1
PHẦN DẪN LUẬN
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
“Công dưỡng dục thâm ân dốc trả
nghĩa sanh thành đạo cả mong đền,
làm con hiếu hạnh vi tiên”
1
Trong tâm thế người Việt, dù theo bất cứ tôn giáo hay tín ngưỡng nào, ơn sinh
thành dưỡng dục của cha mẹ luôn hội tụ ở những niềm xúc động sâu lắng nhất của con
người. Người ta hiểu ra rằng, có một giá trị xuyên thời gian và không gian, từ khi con
người xuất hiện trên trái đất cho đến khi trái đất còn con người, đó là tình mẫu tử, là
ơn sinh thành, đức dưỡng dục mà mỗi một con người trân trọng, đúc kết và nâng niu
thành chữ “Hiếu”. Chữ hiếu ấy, triết lý phương Đông đã nâng lên thành đạo, chính là
nhắc nhở cái đạo làm con. “Đạo hiếu” chi phối ứng xử của con người trong gia đình và
trong xã hội. Đó là một biểu hiện thật sâu đậm của đạo lý xã hội Việt Nam ta.
Ðạo hiếu đã thấm sâu vào lòng người Việt Nam, sâu đến nỗi, việc hệ trọng nào
trong gia đình cũng cần có cha có mẹ tham dự quy
ết định. Còn sống cũng như đã
khuất, cha mẹ vẫn là người tham dự vào đời con một cách sâu xa nhất. Những khi
buồn rầu hay cả những khi mừng vui, hạnh phúc, cha mẹ vẫn là những người luôn ở
bên chia sẻ với con.
Để thực hành đạo hiếu, các nước phương Đông thể hiện bằng những nghi thức thờ
phụng tổ tiên, ông bà, cha mẹ. Đặc biệt hơn, ở phươ
ng Đông chúng ta còn có một ngày
lễ đặc biệt để những người con thể hiện lòng biết ơn công sinh thành, dưỡng dục của
cha mẹ, báo hiếu cho cha mẹ, đó chính là ngày Lễ Vu Lan.
Ở phương Tây, tuy không có tục thờ tổ tiên, tuy chữ hiếu không nâng lên thành
"đạo", nhưng không vì thế mà không có ngày dành riêng để nhớ đến công ơn sinh
thành của cha mẹ. Bằng chứng là họ có “Ngày của Mẹ” (Mother's day) là ngày chủ
thành một hoạt động chung cho toàn xã hội.
Là một sinh viên học chuyên ngành tiếng Nhật, tác giả nghiên cứu về l
ễ hội này,
một mặt muốn hiểu rõ hơn đời sống tinh thần của người Nhật Bản, sự ảnh hưởng của
Phật giáo đối với một đất nước có quan niệm về tôn giáo khá khác biệt như Nhật Bản;
mặt khác, thông qua nghiên cứu này tác giả muốn được đóng góp chút hiểu biết của
mình về văn hóa lễ hội của Nhật Bản, cụ thể là về
Lễ hội Obon với hy vọng nghiên
cứu này sẽ giúp ích cho những ai có quan tâm và muốn nghiên cứu về văn hóa truyền
thống của Nhật Bản, về lễ hội Obon.
2. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI:
Nguồn tài liệu bằng tiếng Việt viết về lễ hội Obon còn rất ít. Phần lớn các tác giả
đề cập đến lễ Obon như một dẫn chứng làm phong phú thêm cho bài viết của mình
như
:
3
Cung Hữu Khánh, “Người Nhật với các tôn giáo” đã phân tích một số tôn giáo
chính có ảnh hưởng lớn đến đời sống người dân Nhật như: Shinto giáo, Phật giáo,
Khổng giáo và Cơ đốc giáo.
Nguyễn Văn Mạnh, “Giá trị của lễ hội truyền thống trong xã hội hiện đại” đã nêu
lên những giá trị nhân bản của lễ hội như: giá trị cộng đồng, giá trị giáo dục, giá trị
phản ánh hiện thực cuộc sống và bảo tàng văn hóa truyền thống, giá trị văn hóa tâm
linh, giá trị kinh tế.
