Luận văn đông phương học bước đầu tìm hiểu về sức mạnh mềm của nhật bản - Pdf 22

MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DẪN LUẬN 2
1. Lý do chọn đề tài 2
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề: 2
3. Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu: 3
4. Phƣơng pháp nghiên cứu: 3
5. Đóng góp của đề tài: 4
6. Cấu trúc của đề tài: 4
CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ SỨC MẠNH MỀM 5
1.1. Khái niệm sức mạnh mềm 5
1.1.1. Sức mạnh và sức mạnh cứng 5
1.1.2. Sức mạnh mềm 6
1.2.3. Mối quan hệ giữa sức mạnh mềm và sức mạnh cứng 7
1.2. Sức mạnh mềm trong quan hệ quốc tế 8
CHƢƠNG 2 SỨC MẠNH MỀM CỦA NHẬT BẢN 12
2.1. Chiến lƣợc về sức mạnh mềm của Nhật Bản 12
2.2. Sự triển khai chiến lƣợc sức mạnh mềm của Nhật Bản 14
2.2.1. Trong ngoại giao kinh tế 14
2.2.2. Trong ngoại giao văn hóa 17
2.3. Xu hƣớng sức mạnh mềm Nhật Bản trong thế kỷ XXI 21
CHƢƠNG 3 BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM 23
KẾT LUẬN 26
TÀI LIỆU THAM KHẢO 27

2
DẪN LUẬN
1. Lý do chọn đề tài


lý thuyết sức mạnh mềm đã đƣợc giới học giả các nƣớc phát triển mạnh với một
số đặc điểm riêng.
Đề tài sức mạnh mềm năm 1990 đã đƣợc Joseph S. Nye, giáo sƣ Đại học
Havard, đƣa ra khái niệm sức mạnh mềm trong một bài báo ấn bản số mùa thu
Foreign Policy. Các nghiên cứu về sức mạnh mềm xuất hiện nhiều dƣới dạng
tác phẩm sách xuất bản, bài nghiên cứu trên các tạp chí chuyên ngành của các
nƣớc Mỹ, Trung Quốc, Pháp…Về sức mạnh mềm Nhật Bản đã đƣợc các nhà
lãnh đạo và học giả Nhật Bản quan tâm và có chiến lƣợc phát triển. Thêm vào
đó trận động đất và sóng thần lớn ở phía Đông Nhật Bản vào tháng 03/2011 đã
góp phần làm tăng thêm sự chú ý của thế giới về sức mạnh mềm Nhật Bản. Có
nhiều bài báo nghiên cứu về nó đƣợc đăng trên các tạp chí chuyên ngành tiếng
Anh của các học giả quốc tế và cả học giả Nhật Bản. Tuy nhiên trong quá trình
nghiên cứu, tôi nhìn thấy một thực tế là đề tài sức mạnh mềm chƣa thu hút sự
quan tâm của giới học giả Việt Nam, do đó nguồn tài liệu nghiên cứu chuyên
sâu về sức mạnh mềm Nhật Bản hiện còn rất ít.
3. Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
Nhằm cung cấp cho ngƣời đọc các khái niệm cơ bản về sức mạnh mềm,
khái niệm về lý thuyết sức mạnh mềm nói chung và sức mạnh mềm Nhật Bản
nói riêng.
Trên thực tế, sức mạnh mềm Nhật Bản đƣợc triển khai rất đa dạng trên
nhiều lĩnh vực khác nhau, ngƣời viết giới hạn phạm vi nghiên cứu sức mạnh
mềm Nhật Bản trong hai lĩnh vực: ngoại giao kinh tế và văn hóa. Bài nghiên
cứu cũng đƣa ra xu hƣớng phát triển sức mạnh mềm Nhật Bản trong tƣơng lai
và rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, ngƣời viết đã sử dụng phƣơng pháp nghiên
cứu liên ngành chủ yếu là các ngành: lịch sử, kinh tế học, quan hệ quốc tế, văn
hóa học và một số ngành có liên quan. Ngoài ra, phƣơng pháp tổng hợp và phân
tích, phƣơng pháp logic cũng đƣợc ngƣời viết sử dụng để làm rõ vấn đề.

