1
Luận văn
Tình hình thực hiện đầu
tư KCHT kỹ thuật và
một số giải pháp nâng
cao hiệu quả của hoạt
động này trong thời gian
tới 2 MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 5
PHẦN NỘI DUNG 6
Chương I: Những vấn đề lý luận chung về đầu tư và kết cấu hạ tầng.
7
I) Những khái niệm liên quan đến hoạt động đầu tư kết cấu hạ tầng kỹ thuật. 7
1) Khái niệm về đầu tư (Investment): 7
2) Phân loại hoạt động đầu tư: 7
3) Khái niệm đầu tư cho lĩnh vực kết cấu hạ tầng kỹ thuật. 9
3.1)
Khái niệm kết cấu hạ tầng: 9
3.2)
Mức gia tăng dân số và tốc độ đô thị hoá: 16
3.3)
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế: 17
III) Các chỉ tiêu phản ánh kết quả và hiệu quả của hoạt động đầu tư
KCHT kỹ thuật 17
1) Các chỉ tiêu phản ánh kết quả của hoạt động đầu tư KCHT kỹ thuật 17
1.1)
Khối lượng vốn đầu tư thực hiện: 17
1.2)
Tài sản cố định huy động và năng lực sản xuất phục vụ tăng thêm: 19
2) Hiệu quả của hoạt động đầu tư KCHT kỹ thuật. 20
2.1)
Các quan niệm về hiệu quả hoạt động đầu tư KCHT kỹ thuật: 20
2.2)
Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của hoạt động đầu tư KCHT kỹ thuật. 21
a) Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả đầu tư chung: 21
IV) đánh giá kết quả và hiệu quả của hoạt động đầu tư KCHT kỹ
thuật của nước ta trong những năm qua. 58
1) Hiệu quả của hoạt động đầu tư KCHT kỹ thuật: 58
1.1) Đối với ngành giao thông vận tải: 60
1.2) Đối với ngành bưu chính-viễn thông: 60
1.3) Với ngành điện. 61
1.4) Đối với ngành sản xuất và cung ứng nước. 61
2) Những mặt còn tồn tại và nguyên nhân của nó 62
2.1) Những mặt còn tồn tại: 62
2.2) Nguyên nhân yếu kém của KCHT kỹ thuật: 64
Chương III: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư
KCHT kỹ thuật nước ta trong thời gian tới. 66
I) Định hướng và kế hoạch cho hoạt động đầu tư KCHT kỹ
thuật ở nước ta trong thời gia tới. 66
1) Đối với ngành giao thông vận tải: 674
1.1)
Một số mục tiêu tổng quát của Ngành: 68
1.2)
Mục tiêu đầu tư KCHT giao thông vận tải trên các vùng: 695
1.3)
Mục tiêu đầu tư xây dựng KCHT theo các lĩnh vực của ngành giao thông vận tải. 69
2) Đối với ngành bưu chính-viễn thông: 71
Nâng cao chất lượng của công tác quản lý dự án: 79
1.5)
Cải tiến thể chế quản lý KCHT kỹ thuật: 80
1.6)
Nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp công ích: 80
1.7)
Xây dựng kế hoạch, tiến hành điều chỉnh và định giá lại dịch vụ KCHT kỹ thuật. 81
1.8)
Giải pháp huy động và sử dụng vốn đầu tư KCHT kỹ thuật. 82
1.9)
Giải pháp huy động tài chính cho vận hành, sửa chữa KCHT kỹ thuật 83
1.10)
Đào tạo nhân lực quản lý KCHT kỹ thuật 83
2) Các giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư KCHT kỹ thuật đối vơí từng ngành. 84
2.1)
Đối với ngành giao thông vận tải
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, trong những
năm gần đây nền kinh tế nước ta không ngừng được cải thiện, tốc độ
tăng trưởng kinh tế cao, cơ sở vật chất kỹ thuật ngày càng được mở rộng,
đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện, quan hệ hợp tác giữa nước
ta với các nước trên thế giới ngày càng nhiều…
Cùng với quá trình phát triển kinh tế-xã hội, với quan điểm “đầu tư
KCHT phải đi trước một bước để tạo thế phát triển vững chắc cho tương
lai”, cho đến nay hệ thống KCHT nói chung và KCHT kỹ thuật của
nước ta đã thay đổi rõ rệt, tác động không nhỏ đến tốc độ phát triển kinh
tế, điều chỉnh cơ cấu kinh tế, phân phối thu nhập, tạo ra sự phát triển bền
vững giữa các vùng…
Tuy nhiên, bên cạnh sự phát triển đó, KCHT kỹ thuật ở nước ta
cũng bộc lộ một số tồn tại như: hệ thống KCHT chưa đồng bộ, xuống
cấp nghiêm trọng, chất lượng dịch vụ KCHT còn thấp…, nguyên nhân
chính là do hiệu quả của hoạt động đầu tư KCHT kỹ thuật chưa cao.
