BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LẠC HỒNG
KHOA ĐÔNG PHƯƠNG HỌC
WX
BÁO CÁO
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
ĐỀ TÀI
LỢI DỤNG ÂM HÁN VIỆT KHI HỌC
TỪ VỰNG TIẾNG HÁN HIỆN ĐẠI
现代汉语词汇的研究
-利用汉越读音学
习 LÊ THỊ THANH HƯƠNG
BIÊN HÒA, THÁNG 12 NĂM 2010
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LẠC HỒNG
KHOA ĐÔNG PHƯƠNG HỌC
WX
bài nghiên cứu có ý nghĩa thực sự là một nguyện vọng lớn lao của tôi.
Từ khi học Đại học năm thứ nhất tôi đã xác định mình phải viết được một đề tài
mang tính thực dụng, có thể hỗ trợ cho việc học tiếng Hán. Cuối cùng tôi đã chọn đề
tài : “ Lợi dụng âm Hán Việt khi học từ vựng tiếng Hán hiện
đại”.
Nói thì dễ nhưng bắt tay vào làm thì mới gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là đối
với một người mới chỉ học tiếng Hán bốn năm như tôi. Khi xác định phương pháp
nghiên cứu tôi đã gặp phải rất nhiều vấn đề nan giải, nếu không có sự chỉ bảo tận tình
của giáo viên hướng dẫn- thạc sỹ Dương Thị Kim Nguyệt thì có lẽ tôi đã không thể
hoàn thành được bài luận văn này.
Dù vô cùng bận rộn nhưng cô đã hết lòng giúp tôi sửa sai, từ những lỗi lớn như kết
cấu, cách sắp xếp ý, đến những lỗi nhỏ như mỗi câu chữ, dấu câu của bài báo cáo.
Điều này đã chứng tỏ tác phong làm việc cẩn thận và sự quan tâm đến sinh viên của
cô, chính nhờ vậy mà cô đã gợi mở cho tôi nhiều ý tưởng và khích lệ tôi khắc phục
khó khăn để hoàn thành luận văn. Tôi xin được chuyển đến cô lời cảm ơn sâu sắc.
Tôi cũng xin được cảm ơn thầy hiệu trưởng trường Đại học Lạc Hồng và trưởng
khoa khoa Đông Phương đã quan tâm và tạo điều kiện tốt nhất giúp tôi hoàn thành luận
văn.
Cám ơn các thầy cô của trường Đại học Lạc Hồng và các giáo viên đã tham gia
giảng dạy ở trườ
ng đã tận tâm chỉ bảo, đốc thúc tôi học tập và đưa ra những ý kiến quý
báu giúp tôi sửa luận văn.
Xin cám ơn gia đình và bạn bè đã ủng hộ và giúp đỡ!
Kính chúc các thầy cô và các bạn vạn sự như ý!
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 3
1.Lý do chọn đề tài 6
2.Lịch sử nghiên cứu đề tài 6
Tiểu kết 3 53
Chương III: THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN CỦA VIỆC LỢI DỤNG ÂM HÁN VIỆT KHI
HỌC TỪ VỰNG TIẾNG HÁN HIỆN ĐẠI VÀ PHƯƠNG ÁN KHẮC PHỤC 54
3.1 Thuận lợi 54
3.2 Khó khăn 55
3.3 Phương án khắc phục 57
3.3.1 Đối với từ Hán Việt- âm Hán Việt 57
3.3.2 Đối với từ Hán ngữ 57
KẾT LUẬN 58
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
PHẦN MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
Ở Việt Nam trong suốt quá trình lịch sử hàng ngàn năm, chữ Hán, tiếng Hán đã
được đặt vào vị trí chính thống và sử dụng có hệ thống. Cũng trong quá trình lịch sử
lâu dài đó đã xảy ra quá trình tiếp xúc giữa tiếng Hán và tiếng Việt, dẫn đến việc tiếng
Việt đã chịu ảnh hưởng sâu sắc của tiếng Hán, dễ thấy nhất là việc tiếng Việt đã dung
nạp một số lượng lớn những từ ngữ mượn từ tiếng Hán. Các nhà Việt ngữ học thường
gọi là từ ngữ gốc Hán. Trong những từ ngữ gốc Hán đó có một phần là từ Hán Việt.
