Luận văn đông phương học tìm hiểu về onsen (suối nước nóng nhật bản) - Pdf 22


1
DẪN LUẬN
1. Lý do chọn đề tài.
Bên cạnh các loại hình du lịch sinh thái, văn hóa …. thì loại hình du lịch suối
nước nóng cũng được người Nhật đặc biệt quan tâm. Nhật Bản là một nước có nhiều
núi lửa nhất trên thế giới nên hàng năm nhiều trận động đất xảy ra gây thiệt hại vô
cùng to lớn về vật chất, của cải, sinh mệnh. Nhưng nguồn núi lửa cũng là một trong
những nguyên nhân làm cho nguồn suối nước nóng ở Nhật lại dồi dào và phong phú.
Với sự hình thành và phát triển hàng ngàn năm, suối nước nóng đã ngày càng khẳng
định được vị thế của mình trong cuộc sống của người Nhật. Ngay từ thời Cổ đại,
suối nước nóng đơn giản chỉ là một ao nước, một hồ nước, hay một con suối chảy từ
nguồn nước nóng nhưng qua thời gian, con người đã từng bướ
c khai thác và phát
triển nguồn tài nguyên quí giá này. Bên cạnh các suối, hồ nước nóng là những căn
nhà gỗ với nhiều phòng trọ dành cho du khách. Ngày nay suối nước nóng được phát
triển như một hình thức kinh doanh rất phát triển ở Nhật Bản. Những khu nhà nghỉ
có suối nước nóng được hình thành ở các vùng nông thôn xa xôi kèm theo các dịch
vụ khác như khách sạn, nhà hàng với các món ăn đặc sản của miền quê, sân tennis,
sân golf, hoặc có các phòng Supper sento (siêu phòng tắm công cộng) - kiểu phòng
tắm giống phòng tắ
m hơi của phương Tây. Vào năm 2003 khu suối nước nóng
LaQua (
ラクーア) được thành lập ngay tại trung tâm Tokyo và kèm theo các dịch vụ
khác như dịch vụ nhà hàng, khách sạn, tiệm spa dành cho nữ giới , thu hút được rất
nhiều du khách. Từ xa xưa, người Nhật đã thích tắm suối nước nóng, vừa tắm, vừa
ngắm cảnh, thư giãn trong dòng nước ấm áp, giải tỏa căng thẳng sau những ngày
tháng làm việc mệt nhọc. Việc hàng năm đi tắm suối nước nóng dường như đã tr

thành thói quen không chỉ của người Nhật mà thậm chí cả du khách nước ngoài. Tại
các khu suối nước nóng, khách du lịch không chỉ được ngâm mình trong dòng nước

về suối nuớc nóng Nhậ
t Bản. Trong luận văn này, nguời viết tham khảo về khía
cạnh nhà tắm cộng cộng (quá trình hình thành và phát triển). Đặc biệt phần nhà tắm
công cộng là một tư liệu quí giá trong quá trình hoàn thành luận văn.
Về tài liệu nước ngoài, có thể kể đến một số cuốn sách sau:

3
Cuốn “Japan’s hidden hot spring”( những suối nước nóng ẩn mình của Nhật
Bản ), tác giả Robert Neff, NXB Tuttle, xuất bản năm 1995, giới thiệu 87 khu nghỉ
mát với các suối nước nóng nằm sâu trong núi và những thôn xóm Nhật Bản, những
nơi mà ngay cả nhiều người Nhật cũng chưa bao giờ được nghe nói tới.
Cuốn “Onsen to Nihonjin”(
温泉と日本人
)( người Nhật và Suối nước nóng),
tác giả Yatsuiwa Madoka, nhà xuất bản JouHou, xuất bản vào năm 2002 gồm có 7
chương. Chương 1 viết về suối nước nóng và con người thời Cổ đại. Chương 2 đề
cập đến sự lan rộng việc sử dụng suối nước nóng đến tầng lớp võ sĩ. Chương 3 nói
lên suối nước nóng từ việc mang tính chất học thuật đến mang yếu tố thầ
n thánh.
Chương 4 đề cập đến hương vị của suối nước nóng khi đi du lịch. Chương 5 phân
tích suối nước nóng tự nhiên vượt qua năng lực con người. Chương 6 suối nước
nóng cùng với sự cạnh tranh và sự khai hóa. Chương 7 trình bày vùng đất suối nước
nóng đi đến thời đại cá tính hóa. Đây là cuốn sách tiếng Nhật khá chi tiết về suối
nước nóng.
Cuốn “Nishikie ni miru nihon no onsen”(
錦絵に見る日本の温泉
) (suối
nước nóng nhìn từ những bức tranh Nishiki thời Cổ đại), tác giả Kikurashi Kintaifu
(気暮金太夫),
NXB Kokushokankoukai (Hội xuất bản sách quốc gia), xuất bản vào

