BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LẠC HỒNG
KHOA ĐÔNG PHƯƠNG HỌC
W X
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
ĐỀ TÀI:
NGHỆ THUẬT MÚA SƯ TỬ
TRONG VĂN HOÁ TRUNG HOA
中国文化中舞狮艺术 NGƯỜI THỰC HIỆN : TRƯƠNG CẨM TÚ
GIẢNG VIÊN KHOA ĐÔNG PHƯƠNG
BIÊN HÒA, THÁNG 05 NĂM 2010
2
MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
DẪN NHẬP 4
1. Lý do chọn đề tài 4
2. Giới hạn đề tài 4
3. Lịch sử nghiên cứu 4
4. Phương pháp nghiên cứu 5
I. ĐỊNH VỊ MÚA SƯ TỬ THEO HỆ TỌA ĐỘ CHỦ THỂ - KHÔNG GIAN – THỜI
GIAN 6
Múa sư tử là một loại hình nghệ thuật biểu diễn dân gian vô cùng độc đáo của người
Trung Quốc, là một trong những điệu múa có sức sống lâu đời nhất, mãnh liệt nhất và vẫn
còn phổ biến trong hầu hết mọi hoạt động giải trí của người Trung Quốc.
Trung Quốc vốn không phải là quê hương của sư tử. Vì sao người dân Trung Quốc
yêu mến và sùng bái sư
tử đến thế ? Múa sư tử có vai trò như thế nào trong đời sống văn
hóa người Trung Quốc ? Múa sư tử thể hiện được những đặc điểm gì trong văn hóa Trung
Hoa ?
Để tìm đáp án cho những câu hỏi trên, tôi chọn múa sư tử là đề tài cho bài nghiên
cứu khoa học của mình với mong muốn qua việc tìm hiểu nghệ thuật múa sư tử sẽ hiểu
sâu hơn về con người và văn hóa Trung Hoa.
2. Giớ
i hạn đề tài
Nghệ thuật múa sư tử đã xuất hiện gần 2000 năm với cả một quá trình hình thành,
phân hóa, phát triển từ nghệ thuật dân gian đến nghệ thuật cung đình, từ truyền thống đến
cách tân… Ngày nay, nghệ thuật múa sư tử phát triển rộng rãi ở Trung Quốc và nhiều
quốc gia khác trên thế giới, đặc biệt là những nơi có cộng đồng người Hoa sinh sống.
Do thời gian và tài liệ
u nghiên cứu có hạn, tôi chỉ tập trung nghiên cứu về nghệ thuật
múa sư tử hiện đại ở Trung Quốc đại lục.
3. Lịch sử nghiên cứu
Mặc dù đây là môn nghệ thuật truyền thống rất phổ biến ở Trung Quốc và ở Việt
Nam, nhưng tài liệu bằng tiếng Việt hầu như chỉ dừng lại ở một số bài viết có tính khảo
cứ
u không cao được đăng trên một số báo và website ở Việt Nam, nội dung chủ yếu là
giới thiệu sơ lược về nghệ thuật múa Lân (nam sư) ở Việt Nam.
Những tài liệu bằng tiếng nước ngoài tuy phong phú hơn, nhưng tôi vẫn chưa tìm
được tài liệu nào có tính khảo cứu cao phân tích từ góc độ văn hóa học.
5
4. Phương pháp nghiên cứu
Tục múa sư tử vốn đã có từ rất lâu và nó vẫn còn phổ biến đến ngày nay. Nó không
chỉ phổ biến ở Trung Hoa mà cùng với sự di dân của người Trung Quốc, môn nghệ thuật
này đã phát triển ra khắp thế giới, đặc biệt là ở các quốc gia ảnh hưởng văn hóa Hán và
cộng đồng người Trung Quốc ở hải ngoại. Và bất cứ ở đâu hễ nghe tiếng trống lân (còn
gọi là thất tinh cổ) vang lên lại làm rộn rã lòng người. Không ai có thể không ngừng lại
hoặc ít nhất là không ngoái đầu nhìn về hướng phát ra âm thanh đó. Bao nhiêu đó cũng có
thể thấy sự hấp dẫn của của tiếng trống trong nghệ thuật múa sư tử. 1
Chu Kim Nguyên, Hùng Nguyệt Chi 1996 : Văn hóa truyền thống ABC, NXB Hữu Nghị Sơn Đông Trung Quốc,
682 trang.