Hồng Lê Thọ, “Tìm hiểu văn hóa lễ hội của người Nhật Bản một hình thái độc đáo
để giữ gìn bản sắc và truyền thống”. Trong bài viết này, tác giả đã giới thiệu vài nét về
lễ hội Nhật Bản như: nguồn gốc của lễ
hội tại Nhật Bản, những đặc trưng của văn hóa
lễ hội ngày nay, và đặc biệt, tác giả còn nêu rõ nguyên nhân vì sao những lễ hội truyền
thống của Nhật Bản vẫn còn lưu giữ và phát triển cho đến tận ngày nay, một vài nét so
lịch đại để so sánh lễ hội Obon của Nhật Bản trước đây và bây giờ; một vài nét so sánh
giữa Obon với Lễ Vu Lan của Việt Nam.
Phương pháp so sánh: so sánh về lịch đại để thấy được những sự thay đổi của cách
tiến hành lễ hội Obon trong lịch sử Nhật Bản, những thay đổi về nghi thức hành lễ và
sự biến đổi củ
a điệu nhảy Bon trong phần hội. So sánh về đồng đại để có thể thấy được
sự khác nhau trong thời gian tổ chức cũng như cách thức tổ chức lễ Bon tùy theo từng
địa phương. Ngoài ra, trong chương III, luận văn còn dùng cách so sánh giữa hai nước
Việt Nam và Nhật Bản về cách duy trì và phát triển lễ hội truyền thống, từ đó rút ra bài
học cho Việt Nam trong việc lưu truyền các lễ hội dân gian.
Ph
ương pháp tổng hợp liên ngành: Luận văn có tổng hợp nghiên cứu của nhiều
ngành khoa học khác nhau như văn hóa học, lịch sử học, xã hội học, tôn giáo… để có
thể có cái nhìn cụ thể hơn về văn hóa truyền thống của Nhật Bản nói chung và về lễ
hội Obon nói riêng.
Phương pháp lịch sử: tái hiện những giai đoạn lịch sử mang tính chuyển biến đối
với s
ự hình thành và phát triển của Phật giáo ảnh hưởng đến những lễ hội truyền thống
của Nhật Bản, cụ thể là đối với lễ hội Obon.
Phương pháp thu thập tài liệu: từ các tạp chí, báo, tài liệu, sách tiếng Việt cũng
như tiếng nước ngoài, các trang web, các loại hình ảnh…
5. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI:
Trong xu thế hội nhập của nướ
c ta hiện nay, ngày càng có nhiều bạn bè quốc tế đến
Việt Nam, đặc biệt là Nhật Bản. Hiện nay đã có rất nhiều công ty của Nhật Bản đầu tư
vào Việt Nam như SanYo, Sankyo, Mitsubishi Với nhu cầu giao lưu văn hóa và phát
triển kinh tế, ngày càng có nhiều người Việt Nam học tiếng Nhật và làm việc trong
những công ty của Nhật Bản.
5
nghĩa về lễ hội Obon.
Chương 2: Tập trung giải quyết bốn vấn đề chính. Thứ nhất là lược sử về sự hình
thành và phát triển của Phật giáo tại Nhật Bản, giải thích nguồn gốc lễ hội Obon. Thứ
hai là trình bày thời gian diễn ra lễ
hội có sự sai khác tùy theo từng vùng. Vấn đề thứ
6
ba chú trọng giải thích phần nghi lễ trong lễ hội Obon và vấn đề thứ tư là phần hội
trong lễ hội Obon tại Nhật Bản.
Chương 3: Ở phần này tập trung giới thiệu về phương pháp duy trì và phát triển lễ
hội truyền thống của Nhật Bản, liên hệ đến việc duy trì và phát triển lễ hội truyền
thống Việt Nam.
nắm được cơ s
ở lý luận của lễ hội – lễ hội truyền thống của Nhật Bản.
1.1. Khái niệm chung về “Lễ hội”
1.1.1. Định nghĩa về lễ hội:
Lễ hội là một loại hình sinh hoạt văn hóa tinh thần và là hoạt động thực tiễn nhằm
thỏa mãn nhu cầu tâm linh, củng cố ý thức cộng đồng. Lợi ích trước nhất mà lễ hội
mang đến cho cộng
đồng là sự thỏa mãn về nhu cầu tâm linh, từ đó tạo ra những hi
vọng về nhu cầu sống của mỗi cá nhân và của cả cộng đồng.
