biển tắm. Tất cả quần áo của chàng cởi ra đều là thánh thần "Kami" của
Thần đạo. Trong số những vị thần đó thì Amateraxu đợc tôn là đại thần đã
phái xuống trần gian 800 vị thần để phò tá Thiên hoàng. Về sau Amateraxu
nhờng ngôi trị vì các đảo Nhật Bản cho con cháu của mình và đó chính là
Thiên hoàng. Dòng dõi hoàng tộc đó vẫn trị vì ở Nhật Bản cho tới ngày nay.
Có lẽ, chính vì tôn sùng thần Mặt trời nên ngời Nhật thờng gọi đất nớc
mình là "Đất nớc Mặt trời mọc". Cùng với thời gian, những tín ngỡng này
ngày càng ăn sâu vào đời sống tinh thần của ngời Nhật. Dần dần phát triển
lên gọi là Thần đạo.
Nh vậy, Thần đạo là kết quả của sự pha trộn từ những tín ngỡng từ
thời tiền sử, hay nói cách khác là có nguồn gốc bái vật giáo. Đối tợng chính
trong các nghi lễ của Thần đạo là những vị thần đợc gọi là Kami. Kami có
thể có nhiều loại khác nhau và đợc phân biệt bằng những tên riêng, nhng lại
có đặc điểm chung. Kami không có hình dạng cố định và chỉ biểu lộ hình
thức khi đợc mời gọi trú ngụ trong những vật cụ thể nh cái bình, gậy, tảng
đá Những ngời có khả năng về tâm linh sẽ đóng vai trò cầu nối giữa
Kami với thế giới loài ngời. Kami sống ở thế giới riêng và hàng năm đợc
19
mời đến với thế giới loài ngời vào các mùa thông qua các nghi lễ để mong
đợc ban phớc lành.
Đặc điểm chủ yếu của nghi lễ Thần đạo là chú ý đến sự trong sạch,
vi phạm điều này có nghĩa là xúc phạm đến Kami, nh vậy sẽ là có tội. Do
đó, muốn tránh đợc tội thì phải kiêng giữ sạch sẽ khi đến gần Kami. Trớc
khi hành lễ, phải tắm rửa, thay quần áo sạch sẽ, vì ngời bẩn là điều tối kỵ.
Tuyệt đối không đợc hành lễ khi phải mang trong ngời những thứ bẩn nh
đang hành kinh hay trong thời kỳ sinh đẻ. Trong những truyện thần thoại có
nói đến "những lều đẻ" hay "lều cới" phải làm cách xa nhà nhằm tránh cho
đợc hình thành từ thời tiền sử trên quần đảo Nhật Bản. Thần đạo không phải
là quốc giáo của Nhật Bản, vì nó không cấu thành nổi một triết lý, không kinh
kệ, giáo điều của màu sắc cá tính Thần đạo. Trên thực tế, thần đạo cũng không
phải là thứ tôn giáo riêng của ngời Nhật Bản. Vì cũng giống nh ngời Trung
Quốc, Việt Nam đều thờ cúng trời đất, vua chúa, tổ tiên, thần thánh của
mình. Nhng t tởng tôn giáo trong đạo đức của ngời Nhật đợc đồng hóa với
tín ngỡng ngay từ tiền khởi của nền tôn giáo sơ khai
2.2.1.2. Phật giáo
Từ sau công nguyên, Đạo Phật đã vợt ra khỏi biên giới và phạm vi
của triết lý truyền thống ấn Độ, mở rộng ra nhiều nớc trong khu vực Trung
á và Đông á. Đặc biệt, Trung Quốc là nơi Phật giáo đợc truyền bá rất
thành công, và sau quá trình du nhập nó đã đợc nhào nặn ở Trung Quốc
mang những nét khác biệt cơ bản so với Phật giáo ở ấn Độ. Từ Trung Quốc,
Đạo Phật đã du nhập vào Triều Tiên, và từ đó đợc truyền bá sang Nhật Bản
vào thế kỷ VI.