Mặt khác từ Hán Việt chiếm tỉ lệ rất lớn trong từ vựng tiếng Việt, theo như nhà
Hán học người Pháp Henri Maspéro thì trong tiếng Việt có tới 60% từ vay mượn gố
c
Hán, còn học giả Hoàng Văn Hành, trong “ Từ điển yếu tố Hán Việt thông dụng” thì
lại nhận định từ Hán Việt chiếm khoảng 60%, còn các từ trong lĩnh vực chính trị, kinh
tế, pháp luật lại chiếm khoảng 70-80%. Còn rất nhiều học giả Việt Nam lại cho là từ
Hán Việt chiếm đến 82% từ vựng tiếng Việt. [14]
Do đó người Việt Nam có ưu thế nhất định về
mặt từ Hán Việt, thể hiện cụ thể
nhất qua các âm Hán Việt, trong khi học tiếng Hán. Nếu phát huy được ưu thế này thì
chúng ta có thể học tiếng Hán, đặc biệt là tiếng Hán hiện đại nhanh hơn.
Hán ngữ hiện đại một cách có hệ thống.
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu đi sâu vào vấn đề cơ sở lợi dụng và cách
thức lợi dụng âm Hán Việt khi học tiếng Hán hiện đại.
4.Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở tổng hợp các tài liệu để làm rõ cơ sở lý thuyết của
việc lợi dụng âm Hán Việt vào việc học Hán ngữ hiện đại。
Mặt khác, từ kinh nghiệm học tiếng Hán hiện đại của bản thân mình, người nghiên
cứu đã rút ra một số “mẹo” học từ vựng tiếng Hán hiện đại có từ Hán Việt có âm đọc
tương đồng.
Những phương pháp nghiên cứu mà người viết đã sử dụng gồm có khảo sát, phân
tích và tổng hợp.
5.Những đóng góp của đề tài
Đề tài nêu rõ cơ sở lợi dụng và phương pháp lợi dụng âm Hán Việt khi học Hán
ngữ hiện đại. Nên giúp mọi người tự tin hơn khi lợi dụng âm Hán Việt để học tiếng
Hán hiện đại
Đề tài đưa ra những phương pháp và kinh nghiệm của bản thân ng
ười viết đã tích
lũy được trong quá trình học tiếng Hán, từ đó có thể giúp người Việt Nam học tiếng
Hán hiện đại nhanh hơn và hứng thú hơn.
6.Cấu trúc của đề tài
Gồm 3 chương:
Chương I::KHÁI QUÁT VỀ ÂM HÁN VIỆT VÀ ÂM TIẾNG HÁN HIỆN ĐẠI
Chương II: CƠ SỞ VÀ PHƯƠNG PHÁP LỢI DỤNG ÂM HÁN VIỆT KHI HỌC TỪ
VỰNG TIẾNG HÁN HIỆN ĐẠI
Chương III: THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN CỦA VIỆC LỢI DỤNG ÂM HÁN VIỆT KHI
HỌC TỪ VỰNG TIẾNG HÁN HIỆN ĐẠI VÀ PHƯƠNG PHÁP KHẮC PHỤC
NỘI DUNG CHÍNH
Chương I:KHÁI QUÁT VỀ ÂM HÁN VIỆT VÀ ÂM TIẾNG
vào chữ Hán nhưng phức tạp hơn và chưa được chuẩn hóa nên cũng không được phổ
cập). Cùng với sự ra đời của chữ quốc ngữ, từ Hán-Việt ngày nay được ghi bằng ký tự
Latinh [13].
1.1.1.2 Âm Hán-Việt
Khái niệm âm tiết :Chuỗi lời nói mà con người phát ra gồm nhiều khúc đoạn dài
ngắn khác nhau. Đơn vị phát âm ngắn nhất là âm tiết (syllable).