8
Theo định nghĩa của từ điển Văn hóa dân gian thì “Lễ hội (còn gọi là hội lễ), là
hình thức sinh hoạt văn hóa xã hội của một tập thể, một tổ chức thuộc giới, nghề,
ngành hoặc tôn giáo trong phạm vi một địa phương hoặc trong cả nước”
2
Hay như nhà nghiên cứu Alessandro Falasi nhận xét: “Lễ hội là một hoạt động kỉ
niệm định kì biểu thị thế giới quan của một nền văn hóa hay nhóm xã hội thông qua
hành lễ, diễn xướng, nghi lễ và trò chơi truyền thống”.
3
Trong tiếng Nhật, từ Matsuri (祭) có nghĩa là lễ hội. Matsuri về cơ bản là lễ hội bản
xứ của người Nhật có nguồn gốc Thần đạo, được tổ chức hàng năm vào ngày tháng đã
định. Matsuri chủ yếu có nguồn gốc thiêng liêng, xuất phát từ các nghi lễ Thần đạo cổ
xưa để làm thánh thần và linh hồn người chết nguôi giận, cũng như thực hiện xong
m
ột chu kỳ nông nghiệp. Kết hợp một số nghi thức Thần đạo, cùng với nghi lễ Phật
giáo và Khổng giáo du nhập từ Trung Hoa, thành lịch lễ hội hàng năm. Matsuri bao
gồm phần nghi thức tế lễ và phần hội. Đây là một hoạt động mang tính biểu tượng,
trong đó người tham gia bước vào trạng thái chủ động giao tiếp với thần thánh (神:
tin tưởng đối với thần linh, cầu xin sự che chở, phù hộ của các thầ
n giúp con người
vượt qua những khó khăn nguy hiểm do thiên nhiên gây ra, đồng thời cũng thể hiện
những khát vọng, ước mơ vượt qua những khó khăn thử thách trong cuộc sống. Phần
“Lễ” luôn được thực hiện ở những nơi trang nghiêm như chùa chiền, đền điện, miếu
mạo
Hội là thành phần chính còn lại trong Lễ hội. Hội được thực hiện ngay sau “Lễ” và
cũng thu hút được s
ố lượng người tham dự nhiều hơn lễ, bởi hội là hình thức sinh hoạt
tập thể đại trà, không “kén” người tham dự, và là phần sôi động nhất trong lễ hội. Phần
hội thường được thể hiện bằng đám rước – trung tâm của lễ hội. Bất kì ai cũng có thể
tham gia diễu hành cùng đám rước, cùng nhảy múa nhộn nhịp với tiếng kèn tiếng
trống trong đám rước. Bên cạ
nh đó, hội còn thu hút sự chú ý của đông đảo người xem
nhờ hệ thống trò chơi, trò diễn phong phú và đa dạng. Phần hội thường được kéo dài
hơn phần lễ bởi đây là lúc để mọi người cùng thể hiện sự hoan hỉ, phấn khích, cùng
giao lưu, gặp gỡ vui chơi, quên đi những lo toan thường ngày của cuộc sống.
Lễ hội là công cụ giao tế giữa Thần – Người, Cá nhân – Xã h
ội nên bao giờ cũng
hợp với thời đại và dễ thụ cảm. Theo đánh giá của tác giả Đặng Văn Lung trong “Lễ
hội và nhân sinh” [10;2005], một lễ hội thường bao gồm các chức năng chính như sau:
chức năng trực quan; chức năng phát triển tâm linh; chức năng biểu hiện; chức năng
tiếp nhận, thu hút và cải biến; chức năng phân chia; chức năng tái tạo.