Xuất phát từ mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội của nước ta trong
thời gian tới và từ thực tiễn của hoạt động đầu tư KCHT kỹ thuật, sau
một thời gian thực tập tại ban KCHT và đô thị-Viện Chiến lược phát
triển-Bộ kế hoạch và Đầu tư trên cơ sở những kiến thức thu được sau
thời gian học tại trường ĐH KTQD Hà Nội, nhận thức được vai trò của
hoạt động đầu tư KCHT kỹ thuật đối với quá trình phát triển kinh tế-xã
hội của đất nước, em đã chọn đề tài:“ Tình hình thực hiện đầu tư
KCHT kỹ thuật và một số giải pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động
này trong thời gian tới”.
Đầu tư KCHT kỹ thuật là lĩnh vực rất rộng, trong phạm vi đề tài
này em xin giới hạn phạm vi nghiên cứu của mình vào 4 ngành chính là:
Giao thông-Vận tải, Bưu chính-Viễn thông, Điện và ngành nước.
Chuyên đề này sử dụng các phương pháp nghiên cứu như duy vật
biện chứng, dựa trên quan điểm của Đảng và Nhà nước, kết hợp với
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ
ĐẦU TƯ VÀ KẾT CẤU HẠ TẦNG.
Chính sách coi đầu tư kết cấu hạ tầng phát triển hơn một bước của
Đảng và Nhà nước đã và đang đưa nền kinh tế nước ta đi lên. Nó chính
là nền tảng tạo đà cất cánh cho nền kinh tế, phần viết sau sẽ trình bày về
những khái niệm về đầu tư kết cấu hạ tầng, vai trò và tác động của nó đối
với nền kinh tế quốc dân, các chỉ tiêu phản ánh kết quả của hoạt động
đầu tư này…
I) NHỮNG KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN HOẠT ĐỘNG ĐẦU
TƯ KẾT CẤU HẠ TẦNG KỸ THUẬT.
Khái niệm về đầu tư (Investment):
Hoạt động đầu tư diễn ra rất đa dạng ở mọi lĩnh vực, tương ứng với
nó là quan niệm khác nhau về đầu tư. Nếu như ở góc độ tài chính cho
rằng: đầu tư là chuỗi các dòng thu nhằm hoàn vốn và sinh lời, thì ở góc
độ tiêu dùng: đầu tư là sự hy sinh tiêu dùng hiện tại để đạt được tiêu
dùng nhiều hơn trong tương lai. Vậy thực chất đầu tư là gì ?
Đầu tư là hình thức bỏ vốn cùng các nguồn lực khác ở hiện tại để
tiến hành một hoạt động nào đó nhằm tạo ra hoặc khai thác sử dụng một
hay nhiều tài sản với mục đích thu về các kết quả có lợi hơn trong tương
lai.