2
Theo Toàn Tiêu văn thể cục 2008 : Nguồn gốc của múa sư tử, đăng trên web site của Cục văn hóa thể thao thành
phố Trừ Châu />
7
Múa sư tử thường được biểu diễn trong các dịp ngày tết, lễ hội, góp vui cho những
sự kiện quan trọng như khai trương, khai mạc, lễ mừng thọ … hoặc được người dân rước
về nhà với mong muốn được may mắn, cát tường, xua đuổi tà mà…
1.1.2. Phân loại múa sư tử
Nghệ thuật múa sư tử đã tồn tại ở Trung Quốc được hơn 2000 nă
m, trong suốt thời
gian hình thành phát triển, về cơ bản có thể chia nghệ thuật múa sư tử thành hai trường
phái chính : Đó là Nam Sư và Bắc Sư (hay Nam phái và Bắc phái)
3
.
Theo quan điểm chính thống của người Trung Quốc, họ không phân biệt rõ là múa
lân hay múa sư tử, tất cả được gọi chung là “vũ sư” (múa sư tử).
1.1.2.1. Nam sư 南狮
cây gậy thần thông để ông ta giúp sư tử tu hành đắc đạo dành được chánh quả
5
. Một
thuyết khác cho rằng, xưa kia có một năm trời làm thiên tai, mất mùa, dân chúng chết như
rạ. Phật Di Lặc là người tốt bụng đã tìm hiểu và biết được trên ngọn núi cao chót vót có
loại cỏ Linh chi (thất diệp thất chi hoa) có thể chữa lành nhiều thứ bệnh. Nhưng loại cỏ
này rất khó lấy vì nó được một con Sư tử canh giữ. Phật Di Lặc tìm cách mon men đến
gần làm quen với con sư tử
, dần dà ông trở nên thân thiết và cảm hóa được nó. Ông hái
trộm được cỏ linh chi và rủ được con sư tử xuống núi giúp đời. Từ truyền thuyết này,
trong các đám múa nam sư đều có chi tiết ông địa phe phẩy cái quạt để che cỏ linh chi đã
trộm được.
6
Hình 1.2.1.2. Ông địa Hình 1.2.1.3. Lân và ông địa
1.1.2.2. Bắc sư 北狮
Gọi là Bắc sư vì chúng thịnh hành ở phía bắc sông Trường Giang, có người gọi là
Bắc phương Sư(北方狮), hoặc Bắc kinh Sư(北京狮)
7
5
Su Hui Qing 1989 : The Lion Dance , Trung Hoa dân quốc kiều vụ xuất bản xã, TaiWan trang 26
6
Theo Lư Anh Cúc Mai 1992 : Múa Lân ngày tết, NXB Thông tin, trang số 4
7
Su Hui Qing 1989 : The Lion Dance , Trung Hoa dân quốc kiều vụ xuất bản xã, TaiWan, trang 10
10
Đầu sư
- Trang trí cầu kỳ, sặc sỡ, màu
đỏ vàng là chủ yếu, không
giống sư tử.
- Miệng rộng, mắt lồi, lông
mày rậm, râu ngắn, phần mắt
và miệng có thể cử động được
- Đôi khi có thêm sừng
- Đơn giản, trông giống đầu sư
tử (chân sư)
- Phần mắt và miệng thường cố
định
- Không có sừng
Trang phục trong
biểu diễn
- Nghệ nhân chỉ cần “đội” đầu
lân lên là có thể biểu diễn
được rồi, rất linh hoạt. - Nghệ nhân có thể thay đổi
các trang phục khác nhau
- Nghệ nhân khi biểu diễn phải
“mặc” vào, tương đối gò bó,
đòi hỏi sự ăn ý cao hơn giữa hai
người trong biểu diễn.