Có thể nói, ý nghĩa xã h
ội và sức hấp dẫn của lễ hội càng lớn thì quy mô của lễ hội
càng được nhân rộng, đồng thời thu hút nhiều hoạt động xã hội khác. Do đó, ý nghĩa
của một lễ hội trong thời đại hiện nay không chỉ nằm ở yếu tố bản sắc dân tộc mà còn
phải xét đến giá trị thực tiễn, thực dụng thì mới có thể đáp ứng được nhu cầu v
ề đời
sống tinh thần ngày càng cao của con người.
thực đời sống, phần nào thoát ra khỏi những quy định nghiêm ngặt của thời xưa. Các
thầy tu Thần đạo hoặc nh
ững người đứng đầu một cộng đồng là người tiến hành các
nghi thức lễ hội tại đền thờ Thần đạo trong vùng. Trong buổi tế lễ, thầy tế sẽ đọc
Norito (祝詞) là những bài kinh cầu nguyện, lời cảm ơn của con người gửi đến thần
linh. Sau đó, thần linh và các thành viên tham gia lễ hội cùng tham dự một buổi tiệc
thánh Naorai (直会).
Ngày xưa, việc tổ ch
ức một lễ hội thường tốn nhiều kinh phí và đòi hỏi nhiều nhân
lực. Vì vậy, việc đóng góp kinh phí của mỗi hộ dân trong làng được quy định rõ ràng.
11
Ngoài ra các chức sắc trong làng phải góp thêm tiền hỗ trợ tùy theo địa vị của mình
trong ngôi làng đó.
1.2.2. Phần hội
Nếu lễ là phần đạo thuộc về thế giới tâm linh thì hội là phần đời, thuộc về đời sống.
Do đó phần hội thường được kéo dài hơn và sôi động hơn bởi sự tham gia của đông
đảo quần chúng. Phần hội được thể hiện bằng nhi
ều hình thức phong phú và đa dạng.
Một số lễ hội thu hút khách bởi những điệu múa sôi động, tiếng trống Taiko nhịp
nhàng, các cuộc trình diễn trang phục cổ truyền đặc sắc và các đám rước náo nhiệt trên
đường phố.
Đám rước được xem là trung tâm của phần hội. Ở Nhật Bản hiện nay, phần hội
được chú trọng hơn phần lễ. Trung tâm của đám rước thường là nhữ
ng chiếc kiệu
Mikoshi (神輿) hoặc Dashi (山車). Đây là các phương tiện dùng với mục đích rước
thần và tiễn thần. Ngày nay, một trong những hoạt động lễ hội được yêu thích là việc
tham gia khiêng Mikoshi hay Dashi. Đặc biệt là giới trẻ và khách nước ngoài tỏ ra rất
nhiệt tình và hăng hái khi tham gia hoạt động này.
Mikoshi (神輿) là chiếc kiệu được ví như đền thờ Thần đạo Shinto di động, được
Mikoshi, kiệu Dashi được gắn bánh xe bên dưới. Chiếc kiệu này sẽ được diễu hành
khắp thành phố trong dịp lễ hội.
1.2.2.3. Kiệu Dashi
Nguồn: http://www.hanamakionsen.co.jp/blog/ 花巻まつり
山車 1 -thumb.jpg
Khi tham gia “Hội”, mọi người cùng nhau vui chơi, cùng nhau tham gia rước kiệu.
Để có thể rước được những chiếc kiệu nặng như vậy đòi hỏi người tham gia phải có
tinh thần đoàn kết, tinh thần tập thể cao. Đây chính là hình thức tốt để giáo dục truyền
thống, giáo dục tinh thần đoàn kết cho con cháu.
Mặt khác, người Nhật quan niệm rằng thần linh không xuất hiện trong phần lễ mà
thự
c hiện vai trò giao lưu với con người thông qua phần hội. Do đó, phần hội càng
diễn ra rầm rộ, sôi động bao nhiêu thì thần linh sẽ hài lòng bấy nhiêu. Trong thời gian
diễn ra lễ hội, các điệu múa ra đời như là một cách thức để con người tập trung tinh
thần cho việc thờ cúng. Ý tưởng dâng của ngon vật lạ cho thần linh xuất phát từ
nguyện vọng mong muốn thần và người xích lại gần nhau hơn. Với quan ni
ệm đó,
trong phần hội, người Nhật tham gia diễu hành cùng các đám rước, cùng ăn bánh ngọt
và uống rượu sake, tạo nên một quang cảnh lễ hội hết sức sôi động và vui tươi. Người
Nhật xưa cũng có thói quen đi xem lễ hội được tổ chức ở các làng lân cận. Vì không
14
phải là thành viên của làng đó nên họ không tham gia phần lễ mà chỉ tham gia phần
hội. Do đó khi nhắc đến lễ hội, phần hội thường được liên tưởng nhiều hơn phần lễ.