Như vậy, hoạt động đầu tư diễn ra và ở hiện tại nhưng sẽ thu được
kết quả ở trong tương lai. Các kết quả ấy có thể phát huy tác dụng trong
thời gian khá lâu, nhất là đối với hoạt động đầu tư kết cấu hạ tầng như:
giao thông, điện, nước Các nguồn lực được sử dụng cho hoạt động đầu
tư là rất rộng, bao gồm của cải vật chất, sức lao động, công nghệ, trí tuệ,
tiền bạc, uy tín
1) Phân loại hoạt động đầu tư:
Hoạt động đầu tư rất đa dạng, tác động của nó đối với nền kinh tế
rất lớn. Vì vậy, việc kế hoạch hoá và quản lý nó là rất cần thiết. Để làm
được điều này, cần phải tiến hành phân loại hoạt động đầu tư. Tuỳ theo
quả đầu tư, người ta có thể chia hoạt động đầu tư thành đầu tư phát triển
sản xuất kinh doanh, đầu tư phát triển khoa học kỹ thuật, đầu tư phát
triển kết cấu hạ tầng Các hoạt động đầu tư này có quan hệ tương hỗ
với nhau:
- Đầu tư phát triển khoa học kỹ thuật và kết cấu hạ tầng tạo điều
kiện cho đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh đạt được hiệu quả cao.
- Đầu tư sản xuất kinh doanh đến lượt mình lại tạo điều kiện cho
đầu tư phát triển khoa học kỹ thuật, kết cấu hạ tầng và hoạt động đầu tư
khác.
Đầu tư kết cấu hạ tầng và nhất là kết cấu hạ tầng kỹ thuật trong nền
kinh tế quốc dân là tiền đề, là cơ sở vật chất cho các hoạt động đầu tư
khác phát triển. Nó đòi hỏi phải đi trước một bước và cần phải có sự 9 hoàn thiện, người ta ví nó như “đầu tàu” để “kéo” nền kinh tế theo đà
phát triển. Vậy đầu tư kết cấu hạ tầng là gì ?
Khái niệm đầu tư cho lĩnh vực kết cấu hạ tầng kỹ thuật.
3.1) Khái niệm kết cấu hạ tầng:
Kết cấu hạ tầng là tổng hợp các công trình vật chất kỹ thuật có chức
năng phục vụ trực tiếp cho sản xuất và đời sống của nhân dân, được bố
trí trên một phạm vi lãnh thổ nhất định.
Như vậy, các công trình, kết cấu vật chất kỹ thuật ở đây rất đa dạng
như: các công trình giao thông vận tải (đường xá, cầu cống, sân bay );
các công trình của ngành bưu chính-viễn thông (hệ thống đường cáp
quang, các trạm, vệ tinh ) hay các công trình của ngành điện (đường
dây, nhà máy phát điện ).
Các công trình này có vị trí hết sức quan trọng, phục vụ trực tiếp và
phát, chuyển phát thông tin, tem thư, báo chí, vô tuyến truyền tin Nó
phục vụ cho nhu cầu giao tiếp, liên lạc trong cả hoạt động sản xuất và
đời sống xã hội
- Các công trình thiết bị truyền tải và cung cấp điện: bao gồm hệ
thống các nhà máy nhiệt điện, thuỷ điện, các hệ thống dẫn dầu, khí
đốt, và mạng lưới đường dây dẫn điện. Nó cung cấp năng lượng cho
các hoạt động sản xuất kinh doanh và đời sống xã hội.
- Mạng lưới cung cấp nước: bao gồm các nhà máy, hệ thống ống
dẫn nước, các trạm bơm phục vụ, cung cấp nước tiêu dùng sinh hoạt và
cho sản xuất.
Sơ đồ phân loại kết cấu hạ tầng: 3.3) Các khái niệm đầu tư kết cấu hạ tầng kỹ thuật:
Đầu tư kết cấu hạ tầng kỹ thuật là hoạt động đầu tư phát triển của
Nhà nước, của các đơn vị kinh tế, tư nhân hay của các địa phương vào
các công trình, hạng mục công trình của các lĩnh vực như: giao thông
vận tải, bưu chính viễn thông, điện, nước.