Theo sử sách, vào năm 552, vua Triều Tiên Bách Tế (Packeche) cử
hai học giả Achiki và Wani, sang cầu viện triều đình Yamato giúp đỡ về
mặt quân sự và hy vọng Nhật Bản sẽ trợ giúp mình chống lại kẻ thù. Cho
21
nên, đã gửi cho Thiên hoàng Yamato một tợng phật bằng vàng và nhiều
tặng phẩm khác. Trong đó, có một số bộ kinh phật và kèm theo một bức th
hết lòng tán dơng Phật giáo rằng: "Phật giáo tuy khó giải thích và khó hiểu,
đây là một thứ học thuyết hay nhất và có thể giúp thực hiện mọi nguyện
vọng" [26, tr. 75]. Điều này đã tác động lớn đến tầng lớp quý tộc Nhật Bản,
đặt vấn đề có nên tiếp nhận tôn giáo mới hay không? Do đó, đã thờng
xuyên xảy ra những cuộc xung đột giữa hai phe phái, đại diện cho phái
chống đối là họ Nakatomi và Mononobe, còn phái ủng hộ Phật giáo là họ
Soga, cuộc đấu tranh giữa hai phái diễn ra trong suốt gần nửa thế kỷ. Cuối
cùng, phái Soga giành thắng lợi. Đến cuối thế kỷ VI, Phật giáo đã trở thành
tôn giáo chính thức của Nhật Bản, khi đó mới chấm dứt đợc những mâu
hình của Trung Quốc, đồng thời trong cải cách Thái tử Kotoku đã tiến hành
ban bố nhiều sắc lệnh. Trong đó, Phật giáo đợc công nhận là quốc giáo,
khuyến khích mỗi quận, mỗi làng đều xây dựng chùa chiền, mỗi ngành,
mỗi nhà đều phải có ngời xuất gia và tăng ni trụ trì ở đền chùa Những nơi
thiếu phơng tiện còn đợc triều đình giúp đỡ. Vì thế nhiều đền chùa nguy
nga đợc dựng lên nhờ sự giúp đỡ của Nhà nớc, những nghi lễ sang trọng
cũng đợc tổ chức dới sự bảo trợ của triều đình hay quý tộc. Vì vậy, đến cuối
thế kỷ VII trong cả nớc đã có trên 450 ngôi chùa.
Đến thế kỷ VIII, hệ thống chính quyền Nhà nớc theo mô hình nhà
Đờng đợc hoàn thành, mở đầu cho thời kỳ Nara. Trong thời kỳ này, do triều
đình muốn khuếch trơng Phật giáo nhằm thống nhất uy quyền chính trị mà
trớc kia bị phân tán bởi chế độ thị tộc, đồng thời cũng muốn xóa nhòa tôn
giáo thị thần ở địa phơng để quy các giai tầng hào tộc vào chung một hệ
thống, chịu sự chi phối của nhà nớc. Để làm đợc điều đó, đối với triều đình,
Phật giáo trở thành một thế lực quan trọng, là một quyền lực thiêng liêng
bảo vệ xứ sở. Một ngôi chùa vĩ đại kiến tạo ở Nara mang tên là Todaiji
(Đông Đại Tự) với tợng Đại Phật uy nghi, làm trung tâm của Phật giáo, liên
23
kết và điều khiển chùa chiền ở các địa phơng. Ngoài ra, triều đình còn có
những u tiên đặc biệt đối với các nhà s, nh: Phong tớc cho các nhà s, còn
nhà chùa thì đợc ban cấp nhiều ruộng đất, miễn thuế. Điều này đã thúc đẩy
cho Phật giáo phát triển nhanh chóng. Nhng dần dần các chùa và giới tăng
lữ do đợc u tiên đã tự do lộng quyền câu kết với các quý tộc ở địa phơng,
giúp cho tầng lớp này không phải đóng thuế rồi chia nhau lợi tức. Do đó, đã
làm cho ngân sách của Nhà nớc ngày càng giảm sút, đời sống nhân dân đói
khổ bên cạnh cuộc sống giàu sang của tầng lớp quý tộc và s sãi. Hơn nữa,
do sự u đãi của triều đình về kinh tế nên các s sãi đã vợt ngoài giới hạn của
lĩnh vực tôn giáo, can thiệp sang lĩnh vực chính trị. Do đợc nữ Thiên hoàng
Shotoku sủng ái, Dokyo trở thành đại thần Thiền s và đợc phong tớc hiệu là
Pháp Vơng, nhng vẫn cha hài lòng, âm mu chiếm cả ngôi Thiên hoàng.
trờng phái phật học ban đầu. Tông phái này chép từ bộ luận đó gọi là Kusha
(Câu Xá Luận) nghĩa là kho tàng của phép siêu hình, cho rằng mọi sự vật
đều tồn tại và coi những yếu tố tâm lý, vật lý trong hoạt động sống của mọi
vật thể là vĩnh hằng.
Một trong những Tông phái khác biệt so với những tông phái khác,
nó không phải là vì giáo lý siêu hình mà vì tính chất thiết yếu đặc biệt của
nó. Đó là Luật Tông (Ritsu), đúng nh tên gọi của nó. Tông phái này không
quan tâm nhiều đến các vấn đề triết lý, mà chỉ chuyên chú vào giới luật, sao
cho đúng sự kế thừa các bậc tu hành. Thực ra nhánh của tông phái này phát
triển nh một sự phản ứng lại với những cái tinh tế siêu hình của các tông
phái khác, và nh một sự phản đối với lối sống buông thả của Tăng Lữ lúc
đó. Vì thế, họ rất coi trọng những cuộc lễ thụ giới, chủ trơng rằng chỉ có
các nhà s nào đợc thụ giới đúng đắn thì mới có thể thụ giới đúng cho ngời
khác đợc.
25