5. Kết quả đạt được của đề tài.
Qua quá trình nghiên cứu, đề tài đạt được kết quả sau:
Hiểu biết về suối nước nóng Nhật Bản (Nguồn g
ốc hình thành và quá trình
phát triển, dịch vụ suối nước nóng cũng như ý nghĩa của nó trong đời sống người
Nhật Bản), vận dụng kiến thức phát triển loại hình du lịch suối nước nóng của Nhật
Bản vào Việt Nam.
6. Những dự kiến nghiên cứu tiếp tục của đề tài.
Người viết thiết nghĩ bên cạnh dịch vụ suối nước nóng thì các hình thức
dịch vụ
kèm theo như nhà hàng, khách sạn, phòng tắm hơi cũng là một loại hình
góp phần phát triển ngành du lịch nghỉ dưỡng của Nhật Bản. Vì vậy, nếu được
nghiên cứu tiếp tục, người viết sẽ nghiên cứu về các loại hình du lịch xung quanh
suối nước nóng và vai trò của nó trong ngành du lịch Nhật Bản.

5
7. Phương pháp nghiên cứu.
Phương pháp phân tích, tổng hợp các nguồn tài liệu, chọn lọc nguồn tài liệu
cần thiết cho đề tài.
Phương pháp lịch sử: phần nguồn gốc hình thành và quá trình phát triển suối
nước nóng có dùng phương pháp lịch sử để tái hiện những giai đoạn phát triển của
suối nước nóng cũng như thời kỳ bị tàn phá bởi thiên tai để thấy rõ việc kinh doanh
phát triển suối n
ước nóng không hề đơn giản (Chương I).
Phương pháp tổng hợp liên ngành: đề tài có tổng hợp nghiên cứu nhiều
ngành khác nhau như sử học, địa lý học, mỹ thuật học,… khái quát được vị trí các
suối nước nóng, vai trò của nó trong đời sống người Nhật cả về vật chất lẫn tinh thần.
Phương pháp thống kê: thống kê số lượng những người yêu thích suối nước
nóng Nhật Bản t
ừ năm 2006 đến năm 2008.

7
CHƯƠNG I : KHÁI QUÁT ONSEN
NHẬT BẢN
1.1 Định nghĩa suối nước nóng.
 Theo tiếng Hán:
Trong tiếng Hán Onsen (
温泉) là Ôn Tuyền. “Ôn” (温) có nghĩa là ấm, nóng.
“Tuyền” (
泉) có nghĩa là suối. Vì vậy, Onsen (温泉) có nghĩa là suối nước nóng.
 Luật Onsen (
温泉)
Để công nhận là Onsen (
温泉) một cách chính thức, cần phải thoả mãn những
điều kiện được qui định trong luật Onsen (
温泉) ban hành vào năm Chiêu Hòa (昭和)
thứ 23 (năm 1948). Ở điều 2 luật Onsen (
温泉) và ở bảng biểu, suối nước nóng được
phân biệt dựa vào định nghĩa sau đây:
"Theo điều 2 luật Onsen (
温泉
) thì Onsen (
温泉
) là những suối bao gồm hàm
lượng vật chất và độ C được ghi trong bảng biểu, là suối nước nóng được phun ra