K
Ế
T C
C
ơ
s
ở
giáo d
ụ
c, h
ệ
th
ố
ng
trường học
- Các trạm y tế, bệnh viện
- Khu vực vui chơi giải trí,
công viên 11 Người ta ví kết cấu hạ tầng như là các “bánh xe của cỗ xe kinh tế”.
Vai trò của hoạt động đầu tư kết cấu hạ tầng trong nền kinh tế quốc dân
sẽ được trình bày ở phần sau. Tuy nhiên có thể thấy được phần nào vai
trò của nó qua kết quả đánh giá của Ngân hàng thế giới: hễ đầu tư cho
kết cấu hạ tầng tăng thêm 1% thì GDP cũng tăng thêm 1% và bình quân
hàng năm một người dân nhận được 0,3% nước sạch; 0,8% mặt đường
trải nhựa; 1,5% năng lượng và 1,7% về thông tin liên lạc.
Vốn đầu tư trong lĩnh vực kết cấu hạ tầng kỹ thuật:
4.1) Khái niệm:
Trong nền kinh tế thị trường, tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất
kiều bào của Việt Nam ở nước ngoài
- Vốn huy động từ nhân dân bằng tiền, vật liệu, sức lao động
- Vốn đầu tư kết cấu hạ tâng kỹ thuật từ nội bộ doanh nghiệp, đơn
vị sản xuất kinh doanh thông qua các quỹ phát triển, quỹ khấu hao
Vốn đầu tư kết cấu hạ tầng được hình thành từ các nguồn ngoài
nước: Nguồn vốn đầu tư này không thể thiếu được đối với quá trình xây
dựng và phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng của các quốc gia nói chung
và Việt Nam nói riêng. Nguồn này bao gồm:
- Nguồn viện trợ, nguồn vốn vay của các quốc gia phát triển, của
các tổ chức quốc tế: (WB, ADB, OECF ), của các tổ chức chính phủ và
phi chính phủ.
- Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào các lĩnh vực
giao thông vận tải, bưu chính viễn thông,điện, nước thông qua các hình
thức: liên doanh, liên kết, 100% vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, hình
thức BOT, BTO,BT
4.3) Mối quan hệ giữa các nguồn vốn đầu tư kết cấu hạ tầng:
Vốn đầu tư KCHT được hình thành từ nguồn nước ngoài sẽ lớn
hơn, trở lên hấp đẫn hơn nếu như nguồn vốn đầu tư KCHT trong nước có
hiệu quả. Bởi lẽ trong giai đoạn đầu, khi mà KCHT còn nghèo nàn, lạc
hậu thì nguồn vốn trong nước cho lĩnh vực này sẽ là chủ yếu. Khi nguồn
vốn đó được sử dụng có hiệu quả, nghĩa là hệ thống KCHT tốt sẽ là điều
kiện, là tiền đề và trở lên hấp dẫn cho việc thu hút các nguồn vốn đầu tư
vào lĩnh vực KCHT. Ngược lại, khi vốn đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực
kết cấu hạ tầng lớn sẽ làm giảm đáng kể chi phí trong nước vào lĩnh vực
này mà dành nhiều hơn cho hoạt động đầu tư phát triển khác. Tuy nhiên,
cần phải luôn chú ý về tỷ trọng giữa hai nguồn vốn đó sao cho hiệu quả
đầu tư là lớn nhất. Theo kết quả phân tích thì tỷ trọng giữa vốn đầu tư
trong nước và nước ngoài vào lĩnh vực KCHT kỹ thuật là 3:1 thì hợp lý.
Mặt khác ở từng nguồn vốn cũng có mối quan hệ với nhau, chẳng
hạn: nếu nguồn vốn Ngân sách lớn sẽ gây ra gánh nặng cho Nhà nước và
lượng công trình, việc sử dụng, việc duy tu, bảo dưỡng nó. Tuổi thọ của
các công trình này thường từ 25 năm đến 50 năm và có thể lâu hơn.
- Tuổi thọ kinh tế: là thời gian tối đa mà công trình đó có thể hoạt
động mang lại lợi ích cho nền kinh tế.