1.2.3. Phân loại lễ hội truyền thống Nhật Bản
Tương tự với nhiều quốc gia khác, vấn đề nghiên cứu và phân loại lễ hội truyền
thống ở Nhật Bản cũng
đi theo nhiều hướng khác nhau. Mỗi định hướng đều dựa trên
các cơ sở lý luận khá thuyết phục nhằm đưa ra cách phân loại lễ hội sao cho thỏa đáng
Trong tiếng Nhật, từ Matsuri (祭) có nghĩa là lễ hội. Đó là từ dùng để chỉ một loạt
các nghi lễ tôn giáo đa dạng thậm chí cả các lễ hội có liên quan tới các nghi lễ tôn giáo.
Thuật ngữ Matsuri ra đời với mục đích diễn tả và làm tăng thêm mối quan hệ giữa việc
thờ cúng tổ tiên, thần linh và những người thực hiện việc thờ cúng đó. Còn
Nenchuugyouji (年中行事) mang tính bao quát hơn, với ngh
ĩa là những sự kiện diễn
ra hàng năm và những sự kiện diễn ra theo mùa, phần lớn có nguồn gốc từ Trung Quốc
hay có liên quan đến Phật giáo.
Có những tài liệu lại phân loại lễ hội Nhật Bản theo phạm vi không gian. Ngoài các
lễ hội truyền thống mang tính quốc gia mà người Nhật thường gọi là Nenchuugyouji
(年中行事), ở mỗi khu vực hành chính, mỗi vùng miền đều có lễ hội của riêng mình.
Tạp chí Autoroute, mộ
t tạp chí uy tín ở Nhật Bản đã phân loại lễ hội truyền thống theo
6 đơn vị hành chính: 1. Hokkaidou (北海道) và Touhoku (東北); 2. Kantou (関東); 3.
Chuubu (中部); 4. Kinki (近畿); 5. Chuugoku (中国) và Shikoku (四国); 6. Kyuushuu
(九州) và Okinawa (沖縄).
Cũng có nhà nghiên cứu phân loại lễ hội theo tính chất và nội dung thể hiện, ví dụ
lễ hội chiếu sáng bao gồm các lễ hội liên quan đến đêm tối, lửa và sao; hay lễ hội tái
hiện các sự kiện lịch sử, lễ hội nhảy múa, lễ hội biểu diễn, lễ hội mùa, lễ hội tôn giáo,
lễ hội nông nghiệp
Nếu phân loại dựa trên chu kỳ thiên nhiên, lễ hội được chia thành lễ hội mùa xuân,
lễ hội mùa hè, lễ hội mùa thu và lễ hội mùa đông. Trong đó mùa xuân và mùa thu có
nhiều lễ hội nhất vì có liên quan đến sản xuất nông nghiệp. Nếu các lễ hội mùa xuân
được tổ chức nhằm cầu mong thuậ
n lợi trong công việc đồng áng thì các lễ hội mùa
thu phần lớn liên quan đến việc tạ ơn thần linh và chúc mừng mùa bội thu. Do mùa hè
là mùa dễ sinh bệnh dịch nên đa số các lễ hội mùa hè tiêu biểu ở Nhật Bản liên quan
đến việc đuổi tà và phòng chống bệnh tật. Lễ hội mùa đông thường là các lễ hội đốt
lửa, pháo hoa, tuyết, với ý nghĩa đón thần mặt trời trở lạ
i sưởi ấm mặt đất, mang lại sự
ừ đời sống tâm linh
của dân tộc Nhật. Thần đạo nguyên nghĩa là “con đường của thần thánh”, nó không có
nguyên tắc rõ ràng, cũng không có danh tính xác định của các vị thần, nó là tôn giáo
dựa vào các quyền năng thiêng liêng cao cả của thần linh để tăng cường thế lực, quyền
uy của Thiên hoàng, đồng thời cũng khuyến khích thần dân bách tính hãy nhớ đến ân
đức của Thần linh để trung thành với Hoàng tộc, làm lợi cho quốc gia. Trên thực tế,
Th
ần đạo không phải là một tôn giáo theo đúng nghĩa của nó (không có người sáng lập,
không có giáo lý) nhưng lại đóng vai trò lớn nhất với 9 vạn đền thờ và 10 vạn tu sĩ.