Tiết mục “ăn
rau”( 采青)
Có Không
Tiết mục “Điểm tinh
khai quang”
Có
Thường do người chủ trì tiến
hành với ý nghĩa truyền sinh
khí, có nguồn gốc từ tích “họa
long điểm tinh”
Không
Nguồn gốc Nghệ thuật dân gian Nghệ thuật cung đình
Chủ đề biểu diễn Phong phú Giới hạn
Mặc dù về tên gọi thì người Trung Quốc không gọi là múa Lân, chỉ có tên gọi chung
cho hai trường phái chính là múa sư tử, nhưng rõ ràng hình dáng “con sư tử” của phái
Nam sư đích thị là một “con Lân”.
Kỳ Lân(麒麟) theo từ điển Hán ngữ hiện đại có nghĩa “là một loài động vật trong
truyền thuyết xưa, hình dáng giống hươu, trên đầu có sừng, toàn thân phủ kín vảy, có đuôi,
được người xưa coi là điềm lành, gọi tắ
t là Lân”
8
. Những anh hùng kiệt xuất cũng được
ví giống con Kỳ Lân.
Đối với người Trung Quốc, Lân là một linh thú, một nhân thú (仁兽, chữ nhân này
là “nhân ái”), hình ảnh con lân đã được người Trung Quốc thờ trong Thái Miếu ngay từ
thời Khổng Tử và xếp vào bộ tứ linh là Long - Lân - Quy - Phụng. Người Trung Quốc
cho rằng, kỳ lân là con vật huyền thoại có thể đi được cả trên cạn và dưới nước, được quy
về một nhóm chung vớ
i Thanh Long, Bạch Hổ, Chu Tước, Huyền Vũ thành Thiên cung
đang ở đây) để ma quỷ sợ mà tránh đi. Trên những cái nôi trẻ em nằm, người ta cũng viết
bốn chữ Hán “kỳ lân tại thử”(麒麟在此)với hai tầng ý nghĩa, một là đứa trẻ này sẽ là
anh hùng kiệt xuất và nó đang ở cái nôi này, ý thứ hai là ma quỷ thấy có kỳ lân ở đây mà
tránh không hại đứa bé.
Nhận thức về s
ức mạnh của Lân cũng được áp dụng nhiều trong kiến trúc và thuật
phong thủy. Lân xuất hiện rất nhiều trong kiến trúc đền chùa, miếu, lăng tẩm … với ý
nghĩa sẽ canh giữ, bảo vệ thần thánh, trấn áp tà ma … Nhiều người dân cũng đặt một cặp
Lân đá hay sư tử đá ở cổng chính với ý nghĩa tương tự.
1.2. Về mặt không gian
Nghệ thuật múa s
ư tử phổ biến khắp Trung Quốc và khắp nơi trên thế giới, đặc biệt
là những nơi có những cộng đồng người Trung Quốc sinh sống.
Về mặt phân bố thì có hai trường phái như sau: 10
Theo Hồ Thùy Trang 2009 : Tìm hiểu con Kỳ Lân huyền thoại qua điêu khắc Chăm, đăng trên web Báo Bình
Định, />
13
Các học giả theo trường phái chính thống của Trung Quốc căn cứ vào phong cách
khác nhau của nghệ thuật múa sư tử mà chia thành hai vùng Bắc và Nam tương ứng với
hình thức Bắc sư và Nam sư, lấy sông Trường Giang làm ranh giới. Phái Nam sư bắt
nguồn từ phía nam sông Trường Giang, thường gọi Nam Giang, còn phái Bắc sư chủ yếu
phân bố ở Hoa Bắc, Hoa Đông … nằm ở phía bắc sông Trường Giang nên gọi là Bắc
Giang.