) không được dựa trên 2 yếu tố:
- Độ nóng của nước .
- Thành phần các chất khoáng và tỉ lệ của chúng trong nước.
 Định nghĩa suối nước nóng trị liệu.
Trong 2300 suối nước nóng ở Nhật Bản, có 64 suối nước nóng được Bộ Y
tế công nhận là suối nước nóng trị liệu. Bởi trong các suối nước nóng này có
chứa một lượng thành phần khoáng chất có khả năng chữa được m
ột số chứng
bệnh. Suối nước nóng trị liệu được định nghĩa như sau:
"Trong suối nước nóng, tùy thuộc vào thành phần khoáng chất và lượng
chất bao gồm mà người ta gọi những suối nước nóng có hiệu quả trong việc điều
trị bệnh là suối nước nóng trị liệu".
Trong suối nước nóng trị liệu, do có các thành phần chất khác nhau nên
công hiệu chữa bệnh khác nhau và được chia thành các loại suố
i nước nóng trị
liệu như sau:
1. Suối nước nóng có thành phấn muối hóa.
2. Suối nước nóng có muối cacbonat.
3. Suối nước nóng có muối axitsunfuric.
4. Suối nước nóng đơn thuần.
5. Suối nước nóng có CO2.
6. Suối nước nóng có thành phần sắt.
7. Suối nước nóng có tính axit.

9
8. Suối nước nóng có chứa lưu huỳnh.
2

1.2 Nguồn gốc hình thành và quá trình phát triển suối nước nóng.
Cũng giống như loài người, suối nước nóng cũng có nguồn gốc hình thành

một số yếu tố sau góp phần làm nguồn nước nóng dồi dào, đó là : Thứ nhất do

2
Nguồn: 日本温泉総合研究所(Trung tâm nghiên cứu tổng hợp suối nước nóng Nhật Bản) 10
các mạch nước ngầm được các dòng magma núi lửa làm nóng tạo ra nguồn nước
nóng; thứ hai trong các xác động vật cổ xưa bị hoá thạch, có một phần thấm vào
đất tạo thành một lượng khoáng chất đáng kể trong các mạch nước nóng; thứ ba
là nước tinh khiết đi qua phần tâm trái đất bị làm nóng tạo ra nguồn nước nóng.
1.2.2 Quá trình phát triển suối nước nóng.
 Thời Cổ đại.
Suối nước nóng sau khi được phát hi
ện đã có nhiều người tìm đến để tận
hưởng làn hơi ấm của suối nước nóng. Những người thời Cổ đại chủ yếu đến tắm
nước nóng là để chữa bệnh. Tại các suối nước nóng, người ta tìm thấy những
mảnh gốm vụn vỡ, và những vỏ sò. Theo các nhà khảo cổ học Nagaya (
長谷) có
lẽ sau khi thu hoạch mùa vụ, những người nông dân kéo nhau về suối nước nóng
thưởng thức dòng nước ấm áp, trong lành hàng tháng trời. Những mảnh gốm
được tìm thấy là những dụng cụ nấu ăn của người thời Joomon (
縄文 ). Những
vỏ sò là những con sò được mua ở đâu đó về và mọi người vừa luộc sò vừa tắm
và cùng quây quần bên nhau. Điều này chứng tỏ thời Cổ đại con người đã biết
tận dụng nguồn tài nguyên suối nước nóng [8; 2002: 12]
 Thời Trung đại.
Vào thời Heian (
平安) Bình An (794-1192) có “Quyền Ký” (権記) viết như
sau: Vào tháng 8 năm Chotoku (

là nước nóng trong các lữ quán ngày nay sử dụng nguồn nước nóng nhân tạo mà
nước nóng được dẫn từ nguồn vào trong thành phố, lượng phun ra rất dồi dào và
nhờ vào việc tắm của Hideyoshi nên lúc đó khách đến rất đông. Nguồ
n nước
nóng lúc đó được phân bố ở 7 gian theo hướng Bắc Nam.
Vào thời Meiji (
明治) Minh trị (1868-1912) suối nước nóng cũng vô cùng
thịnh vượng. Ở những lữ quán suối nước nóng, ngoài việc tắm, khách còn được
phục vụ ăn uống. Tuy nhiên thời kỳ này cung cách phục vụ ở các lữ quán suối
nước nóng có sự khác biệt giữa nam giới và nữ giới. Nam giới ngoài việc tắm thì
còn được chiêu đãi rượu nhưng nữ giới không được phục vụ rượu nhưng lại tính
tiề
n ngang giá nam giới. Nhìn chung vào thời Edo cách phục vụ lữ quán không
có chế độ ưu đãi cho nữ giới.