1.1. Khái niệm sức mạnh mềm
1.1.1. Sức mạnh và sức mạnh cứng
Khái niệm sức mạnh đã ra đời cùng với xã hội loài ngƣời. Không có một tổ
chức hoặc trật tự nào có thể tồn tại mà không có sức mạnh. Một nhà nƣớc cần sức
mạnh để thực hiện chức năng quản lý xã hội. Một nhà nƣớc cần sức mạnh để tồn tại và
phát triển trong mối quan hệ với các quốc gia khác. Do tầm quan trọng của sức mạnh
đối với đối với đời sống chính trị và quan hệ quốc tế, khái niệm này đã đƣợc quan tâm
nghiên cứu từ rất lâu. Theo đó, sức mạnh đƣợc định nghĩa là khả năng điều khiển, kiểm
soát ngƣời khác, khiến ngƣời khác phải thực hiện những việc mà họ sẽ không làm nếu
không bị tác động bởi sức mạnh.
1

Ngoài ra, sức mạnh còn đƣợc cho là khả năng tác động đến hành vi của ngƣời
khác ngƣợc với ý chí của họ để đạt đƣợc kết quả mình mong muốn có thể thực hiện
bằng 2 cách: ép buộc bằng đe dọa và thuyết phục bằng trả giá xứng đáng. Trong một
thời gian dài, khái niệm sức mạnh đƣợc hiểu đồng nghĩa với sức mạnh cứng; theo đó,
hai yếu tố quan trọng nhất để xác định sức mạnh cứng là bạo lực để cƣỡng ép (sức
mạnh quân sự) và của cải để dụ dỗ (sức mạnh kinh tế)
2
. Các quốc gia vận dụng sức
mạnh cứng dƣới nhiều hình thức khác nhau nhƣ buộc quốc gia khác phải thay đổi bằng
cách đe dọa sử dụng quân sự, cấm vận kinh tế hoặc dụ dỗ bằng các ƣu đãi về kinh tế và
bảo hộ an ninh.
Sức mạnh luôn luôn phụ thuộc vào bối cảnh mà trong đó các quan hệ tồn tại.
Vì vậy, nguồn sức mạnh sẽ thay đổi khi bối cảnh lịch sử và chủ thể quan hệ thay đổi.
Trong đó, yếu tố sức mạnh quân sự giữ vị trí thống trị và các quốc gia có vị trí cao
trong sức mạnh quân sự sẽ chi phối quan hệ quốc tế.

1
Robert A. Dahl, Who governs? Democracy and power in an American city (New Haven,

đạt đƣợc mục đích thông qua sức hấp dẫn chứ không phải uy bức hoặc dụ dỗ. Sức hấp
dẫn này đến từ quan điểm giá trị về văn hóa, chính trị và chính sách ngoại giao của một
quốc gia.”
5

Sau Joseph S. Nye, nhiều học giả đã quan tâm nghiên cứu và đƣa ra một số khái
niệm khác về sức mạnh mềm. Một định nghĩa cho rằng: “ Sức mạnh mềm là khả năng
một quốc gia thuyết phục và gây ảnh hƣởng đối với quốc gia khác không phải bằng đe

3
Joseph S. Nye, Jr, 1990, “Soft Power”, Foreign Policy, sđd, trang 23.
4
Joseph S. Nye, Jr., “Redefining the national interest”, Foreign Affairs, tháng 7-8/1999, trang
36.
5
Joseph S. Nye, Jr., Soft power: the means to success in the world politics, Public affairs,
Perseus Books Group, New York, 2004), trang 5-6.
7
doạ hay cƣỡng ép mà bằng sức hấp dẫn của xã hội, giá trị, văn hóa và thể chế của chính
quốc gia đó”
6
.
Qua các định nghĩa trên, ta có thể thấy sức mạnh mềm rộng hơn văn hóa vì văn
hóa chỉ là một trong những nguồn quan trọng tạo nên sức mạnh mềm. Sức mạnh mềm
không chỉ là sức thuyết phục mà còn là khả năng lôi cuốn và hấp dẫn khiến ngƣời khác
tự nguyện làm theo. Vì vậy, ta có thể đƣa ra một định nghĩa khái quát chung về sức
mạnh mềm nhƣ sau: “Sức mạnh mềm là khả năng bằng sức hấp dẫn hay sức thuyết