Các học giả
Đài Loan thì chia thành ba vùng là Đài Loan, Bắc Giang và Nam Giang
ở Trung Quốc tương ứng với Đài Loan sư, Bắc sư và Nam sư. Ở Đài Loan lại chia thành
hai vùng là Bắc Đài và Nam Đài lấy vùng Tân Trúc làm ranh giới tương ứng với Bắc bộ
14
Theo các sử liệu của Trung Quốc ghi chép lại thì múa sư tử có lẽ xuất hiện sớm nhất
là vào thời Tam Quốc. Ghi chép sớm nhất về tập tục múa sư tử ở Trung Quốc được thấy
trong cuốn “Hán thư” mục “Lễ nhạc chí" với hai chữ “tượng nhân”. Theo giải thích của
danh sĩ Mãnh Khang người nước Ngụy (thời Tam Quốc) thì “tượng nhân” là từ dùng để
chỉ các nghệ nhân dân gian hoá trang thành sư tử
, cá, tôm …
13
Đến thời Nam Bắc triều, trong dân gian đã phổ biến rộng các hình thức múa sư tử,
đến thời Đường thì múa sư tử đã phát triển mạnh, quy mô lớn đến nỗi có lúc hàng trăm
người cùng tham gia múa, thậm chí múa sư tử còn gọi là “Yên nhạc” được biểu diễn trong
hoàng cung, nó còn có các tên gọi khác là “Thái bình nhạc” hoặc “Ngũ phương sư tử vũ”.
Sau thời Đường, múa sư tử càng được lưu truyền rộng rãi hơ
n trong dân gian; cuốn
“Đông Kinh mộng lục” ghi lại rằng, một số chùa chiền tổ chức ngày hội múa sư tử, sư sãi
ngồi trên lưng sư tử tụng kinh. Trong cuốn “Đào Am mộng ức” của Trương Đại thời nhà
Minh có giới thiệu không khí rước đèn, đánh trống khua chiêng trên đường phố, đâu đâu
cũng thấy cảnh múa sư tử, người đi xem rất đông. Đến thời nhà Thanh thì trong bất cứ
ngày lễ ngày hội nào cũng không thể thiếu được cảnh múa sư tử.
14
“Múa sư tử” mà những sử liệu trên đề cập đến chủ yếu là chỉ Bắc sư. Từ hình tượng
con sư tử của phái Bắc sư biến đổi thành con Lân rồi hình thành phái Nam sư diễn ra
trong thời nhà Minh và phát triển đến ngày nay
15
.
Có thể nói trải qua hàng nghìn năm, nghệ thuật làm sư tử, phong cách biểu diễn
được truyền từ đời này sang đời khác ở những vùng miền khác nhau nên tạo sự khác biệt
đa dạng nhưng vẫn giữ được những kỹ thuật biểu diễn rất điêu luyện, thể hiện trí tuệ, lòng
phục… Thường thì các đội Lân sẽ theo một môn phái võ nào đó như Thiếu Lâm, Bạch
Mi
Sắc thái võ thuật bao trùm suốt quá trình biểu diễn, vì vậy người xem muốn cảm
được cái hay, cái tinh túy thì phải biết hoặc hiểu về võ học. Người Trung Quốc có một
nền võ học đặc sắc và lâu
đời. Có thể nói hầu hết người Trung Quốc đều yêu thích võ
thuật. Nhận thức của người Trung Quốc với võ thuật có phần khác với các dân tộc khác,
ngoài việc xem võ thuật là phương tiện để chiến đấu và tự vệ ra, nó còn được xem là
phương pháp dưỡng sinh, phương pháp để tu thân. Vì vậy, Trung Quốc là mảnh đất màu
mỡ cho võ thuật hình thành và phát triển. Trước kia, trong giới võ lâm thường tôn vinh
"bát đại môn phái" (Thiếu Lâm, Võ Đang, Nga Mi, Côn Luân, Không Động, Thanh
Thành, Hoa Sơn, Toàn Chân) hoặ
c "thất đại môn phái" (Thiếu Lâm, Võ Đang, Nga Mi,
Côn Luân, Không Động, Thanh Thành, Hoa Sơn) võ thuật Trung Hoa, trong đó Võ Thiếu
16
Lâm được đề cao là ngôi sao Bắc đẩu. Gần đây nhất, trong cuốn Võ thuật thần kỳ của
Trịnh Cần và Điền Vân Thanh, Trung Quốc, bản dịch được Nhà xuất bản Hà Nội, H.
1996 xuất bản, các tác giả khẳng định Trung Hoa bao gồm không dưới 500 võ phái khác
nhau.
