Luận văn đông phương học tìm hiểu về nghệ thuật sân khấu kabuki của nhật bản - Pdf 22



TRƯỜNG ĐẠI HỌC LẠC HỒNG
KHOA ĐÔNG PHƯƠNG HỌC
WX
BÁO CÁO
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

ĐỀ TÀI:

TÌM HIỂU VỀ NGHỆ THUẬT SÂN KHẤU
KABUKI CỦA NHẬT BẢN Sinh viên thực hiện: TRẦN THỊ THU VÂN

Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS. ĐOÀN LÊ GIANG

Với khả năng có thể và bằng những kiến thức và kinh nghiệm của bản thân,
em đã hoàn thành bài nghiên cứu của mình. Tuy nhiên, cũng không thể tránh khỏi
những sai sót. Vì vậy, em mong rằng có thể nhận được những lời nhận xét, sửa chữa
và bổ sung của quý Thầy Cô và bạn đọc!
Em xin chân thành cảm ơn!

Sinh viên thực hiện đề tài
Trần Thị Thu Vân

MỤC LỤC
A. PHẦN DẪN LUẬN 1
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 2
3. MỤC TIÊU VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3
5. ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI 3
6. CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI 4
B. PHẦN NỘI DUNG 5
CHƯƠNG I:
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA KABUKI 5
1.1. Nguồn gốc và sự ra đời của Kabuki nữ 1603-1629 5
1.1.1. Tiểu sử người sáng tạo ra Kabuki 5
1.1.2. Sáng tạo ra Kabuki 5
1.1.3. Okuni và Kabuki những năm sau đó 7
1.2. Kabuki nam bắt đầu từ năm 1653 8
1.2.1. Kabuki của các nam diễn viên trẻ 8
1.2.2. Sự hình thành Yarou kabuki 9
1.3. Kabuki thời Genroku 1673-1735 10
1.4. Kabuki sau cuộc Minh Trị Duy Tân 12

3.2. Kabuki trong đời sống tinh thần của người dân Nhật Bản 47
C. PHẦN KẾT LUẬN 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
1

A. PHẦN DẪN LUẬN

1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Tôi biết đến Nhật Bản qua cái tên gọi là đất nước Phù Tang và qua các hình
ảnh như: những cành hoa anh đào dịu dàng, những cô gái Nhật nổi bật trong những
chiếc áo Kimono, ngọn núi Phú Sĩ oai nghiêm, xinh đẹp hay những bộ phim truyền
hình hấp dẫn đầy ấn tượng. Và có những giờ học lịch sử tôi cũng được nghe thầy
giảng dạy về đất nước Nhật Bản với một nền vă
n hóa nhân văn sâu sắc. Tôi biết
ngoài những điều mà tôi đã nói, Nhật Bản còn có rất nhiều những đặc sắc, những đa
dạng trong cái gọi là văn hóa ấy. Tất cả làm cho tôi có cảm giác muốn khám phá về
đất nước này. Trở thành sinh viên nghành Nhật Bản học như bây giờ cũng là mong
muốn lớn của tôi, nó bắt nguồn từ những động lực từ thuở nhỏ. Và cho tới ngày
hôm nay tôi đã có c
ơ hội để thực hiên được điều mà tôi đã mơ ước từ lâu. Tôi đã
quyết đinh tìm hiểu về nó dù là ở khía cạnh nào hay chỉ là một yếu tố nào trong cái
nền văn hóa rộng lớn. Vì tôi biết ở một mặt nào trong đời sống của con người cũng
có thể thể hiện lên được nét đẹp văn hóa.
Một lý do nữa mà tôi rất tâm huyết mang tính học hỏi giao lưu củ
a giới trẻ
Việt Nam nữa đó là tại ngôi trường mà tôi đang theo học và sắp sửa kết thúc khóa
học, các bạn sinh viên có thể tự xây dựng và hóa thân trở thành các diễn viên trong
các vở nhạc kịch Kabuki của chính mình. Chính vì vậy mà khi tiến hành tìm hiểu về

tham khảo rất nhiều về nó nhưng quả thật không chỉ với riêng tôi mà còn với rất
nhiều người,Kabuki, môn nghệ thuật truyền thống nổi tiếng từ hàng thế kỉ nay vẫn
luôn là điều mới m
ẻ. Tại Nhật bản, cuốn sách nói về “đời sống” Kabuki của tác giả
Shoriya Aragoro là một trong những cuốn sách bán chạy nhất. Điều đó cho thấy
Kabuki có một sức sống vĩnh cửu trong cuộc sống của người Nhật nhờ sự trân trọng
và gìn giữ những giá trị truyền thống dân tộc cùng những tư liệu của nhiều người
về nó.