- Các công trình KCHT còn được sử dụng để tạo ra dịch vụ KCHT.
Tuổi thọ của dịch vụ KCHT là số năm mà KCHT kỹ thuật có thể khai
thác đạt được các tiêu chuẩn, chỉ tiêu kỹ thuật.
Như vậy, việc làm tốt công tác duy tu, bảo dưỡng sẽ làm cho tuổi
thọ thực tế cao hơn tuổi thọ thiết kế, tuổi thọ kinh tế và tuổi thọ dịch vụ
kết cấu hạ tầng kéo dài.
Các công trình KCHT kỹ thuật và các dịch vụ của nó là loại hàng
hoá công cộng hoặc đôi khi là hàng hoá tư được cung cấp dưới hình thức
công cộng. 14 - Hàng hoá tư: vừa có tính “kình địch” (nghĩa là người này dùng
nhiều thì người khác dùng ít đi) và vừa có tính “ngăn cản” (có thể bị
ngăn cản không cho sử dụng, chẳng hạn như không trả tiền).
- Hàng hoá công cộng: có tính “không kình địch”, “không ngăn
cản” và đôi khi có cả tính “không thể từ chối” (dù không muốn, chẳng
hạn đê điều).
Chính đặc điểm đó đã hạn chế việc đầu tư tư nhân vào lĩnh vực
KCHT, mà chỉ Nhà nước mới đủ lực để đầu tư vào lĩnh vực này. Mặt
khác trong một số trường hợp thì quy mô sản xuất càng lớn sẽ dẫn tới chi
phí càng nhỏ. Do vậy, độc quyền có lợi hơn cạnh tranh. Chí vì lẽ đó sự
tham gia quản lý và đầu tư của Nhà nước là cần thiết.
Hoạt động đầu tư KCHT kỹ thuật diễn ra ở tất cả các địa phương
nhưng vẫn không vượt qúa những lợi thế mà điều kiện dịch vụ hạ tầng
mang lại. Đây cũng chính là vai trò thu hút vốn đầu tư từ các nguồn vốn
trong nước và nước ngoài vào các hoạt động đầu tư phát triển kinh tế-xã
hội của lĩnh vực KCHT kỹ thuật.
Đầu tư KCHT kỹ thuật tác động thúc đẩy tăng trưởng GDP:
Theo kết quả phân tích của Ngân hàng thế giới, cứ đầu tư cho
KCHT kỹ thuật tăng thêm 1% thì GDP cũng tăng tương ứng 1%.
Mối quan hệ gữa đầu tư KCHT kỹ thuật với GDP được thể hiện qua
công thức:
Tốc độ tăng GDP
(g)
=
Vốn đầu tư KCHT kỹ
thuật
(I
KCHT
)
ICOR
Trong thời kỳ suy giảm, việc đầu tư mạnh vào KCHT kỹ thuật sẽ là
công cụ, chính sách để kích thích sự phục hồi nền kinh tế.
Vai trò duy trì phát triển bền vững:
- Với vai trò chất xúc tác đầu tư, đầu tư KCHT có thể sử dụng như
một công cụ để điều tiết tốc độ tăng trưởng các vùng, hướng tới mục tiêu
phát triển đồng đều (theo nghĩa đồng đều về trình độ phát triển kinh tế và
xã hội) trên cơ sở phát huy lợi thế của mỗi vùng. Điều đó tạo tiền đề cho
việc duy trì phát triển bền vững.
- Tác động giảm đói nghèo của đầu tư KCHT cũng rõ rệt. Nâng cấp
điều kiện KCHT tại các vùng sâu, vùng xa (Cấp nước sạch, cấp điện, mở
3.1) Tăng trưởng kinh tế:
Tốc độ tăng trưởng kinh tế có động lực chủ yếu là sự chuyển dịch
cơ cấu theo hướng tăng quy mô khu vực công nghiệp và dịch vụ, những
ngành có tốc độ tăng trưởng nhanh. Do đó, cùng với tăng trưởng nhanh,
nhu cầu đầu tư Giao thông vận tải, Điện, nước và Bưu chính viễn thông
ngày càng lớn (đặc biệt nhu cầu cho sinh hoạt sẽ tăng nhanh).