Về phương diện phát âm, âm tiết có tính chất toàn vẹn, không thể phân chia được
là bởi nó được phát âm bằng một đợt căng của cơ thịt của bộ máy phát âm. [14].
Âm Hán Việt là cách thức đọc tiếng Hán theo âm tiếng Hán thời nhà Đường qua
đường sách vở, được những người Việt sử
dụng chữ Hán đặt ra, Việt hóa ít nhiều cho
phù hợp với hệ thống ngữ âm của tiếng Việt vào thời kỳ đó.
Theo Henri Maspéro, Benhard Kalgren, Torosu Mineyra, âm Hán-Việt đại diện
cho phương ngữ Tràng An thế kỷ IX-X, vào thời kỳ cuối Đường. Đây là giai đoạn hình
thành cách đọc Hán-Việt có hệ thống.
Cũng theo quan điểm này, những từ Hán được du nhập từ giai đoạn trước hay các
từ Hán cổ
không được đọc theo âm Hán-Việt (đời Đường) mà theo âm Hán cổ, và đã
được Việt hóa tương đối. Ví dụ: 房: buồng (âm Hán cổ)/ phòng (âm Hán-Việt); 沈:
chìm (âm Hán cổ)/ trầm (âm Hán-Việt)
Nhưng cách đọc Đường âm đó sau khi Việt Nam giành được độc lập, đã dần dần
biến dạng đi, dưới tác động của quy luật ngữ âm và ngữ âm lịch sử tiếng Việt, tách xa
hẳn cách đọc của ngườ
i Hán để trở thành một cách đọc riêng biệt của người Việt và
những người thuộc khu vực văn hóa Việt. Đây là cách đọc tạo thành hệ thống, nghĩa là
trên lý thuyết có thể dùng đọc toàn bộ kho tàng các kí hiệu văn tự Hán, với khả năng
gần như cách đọc của người Hán, nhưng đây lại là một cách đọc độc lập, chức năng
riêng và cả lịch sử diễn biến của mình.
Cách đọc Hán Việt là sản phẩm của sự tiếp xúc giữa tiếng Việt với tiếng Hán, và
Loạt vần có phụ âm cuối m/p: am, ap, âm (im), ấp, iêm (yêm), iêp. Ví dụ: 甘
(cam), 法 (pháp), 心 (tâm), 今 (kim), 念 (niệm), 淹 (yêm), 涉 (thiệp).
Thuyết minh: m, p đứng sau các âm chính đều là phụ âm cuối.
Loạt vần có phụ âm cuối n/t: an (oan, uan), ai (oat, uat), ân (ăn, uân), ât (ăt,
uât), ôn, ôt, iên (yên, uyên), iêt (yêt, uyêt).
Ví dụ:
安 (an), 短 (đoản), 官 (quan), 怛 (đát), 脱 (thoát), 括 (quát), 引
(dẫn), 根 (căn), 君 (quân), 乙 (ất), 瑟 (sắt), 戌 (tuất), 尊 (tôn), 没 (một), 典
(điển), 烟 (yên), 川 (xuyên), 列 (liệt), 咽 (yết), 血 (huyết).
Thuyết minh: n, t đứng sau các âm chính đều là phụ âm cuối.
Loạt vần có phụ âm cuối ng/c: ang, (oang, uang), ac, ăng (oăng), ăc (oăc, u
ăn),
ung, uc, ưng, ưc, ong, oc, ông (uông), ôc (uôc).
Ví dụ: 邦 (bang), 皇 (hoàng), 光 (quang), 各 (các), 朋 (bằng), 弘 (hoằng),
色 (sắc), 或 (hoặc), 虢 (quắc), 恭 (cung), 目 (mục), 证 (chứng), 食 (thực), 央
(ương), 掠 (lược), 龙 (long), 捉 (tróc), 公 (công), 尪 (uông), 谷 (cốc), 国
(quốc).
Thuyết minh: ng/c đứng sau các âm chính đều là phụ âm cuối.
Loạt vần có phụ âm cuối nh/ch: inh (uynh), ich, anh (oanh), ach (oach, uach).