3
http://www.arima-onsen.com/inn/ozasiki.html

12
Vào những năm Showa (昭和) Chiêu Hòa (1926-1989), suối nước nóng
được ứng dụng rộng rãi và phát triển lên một tầm cao mới. Không chỉ là dịch vụ
tắm, cho thuê phòng trọ mà khách du lịch đặc biệt nam giới còn có thể thưởng
thức tài hoa của các cô Geisha. Những Geisha này học múa, học hát, học đàn,
đem lời ca tiếng hát đến với khách du lịch, giúp cho họ giải tỏa căng thẳng, quên
đi công việc, thưởng thức cảnh đẹp, thưởng thức dòng nước ấm áp. Vào th
ời kỳ
này, ngoài việc tắm, chữa bệnh, suối nước nóng còn được dùng để tạo ra nguồn
năng lượng gọi là các trạm địa nhiệt điện sử dụng hơi nước quay tuabin để sản
sinh ra nguồn năng lượng dồi dào. Thế nhưng do sử dụng quá nhiều nguồn hơi
nước nên nước nóng ở các suối ngày càng cạn kiệt, các suối nước nóng đều trong

Hình 1.3.2 Bản đồ suối nước nóng tại Nhật Bản.
Nguồn: http//google.co.jp.Nipponia

Các suối nước nóng này phân bố khắp nơi trên đất nước Nhật Bản. Ở
Hokkaido (
北海道) có suối nước nóng Noboribetsu (登別) rất nổi tiếng. Ở
Honshu (
本州) có suối nước nóng lâu đời nhất là suối nước nóng Hakone (箱根),
suối nước nóng Kusatsu (
草津). Tại các con suối này, các nhà khoa học nổi tiếng
trên thế giới đã tiến hành nghiên cứu và đã cho ra đời những cuốn sách về suối
nước nóng có giá trị. Ở Tokyo (
東京) cũng có một suối nước nóng mới được
hình thành nhưng lại rất nổi tiếng với nhiều loại hình dịch vụ : đó là suối nước
nóng LaQua. Ở Kyushuu (
九州) không thể không nhắc tới suối nước nóng Beppu
(
別府) ở tỉnh Oita (大分). Tại vùng Okinawa (沖縄) cũng có nhiều suối nước
nóng, điển hình là suối nước nóng Iriomote-jama (
西表―邪魔). Con suối này đã
trở thành nguồn cảm hứng cho các nhà văn học ra đời những tác phẩm văn học
vô cùng tuyệt vời như đại văn hào Kawabata Yasunari (
川端康成) với tác phẩm
“Xứ tuyết”. Hình ảnh khung cảnh suối nước nóng còn được xuất hiện trong một
tác phẩm tiếp theo của Kawabata, đó là "Vũ nữ xứ IZu". Dưới đây là bản đồ
thống kê số lượng suối nước nóng, cơ sở cho khách ở lại qua đêm và số người sử
dụng từ năm 1965 đến năm 2001.

14


Ngày xưa, do suối nước nóng thiên nhiên là tài sản chung nên có nhiều lữ quán
được thành lập xung quanh suối nước nóng. Nhiều lữ quán có quyền sở hữu chung
một nơi tắm tập thể. Khách trọ lữ quán có thể đến tắm bên ngoài lữ quán. Cùng với
kỹ thuật khai thác nguồn suối nước nóng phát triển, lữ quán đã có nguồn suối nước
nóng riêng. Lúc này khách trọ lữ quán chỉ có thể
tắm nước nóng trong khuôn viên
của lữ quán. Điều này đã nảy sinh sự phân biệt tắm trong và tắm ngoài suối nước
nóng. Khi đi tắm tại các suối nước nóng ở Nhật Bản, khách du lịch có thể lựa chọn
nhiều kiểu tắm khác nhau, mỗi kiểu tắm đều có những nét độc đáo riêng. Từ thời xa
xưa, người Nhật có thói quen tắm theo hình thức ngoài trời hay còn gọi là tắm lộ
thiên. Đ
ây là hình thức tắm bên ngoài lữ quán, khách vừa ngâm mình trong nước
nóng vừa ngắm cảnh thiên nhiên xung quanh. Ngày nay thì hình thức tắm lộ thiên
vẫn phổ biến nhưng phần lớn giới trẻ Nhật Bản e ngại khi khỏa thân trước mặt mọi
người nên loại hình tắm trong nhà được giới trẻ ưa chuộng. Tắm lộ thiên hay tắm
trong nhà bao gồm tắm gia đình và tắm tập thể. Hình thức tắm trong nhà phổ biến
nhấ
t từ thời xưa là loại hình nhà tắm tập thể tại suối nước nóng. Khi tắm tại đây
khách có thể trút hết những khó khăn, căng thẳng trong cuộc sống nhờ vào những
cuộc gặp gỡ, chuyện trò thú vị với mọi người xung quanh. Ngoài ra còn có loại hình
tắm công cộng tại các khu suối nước nóng. Loại hình tắm này khác với tắm ở nhà
tắm công cộng ở chỗ nước nóng lấy t
ừ nguồn suối phun trào tự nhiên không phải
hình thức đun nước nóng bằng củi ở một số nhà tắm công cộng. Dưới đây là các loại
hình tắm cụ thể.
16
2.1.1 Sotoyu (外湯) Tắm ngoài.