Tinh thần thượng võ, lòng yêu mến võ học của người Trung Quốc còn thể hiện ở
việc đông đảo các tầng lớp dân chúng tham gia tập luyện,
ở việc thường xuyên tổ chức
các cuộc thi đấu võ thuật, giống như thi đấu trong thể thao. Người giành được chiến thắng
trong các cuộc thi đấu võ thuật sẽ rất có uy tín, được dân chúng tôn trọng và ca tụng. Là
một môn nghệ thuật liên quan đến võ thuật, ngoài hoạt động chính là hoạt động biểu diễn,
các đội Sư, đoàn Sư cũng tổ chức các cuộc thi đấu. Thời nhà Minh là thời kỳ hoạt động
“đấu sư” phát triển mạnh nhất. Ngày đó trên đầu Nam sư có một cái sừng bằng sắt dùng
để chiến đấu với đầu sư đối phương. Đầu sư thi đấu thường có mặt đen, người ta gọi là
“Trương Phi sư”( 张飞狮)hoặc “Vũ sư”( 武狮 Vũ/wǔ/ đây có nghĩa là Võ thuật, đồng âm
với Vũ 舞/wǔ/ có nghĩa là múa). Sau này, hoạt động “đấ
nước tượng trưng cho mặt trăng. Nhịp múa phải nhanh, vui, nhưng không được để cho
siêu đất bị vỡ, đòi hỏi kỹ thuật cao, chỉ biểu diễn cho những gia chủ đặc biệt.
17
Trống đánh trong các cuộc múa sư tử gọi là Thất Tinh Cổ (trống bảy sao). Người
đánh trống phải là người trưởng phái, hoặc phụ tá thứ nhất của trưởng phái. Trống đánh
phải có bài bản, phù hợp với các bộ pháp như chào, lạy, nằm, leo lên, tuột xuống, lúc
khoan lúc nhặt, lúc dồn dập liên hồi như trống trận, mới diễn tả hết hùng khí của lân, oai
phong của sư. Ng
ười Trung Quốc tin rằng, chỉ cần nghe thấy giai điệu rộng ràng, vui tai
của Thất Tinh Cổ là có thể xua đi ám khí, nghinh đón tài lộc, may mắn.
2.1.3. Múa sư tử thể hiện lối tư duy tổng hợp kết hợp phân tích của người Trung
Quốc
Xét về loại hình văn hóa trong không gian văn hóa, Trung Quốc có nền văn hóa gốc
nông nghiệp trọng động. Trung Quốc có loại hình văn hóa chuyển tiếp trọng th
ế tục,
tương ứng với nó là lối tư duy tư duy tổng hợp kết hợp với phân tích rất rõ nét.
18
Cùng là nghệ thuật múa sư tử, nhưng lại có hai phong các tương đối khác biệt nhau.
Bắc sư thể hiện lối tư duy của người phía Bắc Trung Quốc thiên về phân tích, còn Nam sư
thể hiện cho lối tư duy của khối cư dân phía Nam sông Trường Giang (thuộc khối Bách
Việt ) thiên về tổng hợp. 17
Theo Lư Anh Cúc Mai 1992 : Múa Lân ngày tết, NXB Thông tin, trang số 7
18
Theo Trần Ngọc Thêm 2007 : Lý luận Văn hóa học (tập bài giảng), trang 61
18
trong nghệ thuật trang trí trên đầu Lân phải quy tụ đầy đủ bộ Tứ linh (Long – Lân – Qui –
Phụng). Sừng Lân, hai lỗ tai và đuôi kết thành hình tượng con rùa (Qui), Rồng (long) thể 19
Theo Lư Anh Cúc Mai 1992 : Múa Lân ngày tết, NXB Thông tin, trang số 9
20
Theo Vĩ Minh 2008 : Kỳ Lân Tại Thử, đăng trên web site Hoa Thanh Luận Đàn của Trung Quốc,
/>
19
hiện ở qua đường kéo dài từ khóe miệng Lân ra tận quai hàm, cuộn thành song long, mỗi
súc tu của Lân tượng trưng cho đầu một con rồng. Kết tinh độc đáo như thế, nên hình
tượng của Lân càng trở nên oai phong, kỳ diệu trước con mắt thẩm mỹ dân gian của
người Trung Quốc. Bất luận là Lân lớn hay nhỏ, thậm chí là Lân đồ chơi của trẻ con cũng
phải tuân thủ theo nguyên tắc tượng hình Tứ linh. Mọi sáng tạ
o đi lệch khỏi nguyên tắc
này đều bị coi là còn ngờ nghệch với nghệ thuật múa Lân, thậm chí còn bị cho là vô dụng,
bất kính.