Ví dụ: 丁 (đinh), 兄 (huynh), 昔 (tích), 境 (cảnh), 横 (hoành), 迫 (bách),
划 (hoạch), 郭 (quách).
Thuyết minh: ng/c đứng sau các âm chính đều là phụ âm cuối.
1.1.2.3 Thanh điệu
Thanh điệu là sự nâng cao hoặc hạ thấp giọng nói trong một âm tiết. Trong tiếng
Hán trước đây có bốn thanh: bình 平, thượng 上, khứ 去, nhập 入; mỗi thanh có hai
bậc là phù 浮
và trầm 沈 (hoặc thanh 清/trọc 浊; thượng 上/hạ 下; ngày nay
thường gọi là âm 阴/dương 阳). Như vậy, tổng cộng có 8 thanh bậc: phù bình, trầm
bình, phù thượng, trầm thượng, phù khứ, trầm khứ, phù nhập, trầm nhập. Lưu ý là âm
Thanh nhập bậc phù (phù nhập) là những tiếng có phụ âm cuối là p, t, ch, c và
có dấu sắc. Ví dụ: 答 (đáp), 切 (thiết), 责 (trách), 捉 (tróc).
Thanh nhập bậc trầm (trầm nhập) là những tiếng có phụ âm cuối là p, t, ch, c
và có dấu nặng. Ví dụ: 沓 (đạp), 灭 (diệt), 石 (thạch),
濯 (trạc).
1.2 Âm Hán ngữ hiện đại
1.2.1 Vài nét khái quát về tiếng Hán
Tiếng Hán là một trong những ngôn ngữ chính trên thế giới. Tiếng Hán thuộc họ
Hán Tạng, là một ngôn ngữ quan trọng nhất trong ngữ hệ này. Ngoài Trung Quốc đại
lục và Đài Loan, tiếng Hán còn phân bố ở Xinggapo, Malaixia…Số người biết tiếng
Hán khoảng 1.4 tỷ người (khoảng 300 triệu người sử dụng làm ngôn ngữ thứ hai).
Tiếng Hán là một trong những ngôn ng
ữ làm việc của Liên hợp quốc. [13]
Ngôn ngữ chuẩn của tiếng Hán chính được hình thành dần dần trên cơ sở quan
thoại ở phương bắc mấy trăm năm qua. Âm chuẩn của nó là âm Bắc Kinh, nhưng
không thể đồng nhất với tiếng Bắc Kinh, mà nó được hình thành do loại bỏ một số âm
địa phương trong tiếng Bắc Kinh. Tiếng Hán chuẩn được gọi là tiếng phổ thông ở
Trung Quốc đạ
i lục, được gọi là Quốc ngữ ở Đài Loan, được gọi là tiếng Hoa ở
Xingapo và Malaixia.
Về mặt nghĩa rộng là chỉ ngôn ngữ của dân tộc Hán, nghĩa hẹp là chỉ tiếng phổ
thông, ngoài ra các cách gọi như Quốc ngữ, Hoa ngữ, Trung văn đều là chỉ tiếng Hán.
Không có gì nghi ngờ việc tiếng Hán là một loại ngôn ngữ có số người sử dụng nhiều
nhất trên thế giới, có khoảng 1/7 dân số thế giới dùng Hán ngữ trong giao tiếp hàng
ngày. Tiếng Hán cũng từng có ảnh hưởng rất lớn đối với ngôn ngữ, văn tự của các
nước xung quanh. Ví dụ, tiếng Nhật, tiếng Hàn, tiếng Việt Nam đều giữ lại một lượng
lớn từ mượn gốc Hán và hệ thống văn tự gốc Hán.
Tiếng Hán là một ngôn ngữ có thanh điệu, ranh giới giữa âm tiết và hình vị
thường trùng nhau. Quan hệ ngữ pháp giữa các từ được biểu thị bằng trật tự ngữ pháp
thanh điệu. Âm bắt đầu là thanh mẫu, còn lại gọi là vận mẫu, thanh điệu chính là âm
cao của cả âm tiết. [9]
Bảng chữ cái
Bính âm sử dụng 26 chữ cái Latinh: a, b, c, d, e, f, g, h, i, j, k, l, m, n,o, p, q, r, s, t,
u, v, w, x, y, z. Chữ cái v chỉ dùng để phiên âm tiếng nước ngoài, tiếng dân tộc thiểu số
và tiếng địa phương.