17
Nhật, được ghi chép trong bảng xếp thứ tự bồn tắm lộ thiên
4
. Khi tắm nước nóng ở
Nhật hầu hết mọi người đều phải thoát y để không làm vấy bẩn nước ảnh hưởng đến
những người xung quanh; để các thành phần chất có trong suối nước nóng có thể lan
tỏa khắp cơ thể, giúp người tắm cảm thấy thoải mái hơn đồng thời chữa được một số
chứng bệnh. Tắm lộ thiên được xem là một liệu pháp hữu hiệu trong việc chữa trị
căn bệnh về tinh thần như giải stress sau những giờ làm việc căng thẳng. Ngay từ
thời Cổ đại do có tác dụng trong chữa bệnh nên có nhiều lữ quán được xây dựng lên
để đáp ứng nhu cầu trọ trong thời gian khách chữa bệnh.
Ngày nay, hình thức tắm lộ thiên không thu hút được số lượng khách như
ngày xưa, bởi giới trẻ Nhật Bản e ngạ
i khi phải thoát y trước mặt mọi người. Loại
hình tắm lộ thiên chỉ dành cho những người lớn tuổi Nhật Bản, đã quen với việc tắm
lộ thiên và muốn hít thở không khí trong lành dưới bầu trời là vẫn yêu thích. Trong
thời đại công nghiệp hóa, thời gian giải trí của mọi người bị thu hẹp lại, nhưng dù
bận người Nhật Bản vẫn tìm đến suối nước nóng để tận hưởng những thời gian thư
thái nhất. Để phục vụ những vị khách muốn tiết kiệm thời gian mà vẫn có thể tắm
nước nóng, một loại hình du lịch mới xuất hiện. Đây là loại hình tắm tập thể không
kèm theo nhà trọ, tắm trong ngày rồi về. Đến đây mọi người có thể tắm, ăn những
món ăn truyền thống của vùng quê suối nước nóng, kèm theo các dịch vụ giải trí
khác như mua quà lưu niệm, tham gia trượt tuyết, đánh bóng chuyền tại các trạm
suối nước nóng.
2.1.2 Uchiyu (内湯) Tắm trong.
Bên cạnh những người khách muốn cảm giác thoải mái ngắm phong cảnh, bầu
trời bao la thì cũng có những vị khách kín đáo hơn muốn được ở trong không gian
yên tĩnh đắm mình trong dòng nước ấm, giải tỏa căng thẳng, những vướng bận của
cuộc sống hằ

Hình thức tắm trong nhà gắn liền với các lữ quán. Khách đến lữ quán đăng ký
phòng, quần áo mặc trong lữ quán thông thường là Yukata (
浴衣). Sau đó được nhân
viên phục vụ dẫn lên phòng. Mọi thứ từ bữa ăn, chăn nệm đều được nhân viên lữ
quán phục vụ. Sau đó khách có thể tắm ở bồn trong nhà. Một lữ quán thông thường
có nhiều bồn tắm trong như: bồn loại nhỏ chỉ nên ngâm với số lượng ít từ 3 đến 5
người; nếu số lượng nhiều thì lựa chọn bồn lớn hơn; n
ếu số lượng khách quá đông
thì có một loại hình mới xuất hiện. Đó là nhà tắm công cộng ở suối nước nóng. Nhà
tắm này được hình thành từ loại hình tắm công cộng trong các chùa chiền. Theo
truyền thuyết, nhà tắm công cộng trong chùa được xây dựng bởi Hoàng hậu Quang
Minh Komio (
光明). Xuất phát từ tấm lòng nhân hậu muốn phổ độ chúng sanh nên
Hoàng hậu tổ chức buổi tắm cho những người nghèo trong đất nước mà chính tự tay