3.2) Mức gia tăng dân số và tốc độ đô thị hoá:
Quy mô và tốc độ gia tăng dân số luôn gây ra áp lực về quy mô đầu
tư KCHT kỹ thuật.
Tốc độ đô thị hoá đang diễn ra ở tất cả các nước, đặc biệt ở các
nước đang phát triển. Ở Việt nam, mức độ đô thị hoá mới chỉ đạt 20%
(còn kém xa mức trung bình của khu vực Châu Á là 29%), tốc độ đô thị
hoá của nước ta trong những năm tới sẽ là rất lớn.
Cùng với quá trình này, nhu cầu về kết cấu hạ tầng nói chung và
KCHT kỹ thuật nói riêng là rất lớn. Nhu cầu về điện, nước, giao thông
vận tải và bưu chính viễn thông sẽ đặt ra cả cho xây dựng mới lẫn cho
cải tạo, nâng cấp các khu vực đô thị hiện có nhằm khắc phục tình trạng
quá tải. 17 3.3) Chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
Đi đôi với chuyển dịch cơ cấu kinh tế, các động thái chuyển dịch cơ
cấu sau đây sẽ tác động mạnh đến quy mô và cơ cấu đầu tư KCHT kỹ
thuật:
Chuyển dịch cơ cấu vốn sang khu vực công nghiệp chế biến và
dịch vụ là những ngành có nhu cầu KCHT kỹ thuật rất lớn.
Chuyển dịch cơ cấu lao động sang khu vực công nghiệp và dịch
Khối lượng vốn
đầu tư KCHT
=
Khối lượng công
tác xây dựng
KCHT hoàn thành
x
Đơn
giá
+
Phụ
phí
+
Lãi
định
mức
Tức là:
I
vc
=
Q
xi
x P
i
+ C
cơ sở hoặc của dân, các chủ đầu tư cần căn cứ vào quy định, định mức
đơn giá chung của Nhà nước, vào điều kiện thực hiện đầu tư và hoạt 19 động cụ thể của mình để tính vốn đầu tư thực hiện theo từng công trình,
từng dự án và theo từng thời kỳ.
1.2) Tài sản cố định huy động và năng lực sản xuất phục vụ tăng thêm:
Tài sản cố định huy động: là các công trình hay hạng mục công
trình, đối tượng xây dựng có khả năng phát huy tác dụng độc lập, đã kết
thúc quá trình xây dựng, mua sắm, đã làm xong thủ tục nghiệm thu sử
dụng, có thể đi vào hoạt động được ngay.
Năng lực sản xuất phục vụ tăng thêm: là khả năng đáp ứng nhu
cầu sản xuất phục vụ của tài sản cố định đã được huy động vào sử dụng
để sản xuất ra sản phẩm hoặc tiến hành các hoạt động dịch vụ theo quy
định được ghi trong dự án đầu tư.
Tài sản cố định được huy động ở đây bao gồm huy động toàn bộ và
huy động bộ phận.
- Huy động bộ phận là việc huy động từng đối tượng, từng hạng
mục xây dựng của công trình vào hoạt động ở những thời điểm khác
nhau do thiết kế quy định.
- Huy động toàn bộ là huy động cùng một lúc tất cả các đối tượng,
hạng mục xây dựng không có khả năng phát huy tác dụng độc lập đã kết
thúc quá trình xây dựng, mua sắm và sẵn sàng có thể sử dụng ngay.