Phụ âm (thanh mẫu)
Hệ th
ống ngữ âm Trung Quốc có 21 phụ âm (thanh mẫu), trong đó có 18 phụ âm
đơn, 3 phụ âm kép, trong phụ âm đơn có một phụ âm uốn lưỡi (âm “r”).
18 phụ âm đơn: b, p, m, f, d, t, n, l, g, k, h, j, q, x, z, c, s, r.
3 phụ âm kép : zh, ch, sh
Dựa theo phương thức phát âm những phụ âm này có thể được phân loại như sau:
Phụ âm môi môi : b, p, m.
Phụ âm môi răng: f
Phụ âm đầu lưỡi giữa : d, t, n, l
Phụ âm gốc lưỡi : g, k , h.
Phụ âm mặt lưỡ
i : j, q, x .
Phụ âm mặt lưỡi sau: zh, ch, sh, r.
Phụ âm mặt lưỡi trước: z, c, s
Vận mẫu (nguyên âm)
Hệ thống ngữ âm Trung Quốc có 36 nguyên âm (vận mẫu), gồm 6 nguyên âm đơn,
13 nguyên âm kép, 16 nguyên âm mũi và 1 nguyên âm uốn lưỡi.
6 nguyên âm đơn : a, o, e, i, u, ü
13 nguyên âm kép : ai, ei, ao, ou, ia, ie, ua, uo, üe, iao, iou, uai, uei.
1 nguyên âm uốn lưỡi :"er" là một nguyên âm đặc biệt. "er" là một âm tiết
riêng, không thể ghép với bất cứ nguyên âm và phụ âm nào.
16 nguyên âm mũi: an, en, in, ün, ian, uan, üan, uen, ang, eng, ing, ong, iong,
Sau hàng chục thế kỷ dưới sự cai trị và đồng hóa của người Hán, người Việt vẫn
giữ được tiếng nói và nhiều phong tục riêng của mình. Tuy vậy, vẫn có sự ảnh hưởng
nhất định về văn hóa, thể chế chính trị của Trung Quốc đối với người Việt, kể cả trong
tư tưởng triết học và ngôn ngữ.
Trong quãng thời gian lịch sử dài như vậy, chữ Hán và hệ thống ngữ pháp văn
ngôn tiếng Hán đã được sử dụng với quy mô lớn trong tất cả các lĩnh vực xã hội của
Việt Nam như: giáo dục, khoa học, văn bản hành chính, công hàm ngoại giao, sáng tác
văn học, ghi chép lịch sử…Cùng với sự phát triển của lịch sử, tiếng Việt đã dung nạp
một lượng lớn từ mượn gốc Hán thông qua quá trình giao lưu văn hóa và tiếp xúc ngôn
ng
ữ, các học giả Việt Nam gọi bộ phận từ vựng này là “từ vay mượn tiếng Hán”.
Từ vay mượn gốc Hán có số lượng rất lớn trong nhóm từ ngoại lai ở Việt Nam,
quá trình tiếp xúc lâu đời đến khoảng 2000 năm, hoàn cảnh vay mượn cũng rất phức
tạp. Từ sau khi tiếng Hán truyền vào Việt Nam, trong quá trình từ thuần Việt và từ gốc
Hán cùng tồn tại và tác động lẫn nhau, giữa chúng tồn tại một mối quan hệ cạnh tranh.
Cụ thể mà nói dưới sự tác động của nhân tố lịch sử khách quan những từ vay mượn gốc
Hán đã dần thay thế cho một số từ thuần Việt. Mặt khác những từ vay mượn gốc Hán
cũng đã chịu ảnh hưởng về mặt ngữ âm và ngữ nghĩa và dần dần bị thay đổi.