dạng sức mạnh này.
Ngoài ra, sức mạnh cứng còn có khả năng tạo ra sức mạnh mềm. Một quốc có
thể làm hấp dẫn ngƣời khác bằng những huyền thoại về sức mạnh quân sự và tính bền
vững không gì có thể lay chuyển nổi của hệ thống quốc phòng cực mạnh. Sức mạnh
cứng còn là nền tảng của sức mạnh mềm và ngƣợc lại sức mạnh mềm sẽ tạo ra môi
trƣờng thuận lợi để thực thi sức mạnh cứng. Ngƣời lãnh đạo quốc gia thành công khi
phối hợp nhuần nhuyễn giữa sức mạnh cứng và sức mạnh mềm. Sức mạnh của quốc
gia là tổng hợp của “sức mạnh cứng” và “sức mạnh mềm” đƣợc tạo nên từ cả bên trong
lẫn bên ngoài mỗi quốc gia. Việc kết hợp và sử dụng khéo léo hai loại sức mạnh này sẽ
tạo ra một sức mạnh lớn (Ngoại trƣởng Mỹ Hilary Clinton gọi là “sức mạnh thông
minh”) giúp quốc gia có vị thế quốc tế tốt hơn và có khả năng thực hiện mục tiêu theo
đuổi một cách hiệu quả hơn. Một khi quốc gia đã tạo đƣợc thiện cảm và lòng tin của
các quốc gia khác thì quốc gia đó sẽ nhận đƣợc sự giúp đỡ nhiệt tình về mặt tinh thần
và vật chất hơn các quốc gia khác trong quan hệ quốc tế.
Sức mạnh cứng là lựa chọn tối ƣu khi quốc gia rơi vào tình trạng khủng hoảng
trầm trọng. Sức mạnh mềm có hiệu quả hơn trong các mục tiêu khác nhƣ quảng bá
hình ảnh, xây dựng uy tín cho quốc gia.
Do mối quan hệ gắn bó nhƣ vậy nên nếu sức mạnh cứng không đƣợc vận dụng
thích hợp sẽ gây ảnh hƣởng xấu, thậm chí làm tổn hại đến sức mạnh mềm. Thêm vào
đó, một khi sức mạnh mềm bị suy yếu nó sẽ làm cho sức mạnh tổng thể của một quốc
gia cũng bị suy yếu theo.
Song, có một điểm chung là quốc gia nào càng có ảnh hƣởng sâu rộng, cả về
chính trị, văn hóa và kinh tế, thì quốc gia đó càng cần phải sử dụng song song hiệu quả
cả sức mạnh cứng và sức mạnh mềm.
1.2. Sức mạnh mềm trong quan hệ quốc tế
Thực tiễn lịch sử chính trị - xã hội cho thấy ý nghĩa của sức mạnh mềm phụ
thuộc vào mục đích sử dụng của từng quốc gia, nhằm tranh giành ảnh hƣởng bên ngoài
với các quốc gia khác hay đấu tranh xây dựng và bảo vệ đất nƣớc.
9