21
Hệ quả của lối tư duy tổng hợp là tính biểu trưng, tả ý, tả thần trong nghệ thuật nói
chung, và môn nghệ thuật múa sư tử cũng không ngoại lệ. Tuy nhiên, nếu so sánh hai
môn phái lớn trong múa sư tử thì Bắc sư thiên về tả thực hơn, còn Nam sư thiên về tính
biểu trưng tả ý hơn.
Muốn hiểu được nghệ thuật múa sư tử, nhất là múa Lân của phái Nam sư, ngườ
i xem
không những phải am hiểu lối biểu đạt của nghệ thuật biểu diễn mang nặng tính biểu
trưng, mà còn phải nắm được những điển tích liên quan đến từng cử chỉ, từng chủ đề hay
từng tiết mục. Ví dụ :
- Một con Lân biểu diễn gọi là “Độc chiếm ngao đầu": thể hiện tài tả xung hữu đột,
cần tất cả 6 người.
- 1 người đóng vai ông Địa (Đại Đầu Phật)
- Nhóm đánh cồng gồm 3 người, gồm 2 người dùng đòn gánh để gánh cồng, 1 người
đánh cồng
- 2 người thay phiên nhau đánh trống (1 người đánh, 1 dự bị)
- 1 người đánh chiêng
- 2 người đánh chập chõe
Khi đi biểu diễn, toàn đội mặc đồng phục là võ ph
ục giống nhau, đeo đai ở thắt lưng
cùng màu, duy chỉ khác nhau vị trí thắt đai lưng thể hiện vị trí khác nhau trong đội Lân.
Nếu thắt đai ở bên trái thì là võ sinh, là người biểu diễn múa Lân hoặc biểu diễn võ thuật,
nội công, thắt bên phải là bên nhóm phối nhạc chuyên đánh trống, đánh chiêng, và cồng,
chập chõe, thắt ở chính giữa bụng chính là đội trưởng hoặc chủ đoàn Lân.
22
22
Theo Su Hui Qing 1989 : The Lion Dance , Trung Hoa dân quốc kiều vụ xuất bản xã, TaiWan, trang 22
21
2.2.1.2. Biên chế đội Bắc sư
Đối với Bắc sư, mỗi lần đi diễn thường ít nhất là “song sư”(1 cặp sư tử), biên chế
một đội Sư tương ứng ít nhất 15 người bố trí như sau :
- “Song sư” do 4 người biểu diễn, cộng với ít nhất 4 người dự bị để thay thế khi mệt.
Như vậy, riêng nhóm này ít nhất là 8 người.
-
1 người “dẫn sư”( 引狮) : người này có vai trò giống ông địa bên Nam sư, thường
cần quả cầu thêu để vờn đôi sư tử
- 1 người đánh trống, 1 người dự bị
- 2 người đáng chiêng
- Lân th
ượng đầu đài (Biểu diễn trên 3 cái bàn chồng lên nhau)
- Thái thanh : là tiết mục cuối cùng, Lân leo lên cây tre cao để ăn cờ, tiền bồi dưỡng
của gia chủ.
b). Biểu diễn võ thuật : Các võ sinh biểu diễn cái bài quyền tay không và có binh
khí, biểu diễn nhào lộn.