Dựa vào lịch sử và tình hình di
ễn biến của ngữ âm và ngữ nghĩa có thể chia sự
xâm nhập của từ vay mượn gốc Hán vào Việt Nam thành hai giai đoạn lớn:
Giai đoạn thứ nhất: khoảng từ thời Tây Hán đến đầu thời Đường (ước chừng từ
năm 180 trước công nguyên đến thế kỷ thứ 8). Đây là thời kỳ hình thành từ tiền Hán
Việt (còn gọi là “từ cổ Hán Việt”)
Giai đoạn thứ hai : khoảng đầu thời Đường đến hiện nay ( khoảng thế kỷ 8 đến
ngày nay). Từ Hán Việt (còn gọi là “tiếng Hán Việt”) và hệ thống âm Hán Việt đã dần
dần hình thành và phát triển từ thế kỷ 8 đến thế kỷ 10. Từ sau thế kỷ 10 đến ngày nay,
từ Hán Việt không ngừng thay đổi trên cả hai phương diện ngữ âm và ngữ nghĩa, trong
quá trình đó từ Hán Việt đã có những đổi khác do chịu ảnh hưởng của tiếng Việt, kết
Hồ Chí Minh) có thể thấy số lượng từ gốc Hán thường được sử dụng là khoảng 7810 từ
[1].
Từ con số trên có thề thấy vị trí vô cùng quan trọng của từ vay mượn gốc Hán nói
chung và từ
Hán Việt nói riêng trong kho tàng từ vựng Việt Nam.
2.1.2.2 Tần suất từ Hán Việt được sử dụng trong các văn bản chính thức của
tiếng Việt hiện đại
Thông qua kết quả khảo sát của “ Một số vấn đề của tiếng Việt hiện đại” (Hợp tác,
2001, Nhà xuất bản đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) [4] đã chỉ ra tần suất sử
dụng của từ Hán Việt trong những văn bản có phong cách khác nhau. Phạm vi khảo sát
giới hạn ở 4 loại văn bản tương đối có tính đại biểu là : văn bản hành chính, văn bả
n
chính luận, văn bản khoa học, văn bản văn học. Nguồn khảo sát là những văn bản trong
15 năm gần đây (1982-1997), trong đó mỗi văn bản đều có một bản mẫu, độ dài
khoảng 1000 âm tiết, mỗi loại văn bản khảo sát 10 mẫu. Kết quả khảo sát như sau:
Văn bản hành chính: tần suất sử dụng rất cao, tỉ lệ từ Hán Việt chiếm khoảng
55,53%.
Văn bản chính luận: tần suất sử dụng cao, tỉ lệ từ Hán Việt chiếm 46.7%
Văn bản khoa học: tần suất sử dụng cao, tỉ lệ từ Hán Việt chiếm khoảng 38,6% .
Văn bản văn học: tần suất sử dụng thấp nhất, tỉ lệ từ Hán Việt chiếm khoảng
7.71 %.
Từ kết quả nghiên cứu trên cho thấy tần suất sử dụng từ Hán Việt trong các loại
văn bản chính thức ở Việt Nam trong mấy năm gần đây vẫn rất cao, chỉ giảm rõ rệt ở
văn bản văn học (dựa theo “Thông cáo khoa học”, 1969, Khoa ngữ văn, đại học tổng
h
ợp Hà Nội, kì 3, khi đó tần suất sử dụng từ Hán Việt trong văn bản văn học là
21,81%).[6]
Thông qua những con số thống kê trên có thể thấy những từ gốc Hán chiếm vị trí
vô cùng quan trọng trong ngôn ngữ Việt Nam, đồng thời thể hiện mối quan hệ mật thiết
Ô trống “ ”: không tồn tại âm này.