giới mà Mỹ đang tiếp tục chi phối.
Nhận thức rõ thực tế đó, Tổng thống Barack Obama, ngay từ khi bƣớc vào Nhà
Trắng, đã thể hiện quyết tâm cải biến nhằm khôi phục lại sức mạnh, uy tín và vị thế của
10
nƣớc Mỹ . Trong Chiến lƣợc An ninh quốc gia công bố gần đây, Nhà Trắng nêu rõ ƣu
tiên sử dụng các biện pháp ngoại giao, đặc biệt là ngoại giao đa phƣơng để giải quyết
các vấn đề về an ninh, kể cả đối với các cuộc chiến tranh ở Irak và Afghanistan hiện
nay. Chiến lƣợc này đã loại cuộc chiến chống khủng bố khỏi chƣơng trình nghị sự và
đặt mục tiêu phục hồi và thịnh vƣợng kinh tế là một ƣu tiên hàng đầu. Chiến lƣợc cũng
khẳng định “bốn lợi ích quốc gia vĩnh viễn có sự liên kết chặt chẽ” của Mỹ là an ninh,
thịnh vƣợng, giá trị và trật tự quốc tế. Điều này cho thấy chính quyền Obama quan tâm
và chú trọng đặc biệt tới sử dụng và phát huy “sức mạnh mềm” để bảo đảm an ninh
quốc gia và thúc đẩy quan hệ đối ngoại.
Trung Quốc trong những năm gần đây cũng đặc biệt tăng cƣờng công cụ “sức
mạnh mềm” trong quan hệ quốc tế. Họ tuyên bố công khai và tích cực triển khai chính
sách “trỗi dậy hoà bình”. Nhờ sự phát triển ngoạn mục về kinh tế trong ba thập kỷ qua,
Trung Quốc đang vƣơn lên thành nền kinh tế thứ hai thế giới sau Mỹ và hiện là nƣớc
dẫn đầu thế giới về xuất khẩu và dự trữ ngoại tệ. Trung Quốc ra sức thể hiện mình là
một dân tộc hoà bình, có nền văn hóa lâu đời giàu bản sắc và là một cƣờng quốc đang
lên, cố gắng hành xử có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế. Họ đặc biệt chú trọng
dùng các biện pháp kinh tế (thông qua viện trợ, đầu tƣ, mở mang thƣơng mại), văn hóa,
giáo dục và khoa học công nghệ để xây dựng và mở rộng ảnh hƣởng của mình ở nhiều
nơi trên thế giới. Với những công cụ này, trong những năm qua, lợi dụng Mỹ tập trung
sức lực chống khủng bố, bị sa lầy ở Afghanistan và Irak, bị suy yếu tƣơng đối về kinh
tế và uy tín chính trị, Trung Quốc đã tranh thủ xâm nhập mạnh và tạo dựng đƣợc
những vị trí đứng chân vững chắc ở châu Phi, Mỹ La-tinh, Đông Nam Á, và do vậy,
cũng đã có đƣợc một thế chiến lƣợc tốt hơn so với trƣớc đây.

12
CHƯƠNG 2
SỨC MẠNH MỀM CỦA NHẬT BẢN

2.1. Chiến lược về sức mạnh mềm của Nhật Bản
Nhật Bản là một đất nƣớc nhỏ về diện tích, nghèo về tài nguyên nên không thể
phát huy đƣợc sức mạnh của mình nếu chỉ dựa vào những đặc điểm tự nhiên ấy, mặt
khác lại là nƣớc thƣờng xuyên bị thiên tai, động đất nên Nhật Bản tự nhận thức đƣợc
hƣớng đi của riêng mình để trở thành một cƣờng quốc trên thế giới. Tuy nhiên, còn
một nguồn sức mạnh khác cũng có thể nâng cao địa vị quốc tế của một quốc gia, đó là
sức mạnh mềm.
Không chỉ đến bây giờ ngƣời Nhật mới ý thức đƣợc điều này, mà từ sau thế
chiến thứ hai, gƣợng dậy từ đống tro tàn, Nhật Bản đã muốn nâng cao tầm ảnh hƣởng
toàn cầu của mình và họ đã vạch ra một chiến lƣợc để quảng bá, để nâng cao vị thế
của mình trên toàn thế giới gọi là “Chiến lƣợc về sức mạnh mềm” trên tất cả các lĩnh
vực kinh tế, ngoại giao, văn hóa, nghệ thuật, thể thao Việc sử dụng sức mạnh mềm
của Nhật Bản, đƣợc nhận thấy rõ nhất nhƣ là một công cụ của chính sách quốc gia có
một vai trò quan trọng trong những nỗ lực của họ để thúc đẩy hòa bình và an ninh
quốc tế.
Tạp chí Time cho rằng hiện Nhật Bản đang ra sức gây ảnh hƣởng bằng văn hóa,
xã hội và kinh tế. Nhƣng ngƣời Nhật thƣờng không muốn cho ngƣời khác biết về
những nỗ lực của mình.
Theo tạp chí Time, Heizo Takenaka, cựu Bộ trƣởng Kinh tế và Chính sách tài
chính Nhật Bản, từng phát biểu: “Sức mạnh mềm là loại vũ khí rất hữu hiệu. Nếu
chúng tôi có những nhà lãnh đạo chính trị phù hợp, nó còn có thể có hiệu quả mạnh
hơn nữa”. Hiện Nhật Bản đang triển khai loại “vũ khí êm ái” này trên nhiều mặt trận.
Các ngân hàng Nhật nhiều tiền lắm của đã rót vốn vào các doanh nghiệp nƣớc ngoài