Thần đạo có thể nói là một tổng thể các tín ngưỡng và nghi lễ thờ cúng các vị thần, tổ
17
tiên và linh hồn người chết; nó là tôn giáo chiếm vị trí hàng đầu trong lịch sử Nhật Bản
từ xưa đến nay và là tôn giáo đầu tiên của người Nhật.
Tuy nhiên cùng với sự du nhập văn hóa từ Trung Hoa và Triều Tiên, hệ thống đạo
lý của Thần đạo cũng chịu không ít ảnh hưởng từ tư tưởng của Phật giáo và Khổng
giáo. Yếu tố đó cũng ảnh hưởng ít nhiều đến lễ h
ội truyền thống của Nhật Bản. Mặc
dù vậy, Thần đạo vẫn luôn giữ vai trò là tín ngưỡng đặc trưng nhất và tiêu biểu nhất
của dân tộc Nhật. Có thể khẳng định rằng bất kỳ lễ hội truyền thống nào ở Nhật Bản
cũng mang một ý nghĩa tôn giáo nhất định. Đó là do phần lễ của lễ hội là phần thuộc
về tín ngưỡ
ng, tâm linh, mà tín ngưỡng thực chất là một hình thức nguyên thủy của tôn
giáo. Những lời cầu nguyện trong lễ hội chủ yếu xoay quanh ba vấn đề:
• Xua đuổi bệnh tật, các bệnh dịch xảy ra trong năm.
• Cầu siêu cho những người đã chết.
• Cầu mong sức khỏe, hạnh phúc, sung túc trong cuộc sống.
1.3. Lễ hội Obon
Phần này tác giả sẽ giới thiệ
u về lễ hội Obon thông qua việc giải thích nguồn gốc
cách phiên âm đúng phả
i là Ô Lam Bà Nã, nghĩa là treo ngược. Đây là nghi lễ của các
nước phương Tây (so với Trung Quốc) được tổ chức vào ngày tự tứ của chư Tăng.
Những ai đã tạo tội lỗi nếu lúc qua đời không có con cháu cúng tế thường phải chịu
nỗi khổ bị treo ngược trong cảnh ngạ quỉ. Việc thiết lễ cúng dường đức Phật và chư
Tăng vào ngày cuối của mùa an cư nhằm mục
đích cứu vớt những vong hồn đó ra khỏi
nỗi khổ trên. Ngài Huyền Ứng còn cho rằng nếu hiểu Vu Lan Bồn là vật chứa thức ăn
thì đó là một sự lầm lẫn. Như thế theo cách giải thích này, thuật ngữ Vu Lan Bồn hay
Ô Lam Bà Nã không mang nghĩa là vật cứu độ hay vật đựng thức ăn để dâng cúng
Đức Phật và chư Tăng như cách giải thích của các tác giả Trung Hoa khác mà nghĩa
củ
a nó là sự cứu độ (cho những ai đang chịu đựng nỗi khổ bị treo ngược).
4
Học giả An
Chi (Huệ Thiên) cũng có cách giải thích về thuật ngữ Vu Lan Bồn tương tự như cách
giải thích của ngài Huyền Ứng.