2.2.3 Sự tương ứng của phụ âm đầu trong âm Hán Việt với thanh
mẫu tiếng Hán
Các bảng dưới đây được rút ra từ quá trình thống kê sự tương ứng của thanh mẫu
tiếng Hán với phụ âm đầu trong âm Hán Việt. Số liệu được rút ra như sau:
Lấy phụ âm b làm ví dụ, người viết đã liệt kê các âm Hán Việt có phụ âm đầu là
phụ âm b và các âm Hán Ngữ tương ứng với các âm đó (các âm Hán ngữ tương ứng là
âm đọc của những từ Hán ngữ có ý nghĩa tương đồng với những từ Hán Việt (có phụ
âm đầu là b) trong bảng thống kê). Sau đó lại tách các thanh mẫu của mỗi âm đó ra, rồi
cộng tổng số từng thanh mẫu đó lại, cuối cùng tính tỷ lệ % bằng cách lấy tổng mỗi
thanh mẫu chia cho tổng số thanh mẫu tương ứng với phụ âm b.
Tỉ lệ tương
ứng= tổng mỗi thanh mẫu/tổng số thanh mẫu tương ứng*100
Thông qua bảng 2.3 người đọc có thể nhìn nhận một cách trực quan và nhanh
chóng nhận thấy thanh mẫu Hán ngữ tương ứng với phụ âm b của âm Hán Việt thường
là b hoặc p vì hai thanh mẫu này chiếm tỉ lệ cao nhất trong tổng số các thanh mẫu
tương ứng với phụ âm b (b:62.3%, p:32.8).
Do vậy nếu ta có một từ Hán Việt như từ “bột” (bột phát) thì thanh mẫu của âm
Hán ngữ tương đồng về ý nghĩa vớ
i nó có thể có 2 khả năng thứ nhất là thanh mẫu b,
thứ hai là thanh mẫu p. Đối chiếu với bảng thống kê (xem phụ lục 1) ta thấy thanh mẫu
tương ứng với phụ âm b trong âm “bột” là thanh mẫu b. Với cách suy luận như vậy
chúng ta sẽ lần lượt tìm ra thanh mẫu tương ứng với các phụ âm còn lại.
-Phụ âm b
Phụ âm b b f l m p y Tổng số
Số lượng 114 6 1 1 60 1
183
Tỉ lệ% 62.3 3.3 0.5 0.5 32.8 0.6
100
Số lượng 1 5 2 24 3 4 3 3 1 46
Tỉ lệ % 2 11 4 52 7 9 7 7 2 100
Bảng 2.8: Thanh mẫu tương ứng với phụ âm gi
Ví dụ: giãm-dan, gìa-ga, gia-ka, gia-jia, gia-qie, giải-xie, gia-ye, giả-zhe, già-za…
-Phụ âm h
Phụ âm h a ch f g h j k q sh s w x y Tổng số
Số lượng 1 3 1 6 116 11 6 6 3 2 3 95 7 260
Tỉ lệ % 0 1 0 2 45 4 2 2 1 1 1 37 3 100
Bảng 2.9: Thanh mẫu tương ứng với phụ âm h
Ví dụ: hạ-a, hang-chuang, hủ-fu, hằng-geng, hà-jia, hà-ke, hạ-sha, huy-sui, hoàn-xuan,
hao-yao, hoàn-wan, hĩ-yi, huỳnh-ying, hữu-you, hoạch-yue.
-Phụ âm k
Phụ âm k g j l q x zh Tổng số
Số lượng 1 39 1 13 1 1 56
Tỉ lệ % 2 70 2 23 2 2 100
Bảng 2.10: Thanh mẫu tương ứng với phụ âm k
Ví dụ: kỹ-gui, kê-ji, kiểm-lian, kỳ-qi, kiêu-xiao, kỵ-zhi…
-Phụ âm kh
Phụ âm kh ang ch e g h j k l n q t x zh Tổng số
Số lượng 1 2 1 8 8 7 67 1 1 55 1 7 1 160
Tỉ lệ % 1 1 1 5 5 4 42 1 1 34 1 4 1 100
Bảng 2.11: Thanh mẫu tương ứng với phụ âm kh
Ví dụ: khảng-ang, kham-chen, kha-e, kham-gan, khả-ke, khỏa-lõa, khiết-nie, kha-he,
khẩn-jin, kham-qian, khiêu-tiao, khê-xi, khê-zhi
-Phụ âm l
Phụ âm l ch h j l n sh t w y zh Tổng số
Số lượng 1 1 1 120 2 2 1 1 1 1 131