lực nƣớc ngoài. Có cách nào thu hút những ngƣời nƣớc ngoài có tay nghề tốt hơn tuyên
truyền các giá trị Nhật?
Thứ nhì, các doanh nghiệp Nhật cần không gian phát triển để duy trì tăng trƣởng.
Do đó, họ phải mở rộng hoạt động ra nƣớc ngoài. Theo nghiên cứu của Recof Data
Corp, 10 tháng đầu năm nay, các tập đoàn Nhật đã ra sức mua lại công ty nƣớc ngoài,
tăng gần bốn lần so với cuối năm ngoái với tổng giá trị lên tới gần 67 tỉ USD. Và trong
thời kỳ khủng hoảng kinh tế hiện nay, chiến lƣợc “sức mạnh mềm” của ngƣời Nhật
Bản vẫn đƣợc triển khai một cách ráo riết. 7
Hằng Nga(gt)(12/7/2011), “ Nhật Bản tìm kiếm sự cân bằng giữa quyền lực mềm và quyền lực cứng”,
http://nghiencuubiendong.vn/nghien-cuu-dong-bac-a/1806-1806
14
2.2. Sự triển khai chiến lược sức mạnh mềm của Nhật Bản
Sau khi xây dựng “Chiến lƣợc về sức mạnh mềm”, Nhật Bản không ngừng triển
khai và phát huy tối đa những thế mạnh bằng cách gia tăng sự ảnh hƣởng của mình tới
các nƣớc khác thông qua viện trợ kinh tế, quảng bá văn hóa, khoa học kỹ thuật, giáo
dục, thể thao.v.v…theo những hƣớng sau:
- Xây dựng nƣớc Nhật phát triển kinh tế vƣợt bậc, gặt hái những thành quả to lớn
là việc quảng bá đất nƣớc ra thế giới nhanh nhất.
- Tập trung phát triển công nghệ hiện đại, xây dựng những thƣơng hiệu mạnh.
Chính tinh thần dân tộc đó đã tạo nên nhƣng tập đoàn kinh tế hùng mạnh bậc nhất thế
giới nhƣ Toyota, Sony, Honda, Mitsubish, Panasonic, Canon… là cách thể hiện sức
mạnh mềm của Nhật ra bên ngoài.
- Phát triển viện trợ phát triển chính thức (ODA) cho các nƣớc đang phát triển
nhằm tranh thủ sự ủng hộ của các nƣớc này đối với Nhật Bản trên trƣờng quốc tế.