Trong tiếng Nhật, lễ Vu Lan có tên là “Obon” (お盆) hay “Ura- bon-e” (盂蘭盆会),
nghĩa là lễ cầu nguyện cho những người đã quá vãng. Urabon-e hay Vu Lan Bồn đều
là những thuật ngữ chỉ cho một lễ hội Phật giáo với mục đích là cứu độ những người
quá cố đ
ang phải chịu những quả báo nặng nề và giúp họ chuyển hóa tâm thức, thoát
khỏi cảnh giới khổ đau và thác sinh trong cõi lành. Theo kinh Vu Lan Bồn, việc thiết
4
Thích Đồng Thành, “Tìm hiểu thuật ngữ Vu Lan Bồn”,
http://phapluanonline.com/index.php?option=com_content&view=article&id=814:tim-hiu-thut-ng-vu-lan-
bn&catid=41:nghien-cuu&Itemid=53
19
tha giới (thế giới của người chết) nên không được mời đến bàn thờ Phật mà có một nơi
thờ riêng ở phòng khách hay hiên nhà. Linh hồn của những kẻ không có người chăm
sóc, còn gọi là cô hồn đi theo linh hồn tổ tiên và linh hồn người mới chết về nhà trong
dịp này, vì không có liên hệ huyết thống với gia đình, do vậy không được mời vào
trong nhà. Tuy nhiên, người ta tin rằng những hồn ma này có thể gây tai ách cho gia
20
chủ nếu bị phật ý nên cũng phải được thiết đãi một cách cẩn thận. Chính vì vậy mà
khắp vùng Kanto thường thấy những bàn thờ ma đói đặt trong vườn. Điều này giống
với tục cúng cháo trước cửa nhà dành cho cô hồn được tiến hành đồng thời với việc
cúng tổ tiên vốn được tổ chức một cách trang trọng trên bàn thờ gia đình vào dịp cúng
Rằm tháng Bảy ở Vi
ệt Nam.
Người Nhật còn gọi Lễ Bon hay là ngày "Lễ lồng đèn" (Festival of Lanterns),
thường được tổ chức hằng năm vào các ngày 13, 14 và 15 tháng 7, hoặc có nơi vào
ngày 15 tháng 8 dương lịch. Ngày nay, lễ Bon đã trở thành một trong những ngày lễ
lớn, phổ thông và vui nhất tại Nhật. Trong dịp này, ngoài việc đi thăm viếng nghĩa
trang, cúng lễ cầu siêu cho ông bà cha mẹ ra, người ta còn tổ chức phóng đăng (lồng
đèn), và hội hè, múa hát khắp nơi.
1.3.2.1. Đi thăm mộ trong mùa lễ Bon
Nguồn: http://genkona.cocolog-
nifty.com/photos/uncategorized/2007/08/21/photo.jpg
Về phương cách tổ chức ngày lễ Bon (Vu Lan) tùy từng vùng và địa phương ở
Nhật, chi tiết các buổi lễ và cuộc vui có phần sai khác, song đặc tính chung căn bản
của ngày lễ này thì khắp nơi vẫn giống nhau. Để chuẩn bị cho mùa lễ Bon, dân chúng
Nhật trước hết lo dọn dẹp sạch sẽ, trang hoàng nhà cửa và nghĩa trang tại các chùa nơi
tro cốt thân nhân ông bà, cha mẹ của họ được ký thờ. Sau đó, người ta đi ch
ợ Bon hay
Bon-Ichiba (盆市場)để mua sắm các thức ăn, lễ vật (bông hoa, trái cây) dùng trong
Đ
a số người Nhật thường ít quan tâm tới các tổ chức tôn giáo của mình, ngoại trừ
một số ít người có sự quan tâm đặc biệt, còn phần lớn người dân Nhật không hiểu
nhiều về các vấn đề tôn giáo hoặc sự khác biệt giữa các chi phái trong cùng một giáo
phái. Nhưng thay vào đó, người Nhật lại có một niềm tin tôn giáo sâu sắc và phóng
khoáng. Họ sẵn sàng đón nhận mọi hoạt động phổ biến, các lễ nghi tôn giáo khác nhau
như: tổ chức Hôn lễ theo Thiên Chúa giáo, đón năm mới theo nghi lễ Thần Đạo, tổ
chức tang ma giỗ chạp theo nghi lễ nhà Phật.
Có thể nói tôn giáo đã gắn liền với đời sống người dân Nhật. Lễ hội Obon mà tác
giả giới thiệu trong nghiên cứu này là một lễ hội Phật giáo, vì vậy chỉ xin đề cập đến
sự hình thành và những ảnh hưởng của Phật giáo đối với Nh
ật Bản thông qua lễ hội
Obon.
Theo biên niên sử sớm nhất của Nhật Bản (日本書記: Nihon Shoki) (720), đạo
Phật được truyền bá vào Nhật Bản từ Triều Tiên vào năm 552, khi vua Peakche gửi
tặng Hoàng đế của Nhật Bản bức tượng Phật Thích Ca Mâu Ni bằng vàng và đồng và
một số sách Kinh Phật.