19
người tắm. Nhiều người kéo đến đây để tắm, theo số liệu lên đến 1.000 người. Đến
người cuối cùng là người bị bệnh lở loét ác tính nhưng Hoàng hậu không ngại ngùng,
không chỉ tắm cho mà còn hút mủ giúp người này. Trong khoảnh khắc người bệnh
bay lên không trung trong một đám mây tỏa ánh sáng màu vàng và đọc câu " Nam
mô a di đà phật" rồi biến mất. Tấm lòng của Hoàng hậu làm động lòng trời đất. Sau
đó Hoàng hậu cho xây dựng chùa chi
ền, phát triển loại hình tắm công cộng trong
chùa cho các nhà sư.[6; 2009: 41]
Kể từ đó những chủ trạm suối nước nóng bắt đầu áp dụng hình thức tắm công
cộng như trong chùa nhưng có một điểm khác biệt là hình thức tắm công cộng ở các
lữ quán suối nước nóng dùng nguồn nước nóng lấy từ nguồn suối không phải theo
hình thức đun nước nóng phục vụ nhu cầu tắm như trong chùa. Ng
ười ta đào một
đường hầm dưới lòng đất, sau đó chôn ống xuống và những ống này hút nước nóng


Hình 2.2.1.1.1 Bản đồ vị trí suối nước nóng Arima.
Nguồn:http://maps.google.co.jp/maps?=ja&source=hp&q=%E6%9C%89%A6%AC%E6
Kobe là một thành phố Nhật Bản ở vùng Kansai (関西) trên đảo Honshu (本州).
Thành phố Kobe với diện tích là 552,23km
2
, tổng dân số là 1536.395 người trong đó
dân số nam chiếm 727.907 người, dân số nữ là 808.488 người. Đây là thành phố có
ý nghĩa lịch sử. Là thành phố đầu tiên của Nhật Bản mở rộng thông thương với
phương Tây năm 1868. Kobe là cảng biển nổi tiếng ở Nhật cùng với các cảng biển
khác như Yokohama (
横浜), Osaka (大阪), Nagoya (名古屋) Ngoài ra đây còn là
nơi phát triển loại hình du lịch biển, du lịch tham quan ngắm cảnh, nghỉ dưỡng tại
các khu suối nước nóng nổi tiếng như suối nước nóng Arima. 21
2.2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển.
Suối nước nóng Arima là suối nước nóng lâu đời nhất của Nhật Bản, trải qua
với nhiều giai đoạn sau đây:
2.2.1.2.1 Thời Cổ đại:
Theo sử thoại suối nước nóng Arima, Thiên hoàng Jomei (
舒明) và Thiên
hoàng Koutoku (


22
nước nóng là việc có thật. Tương truyền rằng kể từ sau nhà sư Gyouki xây dựng
phật Đường trong khoảng 370 năm suối nước nóng Arima rất phát triển. Vào thời
Heian (
平安) Bình An (794 - 1192), suối nước nóng Arima trở thành đề tài cho các
nhà văn, xuất hiện trong các tác phẩm văn học, tiểu thuyết, hội hoạ. Thiên hoàng,
quan lại triều đình cũng đến viếng thăm suối nước nóng Arima. Suối nước nóng
Arima được đánh giá là một trong những suối nước nóng nổi tiếng nhất dưới Thiên
hoàng.
2.2.1.2.2 Thời Trung đại.
Đến năm 1907 thiên tai ập tới Arima. Theo quyển "Khởi nguyên chùa suối
nước nóng" có ghi như sau: "Vào nă
m Thừa Đức của Thiên hoàng Horigawa (堀側),
hồng thuỷ ập đến Arima, cuốn trôi con người, nhà cửa, suối nước nóng cũng bị tàn
phá". Sau đó suối nước nóng Arima thoát khỏi tình trạng hoang tàn là nhờ vào một
tăng lữ tên là Ninsai (
仁西). Ninsai là người của chùa Cao Nguyên nằm ở Yoshino
(
吉野) của nước Yamato (大和) Đại Hoà được đức phật Kumano (熊野) báo mộng
"có suối nước nóng ở giữa núi Arima đang bị hoang tàn chúng ta hãy cùng nhau đến
và phục hồi lại". Ninsai rất xem trọng việc này và đã tìm đường đến suối nước nóng
Arima. Cùng với sự phục hưng hoạt động của suối nước nóng, Ninsai đã cho tu sửa
chùa chiền, mở thêm 12 căn lữ quán nước nóng, thu hút nhiều khách đến thăm.
2.2.1.2.3 Thời Cận thế.
Vào năm Tenshou (
大正)Thiên Chính thứ 11 (năm 1583), Toyotomi Hideyoshi
(
豊臣秀吉) đã ghé thăm suối nước nóng Arima. Do trận chiến kéo dài nên binh lính
cũng như Hideyoshi rất mệt, nghe nói suối nước nóng Arima rất tốt cho sức khoẻ