Với các công cuộc đầu tư quy mô lớn, có nhiều đối tượng, hạng
mục xây dựng có khả năng phát huy tác dụng độc lập thì được áp dụng
hình thức huy động bộ phận sau khi từng đối tượng, hạng mục đã kết
thúc quá trình xây dựng, mua sắm, lắp đặt. Đối với các công cuộc đầu tư
Vốn đầu tư
thực hiện ở kỳ
trước chưa
phát huy tác
dung chuyển
sang
+
Vốn đầu
tư thực
hiện kỳ
nghiên
cứu
-
Chi pphí
không
làm tăng
giá trị
TSCĐ
-
Vốn đầu tư
chưa huy
động chuyển
sang kỳ sau
(F) (I
vb
) (I
quả cuối cùng trong số vốn đầu tư đã được thực hiện như: hệ số huy
động tài sản cố định, tỷ lệ huy động các công trình, đối tượng của dự án;
hay các chỉ tiêu phản ánh cường độ thực hiện đầu tư và kết quả cuối
cùng của đầu tư như: vốn đầu tư thực hiện của một đơn vị tài sản cố định
huy động
Hiệu quả của hoạt động đầu tư KCHT kỹ thuật.
2.1) Các quan niệm về hiệu quả hoạt động đầu tư KCHT kỹ thuật:
Hiệu quả hoạt động đầu tư là mối quan tâm và là mục tiêu của các
ngành và toàn bộ nền kinh tế. Bởi lẽ: hiệu quả của hoạt động đầu tư là
kết quả hữu ích do sự phát huy tác dụng của kết quả đầu tư mang lại cho
nền kinh tế-quốc dân. Hiệu quả hoạt động đầu tư là sử dụng lực lượng
sản xuất xã hội trong các mối quan hệ giữa sản xuất và đời sống xã hội
của con người.
Hiệu quả của hoạt động đầu tư KCHT kỹ thuật không chỉ chứa
đựng nội dung kinh tế của sản xuất mà còn gắn với xã hội. Hiệu quả đầu 21 tư KCHT kỹ thuật còn là cơ sở để thoả mãn nhu cầu vật chất, văn hoá
của nhân dân, tức là đạt “hiệu quả xã hội”. Như vậy, hiệu quả của hoạt
động đầu tư KCHT kỹ thuật bao gồm cả hiệu quả kinh tế lẫn hiệu quả
này được xem xét, đánh giá ở hai góc độ:
Dưới góc độ vi mô: Là chênh lệch giữa thu nhập và chi phí bỏ ra
mà dự án mang lại, đó là lợi nhuận. Đây là hiệu quả được xem xét ở góc
độ một doanh nghiệp hay một đơn vị nên mục tiêu lợi nhuận được đặt
lên hàng đầu.
Dưới góc độ vĩ mô: Đây là hiệu quả được xem xét dưới góc độ
toàn bộ nền kinh tế, nó không chỉ bao gồm hiệu quả kinh tế mà còn gồm
là thu nhập còn lại sau khi đã trừ đi tất cả các khoản chi phí của cả đời
dự án. 22 Chỉ tiêu này được tính toán theo công thức sau đây: Hoặc: Với NPV là thu nhập thuần ở mặt bằng hiện tại, B
i
là thu nhập năm
i, C
i
là chi phí năm i, SV
PV
là giá trị còn lại đưa về thời điểm ban đầu, Iv
0
là vốn đầu tư ban đầu.
NPV >= 0 được coi là có hiệu quả về mặt tài chính, chỉ tiêu này
càng lớn thì càng tốt.
Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời của vốn đầu tư (hệ số thu hồi vốn đầu tư-
RR): phản ánh mức độ lợi nhuận thuần (Lợi nhuận ròng) thu được từ
một đơn vị vốn đầu tư KCHT kỹ thuật.
Chỉ tiêu này được tính toán theo công thức sau đây:
O
i
Hoặc L
WC
=
O
i
W
Ci
W
ci
Với O
i
; O
i
; W
ci
; W
ci
thứ tự là doanh thu thuần năm i; doanh thu
thuần bình quân năm cả thời kỳ hoạt động; vốn lưu động bình quân năm
i và bình quân cả thời kỳ nghiên cứu.