c). Biểu diễn nội công
Gồm hai phần : Phần công phá như chặt gạch, bẻ sắt, dùng đầu đập bể một số đồ
vật, tay không bóc vỏ dừa … và phần thể hiện sức chịu đựng dẻo dai của người dày công
tập luyện đâm giáo vào cổ, nằm bàn chông cho người khác đập vỡ khối bê tông trên
bụng …
23
2.2.2.2. Chương trình của Bắc sư
Chương trình biểu diễn của phái Bắc sư chủ yếu là phần biểu diễn của đôi sư tử,
dưới sự dẫn dắt của người cầm quả tú cầu. Đầu tiên cũng là điệu múa chào mừng gia chủ,
rồi phỏng theo các điển tích mà biểu diễn các điệu múa như :
- Sư tử vươ
n vai
- Sư tử gãi
- Sư tử liếm lông 23
Theo Lư Anh Cúc Mai 1992 : Múa Lân ngày tết, NXB Thông tin, trang số 8
23
- Sư tử ăn
- Sư tử tắm
- Sư tử vồ mồi
- Sư tử ngậm tú cầu
25
Theo Lư Anh Cúc Mai 1992 : Múa Lân ngày tết, NXB Thông tin, trang số 10
24
Ở Việt Nam cũng có luật tương tự. Cụ Hồ Thái Nghi - 90 tuổi - hiện ở tại đường
Phan Đăng Lưu, Huế, chủ đoàn Lân có tên “Thái Nghi Đường”, chuyên biểu diễn cho
Vua nhà Nguyễn xem. Đoàn Lân gia đình cụ cũng thường có mặt phục vụ trong các dịp
Vua đón sứ thần nước ngoài hoặc mừng thọ Vua, mừng thọ Thái Hậu. Cụ Hồ Thái Nghi
cho biết: “Ngày xưa Đoàn múa Lân cũng có đẳng c
ấp. Đẳng cấp này phân biệt dựa trên
màu lông lợp trên cặp lông mày của con Lân. Thường có 3 đẳng cấp : Râu trắng trên 25
năm, râu đỏ trên 10 năm và râu đen trên 5 năm. Không phải ai muốn làm đầu Lân theo
màu nào cũng được đâu”. Ngày nay, đầu Lân ở Huế được làm nhiều màu hơn, người múa
cũng không còn phân biệt đẳng cấp10 năm hay 20 năm.Tuy nhiên, nếu so với cách làm
đầu Lân của Sài Gòn thì đầu Lân Huế vẫn còn giữ những nét chủ yếu của ngày xư
a.
26
2.3. Văn hóa ứng xử
Múa sư là một trong những hoạt động thường xuyên của người Trung Hoa trong ứng
xử với môi trường xã hội.
2.3.1. Múa sư tử thúc đẩy sự giao lưu giữa các cộng đồng trong xã hội
Mỗi cộng đồng người Hoa đều tổ chức đội Lân Sư của riêng mình, tùy vào đặc điểm
cụ thể mà đội Lân Sư của mỗi cộng
đồng có phong cách và quy mô khác nhau để phục vụ
hoạt động giải trí hội hè cho cộng đồng mình, ít khi nào họ mời đội Lân Sư của cộng đồng
khác. Tuy nhiên, để tăng cường sự giao lưu, học hỏi lẫn nhau về nghệ thuật múa Lân Sư
giữa các cộng đồng, họ thường tổ chức các cuộc thi với nhau. Vì thế, múa sư tử là nhân tố
giúp các cộng đồng người Hoa tăng cường sự giao l
ưu, học hỏi nhau, có tác dụng đặc biệt
trong việt cố kết cộng đồng. Tùy theo không gian, tùy theo ý nghĩa của lễ hội mà người ta
Múa sư tử có từ thời Tam Quốc, nhưng mãi đến thời Nam –Bắc triều nó được tách ra
thành một môn nghệ thuật độc lập và bắt đầu được biểu diễn rộng rãi, thịnh hành nhất là
vào đời nhà Đường, phát triển mạnh mẽ sang các nuớc b
ắt đầu từ cuối thời nhà Minh đầu
đời nhà Thanh. Trong giai đoạn đầu của lịch sử phát triển, không thể phủ nhận vai trò của
Phật giáo.
Theo thần thoại Ấn Độ, sư tử là một trong những kiếp hóa thân của thần Visnu, vì
sùng bái Visnu nên được Visnu ban cho phép trường sinh. Phật giáo Ấn Độ ra đời trên cơ
sở tiếp thu rất nhiều tín điều của Ấn Độ giáo, vì thế trong giai đoạ
n đầu, các Phật tử cũng
rất sùng bái con sư tử. Còn trong niềm tin của Phật giáo, sư tử là vật cưỡi của Văn Thù Bồ
Tát, cũng là con vật thiêng. Cùng với sự du nhập và phát triển Phật giáo ở Trung Quốc,