Hiện nay suối n
ước nóng Arima không còn phát triển như trước nữa nhưng đây
được xem là suối nước nóng có các lữ quán được xây dựng theo mô hình truyền
thống của Nhật Bản.
2.2.1.3 Các loại hình dịch vụ.
Khi đến tắm ở suối nước nóng Arima thì loại hình dịch vụ đầu tiên phải kể đến
đó là những khu nhà trọ, lữ quán, khách sạn.
Lữ quán Tosen Goshobo (
渡船御所簿) được xây dựng từ thời Kamakura (鎌倉)
(1192 - 1333), là lữ quán suối nước nóng cổ nhất Nhật Bản. Khi làn sóng hiện đại

6
1 trượng bằng 1.7m 24
hoá du nhập vào Nhật Bản, hầu hết các lữ quán suối nước nóng Nhật Bản thay đổi
diện mạo để đáp ứng kịp thời nhu cầu của khách nhưng lữ quán Tosen Goshobo vẫn
giữ nét cổ kính truyền thống của suối nước nóng Arima. Lữ quán này được xem là
lữ quán mang yếu tố giá trị lịch sử truyền thống rất cao. Vào thời Edo, lữ quán chỉ
đuợc xây dựng một tầ
ng. Đến đầu thời Showa (昭和) Chiêu Hoà sửa lại thành toà
nhà bằng cây 3 tầng gọi là Chousui Gobou (
聴水御坊). Chiêu Hoà thứ 20 (1945) toà
nhà bằng cây 3 tầng mang tên Unzan Gobou (
雲山御坊) đã xuất hiện, rồi tiếp đến
năm Chiêu Hoà 30 (1955) toà nhà Suiran Gobou (
翠巒御坊) được xây dựng bằng sắt
đã ra đời. Trong lữ quán gắn những thiết bị bồn tắm mang vẻ đẹp truyền thống cổ
xưa. Sau đây là bốn chủng loại bồn tắm gia đình hay tập thể có tại suối nước nóng

Hình 2.2.1.3.3 Bồn tắm gia đình loại 3 Hình 2.2.1.3.4 Bồn tắm gia đình loại 4
Nguồn:http://www.taketorite
i.com/bath_type3.php
-温泉

Ngoài những trang thiết bị đa dạng dành cho nam, nữ, trang phục của khách
tại lữ quán cũng phong phú với nhiều màu sắc. Đó là những bộ đồ Yukata nổi tiếng,
mạng đậm truyền thống Nhật Bản. Khách sẽ được bố trí chỗ ở trong một căn phòng
Nhật với tủ âm tường có chiếc nệm futon (
布団). Thức ăn tại đây mang tính truyền
thống của xứ Arima. Phía trên quầy tiếp tân treo những bức ảnh thiên nhiên. Nhân
viên phục vụ là nữ và tất cả đều mặc Kimono (
着物). Họ làm các công việc dọn
phòng, phục vụ trong nhà bếp, nhà tắm Ngoài ra còn có các Geisha (
芸者) phục vụ.
Khi được khách mời, các Geisha chuẩn bị rất chu đáo. Lúc yến tiệc bắt đầu, Geisha
sau khi chào khách bằng câu " Xin cám ơn", họ tiến đến chỗ của khách. Những vị
khách nào có điều kiện về kinh tế, họ thuê Geisha đến cùng nhảy múa, ca hát, trò
chuyện Hàng năm, tại suối nước nóng Arima diễn ra nhiều lễ hội như : lễ tắm đầu

Trích đoạn Từ suối nước nóng Nhật Bản liên hệ suối nước nóng Bình Châu ở Tron gy học, ăn uống. Trong công nghiệp. Trong các tác phẩm văn học, tiểu thuyết. Trong hội họa.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status