0
00
)1(
1
*
i
i
i
n
i
i
i
r
C
r
BNPV
00
)1(
1
*
)1(
1
* 23 Chỉ tiêu thời hạn thu hồi vốn đầu tư: là thời gian cần thiết để thu
hồi đủ vốn đã bỏ ra. Chỉ tiêu này được tính như sau:
T
=
W
Pv
Với B
i
và C
i
thứ tự là thu nhập và chi phí năm thứ i.
IRR có thể được tính theo công thức sau:
)(
12
21
1
1
rr
NPVNPV
NPV
rIRR
Với các điều kiện sau: r
2
> r
1
, NPV
1
> 0 và gần 0, NPV
2
> 0 và gần 0,
r
2
-r
1
24 c) Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế-xã hội của hoạt động đầu
tư KCHT kỹ thuật.
Xem xét hiệu quả kinh tế-xã hội của hoạt động đầu tư KCHT kỹ
thuật là hết sức cần thiết bởi lẽ: đầu tư cho lĩnh vực KCHT kỹ thuật là
hoạt động đầu tư công cộng vì thế có những công cuộc đầu tư mang lại
hiệu quả về mặt tài chính là rất rõ ràng nhưng chưa chắc đã mang lại
hiệu quả cho xã hội; ngược lại, hầu hết các công trình KCHT kỹ thuật
đều mang lại hiệu quả kinh tế-xã hội rất to lớn mặc dù lợi ích về mặt tài
chính có thể chưa rõ ràng.
Vậy lợi ích kinh tế xã hội là gì? đó chính là chênh lệch giữa lợi
ích mà nền kinh tế-xã hội thu được so với các đóng góp mà nền kinh tế
và xã hội đã phải bỏ ra khi thực hiện đầu tư.
Khi thực hiện một công cuộc đầu tư KCHT kỹ thuật cần phải xác
định vị trí nó trong kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, tiếp đó là xem xét
mức đóng góp của hoạt động đó vào việc thực hiện các mục tiêu phát
triển kinh tế-xã hội của đất nước như thế nào.
Để xác định hiệu quả hoạt động đầu tư KCHT kỹ thuật, người ta sử
dụng các chỉ tiêu mang tính chất định tính và các chỉ tiêu mang tính chất
định lượng sau:
Các chỉ tiêu định tính phản ánh hiệu quả hoạt động đầu tư
KCHT kỹ thuật:
-Tác động đến quá trình phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, ở
các địa phương nghèo, các vùng xa xôi, dân cư thưa thớt
-Nâng cao mức sống của dân cư thông qua các chỉ tiêu như: mức
gia tăng sản phẩm quốc dân, mức gia tăng tích luỹ vốn, mức gia tăng đầu
i
)
Công thức cụ thể là:
i
s
n
i
ii
i
s
n
i
i
r
DMI
r
ONVA
)1(
1
*)(
)1(
1
*
00
ONNVA
)1(
1
*)(
)1(
1
*
00
- Chỉ tiêu số lao động có việc làm do thực hiện đầu tư và số lao
động có việc làm tính trên 1 đơn vị giá trị vốn đầu tư: số lao động có
việc làm ở đây bao gồm cả số lao động có việc làm trực tiếp cho hoạt
động đầu tư và số lao động có việc làm gián tiếp của các hoạt động khác
có liên quan.
- Chỉ tiêu số lao động có việc làm trên một đơn vị vốn đầu tư.
- Chỉ tiêu mức giá trị gia tăng của mỗi nhóm dân cư hoặc vùng lãnh
thổ: chỉ tiêu này phản ánh tác động điều tiết thu nhập giữa các nhóm dân
cư hoặc vùng lãnh thổ.
- Chỉ tiêu ngoại hối ròng: chỉ tiêu này cho biết mức độ đóng góp
của hoạt động đầu tư vào cán cân thanh toán của nền kinh tế.
- Chỉ tiêu khả năng cạnh tranh quốc tế: chỉ tiêu này cho phép đánh
giá khả năng cạnh tranh của sản phẩm do hoạt động đầu tư trên thị
trường quốc tế.