này đang cố gắng tăng cƣờng ổn định ở khu vực này bằng các chƣơng trình tình
nguyện kết hợp với viện trợ phát triển. Đó là lý do chính mà họ gửi tình nguyện viên
tham gia vào khu vực này. Nhƣng một lý do quan trọng nữa là gìn giữ hòa bình, một
khi hòa bình mất đi, tất cả mọi thứ khác sẽ bị ảnh hƣởng.
Những thành tựu kinh tế của họ từ lâu đã là một thành tích đáng khâm phục và là
ví dụ đầu tiên về sự công nghiệp hóa và sự phồn vinh ngoài phƣơng Tây. Mặc dù kinh
tế của nƣớc này đã phải chịu đựng một sự khủng hoảng kéo dài kể từ khi “bong bóng
kinh tế” nổ tung năm 1989, nhƣng Nhật Bản từ lâu đã là nền kinh tế thứ hai trên thế
giới. Việc Trung Quốc vƣợt qua Nhật Bản trong năm 2010 có thể đƣợc coi là một bƣớc
ngoặt quyết định. Nhƣng ngƣời ta không thể quên mức độ phát triển của Nhật Bản và
vấn đề là Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của họ tính theo đầu ngƣời vẫn cao gấp 10
lần so với của Trung Quốc. Tăng trƣởng kinh tế của họ trong những thập kỷ qua trở
thành một hình mẫu về “nhà nƣớc phát triển” đối với nhiều nƣớc châu Á.
Việc sử dụng sức mạnh mềm của Nhật Bản còn đƣợc nhận thấy rõ nhất nhƣ là
một công cụ của chính sách quốc gia liên quan tới viện trợ phát triển chính thức (ODA).
Chính sách ODA của Nhật Bản luôn chiếm một vai trò quan trọng trong những nỗ lực
của họ để thúc đẩy hòa bình và an ninh quốc tế. Các khoản ODA của Nhật Bản đã tăng
gấp ba từ năm 1980 đến 1990 và nƣớc này trở thành nƣớc viện trợ quan trọng nhất thế
giới. Từ năm 1994 đến 2004, Nhật Bản đã đảm nhận gần 1/5 tổng khối lƣợng ODA thế
giới. Mặc dù phần đóng góp của họ đã giảm kể từ năm 2000 nhƣng nó vẫn có ý nghĩa
với con số 9,699 tỉ USD năm 2008.
Viện trợ kinh tế nhƣ là một sự hỗ trợ vật chất cho nƣớc tiếp nhận không phải là
sức mạnh mềm mà là sức mạnh cứng. Tuy nhiên, những quan điểm quyết định sự phát
16
triển và việc thực hiện ODA là một sự thể hiện sức mạnh mềm của nƣớc cho tặng theo
nghĩa phản ánh những giá trị của xã hội cho tặng.
Chính sách viện trợ phát triển của Tokyo đƣợc dẫn dắt bởi các nguyên tắc, những
trấn an đƣợc cộng đồng quốc tế, đặc biệt là các nƣớc châu Á láng giềng, những nƣớc
vốn nghi ngờ sự hiện diện quốc tế của Nhật Bản theo hƣớng quân phiệt hóa.
Tháng 9/2010, Tokyo đã tham gia 12 hoạt động gìn giữ hòa bình (OMP) của Liên
hợp quốc: Angola (1992), Campuchia (1992), Modambich (1993), Xanvado (1994),
Golan (1996), Timo Leste (2007 và 2010), Nepan (2007), Xudan (2008), Haiti (2010).
Nhật Bản cũng tham gia các hoạt động quốc tế tại Ruanda (1994), tại Timo Leste
(1999), tại Afganistan (2001) và Irak (2003). Những đóng góp đó vẫn còn hạn chế cả
về chất lƣợng và số lƣợng, vì Hiến pháp Nhật Bản không cho phép sử dụng sức mạnh
để giải quyết những bất đồng quốc tế, sự đóng góp trực tiếp của Nhật Bản chỉ hạn chế
ở những hoạt động phi quân sự, gửi ngƣời thực hiện những nhiệm vụ không tham chiến
nhƣ ủng hộ hậu cần, những đóng góp bằng hiện vật hoặc sự ủng hộ kỹ thuật.
Hồi tháng 8 năm 2010, Bộ Ngoại giao Nhật Bản đề xuất tăng 13,6 % ngân sách
viện trợ. Trong tháng 10, ông Aso đã đặt bút ký một khoản cho vay kỷ lục 4,6 tỉ USD
dành cho Ấn Độ. Hồi tháng 5, Nhật cũng cam kết tăng gấp đôi viện trợ cho châu Phi
đến năm 2012. Các khoản trợ giúp nƣớc ngoài không hoàn toàn bất vụ lợi. Khi Chính
phủ Nhật cam kết hỗ trợ tài chính, chẳng hạn, cho một nƣớc châu Phi xây dựng đƣờng
xá, các công ty Nhật sẽ đƣợc lợi.

2.2.2. Trong ngoại giao văn hóa
Ngoài ra, chiến lƣợc sức mạnh mềm của Nhật bản còn tập trung vào việc quảng
bá nền văn hóa đặc sắc của Nhật nhƣ lễ hội hoa anh đào thu hút hàng triệu ngƣời trên
toàn thế giới mỗi năm, Nhật Bản không ngừng quảng bá âm nhạc của mình ra ngoài
thế giới nhƣ J pop, công nghệ xếp hoa giấy, cắm hoa và đặc biệt là kiến trúc Nhật Bản.
Trong lĩnh vực thể thao, ngoài việc quảng bá thành công môn quốc võ Judo ra
khắp thế giới, Nhật Bản cũng không ngừng phát triển võ sumo, karate…, là những môn
võ truyền thống, đặc trƣng của Nhật Bản.
Ngoài việc bảo tồn và gìn giữ những nét văn hóa truyền thống, việc du nhập,
tiếp biến yếu tố văn hóa ngoại lai đã không phá hỏng, làm lai căng nền văn hóa bản xứ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status