Người có công lớn trong việc truyền bá kiến thức Phật học đầu tiên vào Nhật Bản
là Thánh Đức Thái tử (
聖徳太子: Shoutoku Taishi), sinh năm 574, mất năm 622, là
con trai thứ hai của Nhật hoàng Youmei (用明). Ông là một nhà chính trị, nhà cải cách,
nhân vật Phật giáo nổi tiếng của Nhật Bản.
Shoutoku Taishi tên thật là Umayado (厩戸). Thánh Đức Thái tử là tên người đời
sau gọi để ca tụng ông. Thánh Đức Thái tử vốn học đạo với một vị tăng Cao Li đến
Nhật Bản để truyền bá Phật pháp. Ông đã gửi nhiều đoàn sứ giả sang Trung Hoa
để
thu thập kinh điển Phật giáo. Ông còn kiến lập 7 ngôi chùa Phật giáo.
23
Thời đó với Nhật Bản, Phật giáo không chỉ là tôn giáo mà còn là một thứ văn hóa
Hiếu của Khổng giáo; quan hệ xã hội, làm ăn, ở trường học theo sự tôn kính, trung
thành của Khổng giáo; khi nhớ ơn cha mẹ tổ tiên thì cầu khẩn Phật. Dầu là theo Thần
đạo, nhưng trong cuộc sống tinh thần, người Nhật gắn liền với nhân sinh quan Phật
giáo và mục đích là sự giải thoát, bình an trong cõi Niết bàn.
Phật giáo hiện nay vẫn là m
ột tôn giáo chính trong xã hội Nhật Bản. Nó như là một
sự khỏa lấp khoảng trống tinh thần của con người trước những biến đổi phức tạp, căng
thẳng của nhịp sống công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong xã hội Nhật Bản.
Phật giáo từ khi du nhập vào Nhật Bản đã có những ảnh hưởng sâu sắc trong đời
sống xã hội. Với giáo lý về Nghiệp, Luân hồi, Giả
i thoát, Phật giáo đã làm cho người
ta tin vào một tương lai tốt đẹp ở thế giới bên kia – phương Tây cực lạc, hay còn gọi là
cõi Niết Bàn. Phật dạy rằng, ai cũng phải qua kiếp luân hồi, luân hồi là điều không thể
tránh được. Luân hồi là quy luật tự nhiên mà mỗi kiếp được trải qua bốn giai đoạn cơ
bản: sinh, lão, bệnh, tử; hết rồi lại bắt đầu một vòng mới (ki
ếp mới), và cứ như vậy
diễn ra không phụ thuộc vào con người và bản thân con người cũng không thể cưỡng
lại được. Cuộc đời là bể khổ, kiếp người là trầm luân nhưng lại theo một quy luật căn
bản là “nhân - quả”, tức là sự kết thúc của một kiếp là nguyên nhân ra đời của kiếp sau
theo sự tác động của duyên.
Triết lý của đạo Phật khiến người Nh
ật dễ cảm thông và tâm đắc, tác động mạnh
đến tình cảm của người Nhật. Đạo Phật là động cơ thúc đẩy sự tiến bộ của nền văn hóa
dân tộc Nhật Bản. Để tồn tại ở Nhật Bản, Phật giáo đã biến đổi, hòa đồng một cách
tinh tế với tín ngưỡng bản địa, cụ thể là Thần đạo để tồn tại và phát triể
n.
2.1.2. Xuất xứ lễ hội Obon
Như trên đã trình bày, theo quan niệm của đạo Phật, con người sinh ra, lớn lên và
chết đi, đó là một vòng đời. Nhưng chết đi không phải là không còn tồn tại. Mà chết là
đi đến một thế giới khác tồn tại song hành cùng thế giới của những người đang sống.
Mục-liên mới đặng lục-thông,
Muốn cho cha mẹ khỏi vòng trầm-luân.
Công dưỡng-dục thâm-ân dốc trả,
Nghĩa sanh thành đạo cả mong đền,
Làm con hiếu-hạnh vi tiên,
Bèn dùng huệ-nhãn dưới trên kiếm tầm.
Thấy vong-mẫu sanh làm ngạ-quỷ,