3. MỤC TIÊU VÀ PHẠ
M VI NGHIÊN CỨU

Kabuki là một loại hình văn hóa lâu đời và rất đặc sắc của Nhật Bản. Kabuki
được UNESSCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân
loại vào ngày 24 tháng 11 năm 2005. Hiện nay Kabuki là loại hình kịch truyền
3

thống của Nhật Bản được yêu thích nhất. Chính vì vậy, đối với tôi-một sinh viên
đang theo học chuyên nghành Nhật Bản học, việc quyết định nghiên cứu tìm hiểu
về loại hình văn hóa này là việc để tôi hiểu biết nhiều hơn về Kabuki và muốn giới
thiệu rộng rãi đến nhiều người, nhiều đối tượng một cách hệ thống và hoàn chỉnh.
Kabuki là một đề tài thuộc lĩnh vực văn hóa truyền thống là một lĩnh vực rất
rộng bao gồm nhiều yếu tố mà khả năng người viết thì có hạn. Vì vậy, đề tài sẽ tìm
hiểu về lịch sử phát triển của kabuki, những nét đặc sắc của kabuki và kabuki trong
đời sống xã hội Nhật bản.
Vì thời gian có hạn, những tài liệu mà mình tìm được cũng trong tầm giới
hạn nên không thể tránh khỏi những thiếu sót v
ề kiến thức và cách xây dựng nghiên
cứu một đề tài. Tuy nhiên, tôi sẽ hết sức cố gắng tìm hiểu và hoàn thiện bài nghiên
cứu của mình một cách tốt nhất.

• Chương I: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA
KABUKI
Trong chương này, tôi sẽ nghiên cứu về nguồn gốc và sự phát triển của nghệ
thuậ
t nhạc kịch Kabuki qua các thời kì lịch sử. Qua đó làm nổi bật giá trị lịch sử lâu
đời của Kabuki.
• Chương II: GIÁ TRỊ CỦA KABUKI
Tổng hợp, phân tích các yếu tố đặc sắc trong Kabuki để làm rõ các giá trị
truyền thống cũng như giá trị nghệ thuật của nó là nội dung chính của chương này.
• Chương III: NGHỆ THUẬT SÂN KHẤU KABUKI VÀ KABUKI
TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA NHẬT BẢN
Từ nh
ững giá trị được phân tích ở chương II, chương III sẽ tìm hiểu về tầm
ảnh hưởng của Kabuki trong đời sống văn hóa Nhật Bản.
5

B. PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I:

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA KABUKI
1.1. Nguồn gốc và sự ra đời của Kabuki nữ 1603-1629

6

Đến khoảng năm 1603, Okuni thành lập một gánh hát ở vùng Shijougawara,
sông Kamo. Gánh hát tập hợp những người vô gia cư hay những kẻ có địa vị xã hội
thấp, những kẻ đã bị gắn liền với cái tên Kabukimono. Kabuki xuất phát từ động từ
Kabuku, có nghĩa là: dựa vào hướng nào đó. Mono có nghĩa là người. Okuni dạy
cho những người trong gánh hát cách diễn xuất, múa, hát một cách tự nhiên. Và bà
đặt tên cho đoàn kịch của mình là Kabuki. Những buổi biểu diễn ban đầu mới của
đoàn kịch chỉ có múa và hát mà không có cốt truyện chính, nội dung cụ thể. Vì vậy,
nó bị một số người coi rẻ vì sự lòe loẹt, chối tai, nhưng nói một cách công bằng thì
những buổi biểu diễn ấy nó cũng được tán dương vì tính công phu và cầu kì trong
vẻ đẹp hóa trang và màu sắc sặc sỡ của trang phục, sân khấu. [17- trang 106]
Bản thân Okuni yêu cầu các nam diễn viên trong đoàn kịch đóng giả vai nữ và
ngược lại nhưng chính cô lại đóng vai của cả hai vai nam, nữ. Đặc biệt, cô nổi tiếng
nhất với vai diễn Samurai và nhân vật cha sứ. Trong các lần biểu diễn, có một lần
trong lúc nhập vai cô gái làng chơi, Okuni đã thể hiện một cách thái quá với những
hành động kì qu
ặc khiến cho người xem phải lúng túng vì nó mang tính chất nhạy
cảm. Ngay lập tức, những cô gái làng chơi chuyên nghiệp thời kỳ đó liền bắt chước
những hành động thái quá mà Okuni đã biểu diễn và xem cô như một thần tượng.
Về sau, với sự tài trợ của Ujisato Sanzaburou, người giúp đỡ cho Okuni về
phương diện tài chính cũng như nghệ thuật, những màn trình diễn của đoàn kịch đã
chính thức tr
ở thành một môn kịch có tên gọi là Kabuki. Theo như cách diễn giải
của một số tài liệu thì: Kabuki được đọc theo âm Hán-Việt là ca vũ kỹ. Ca có nghĩa
là hát, vũ có nghĩa là múa, kỹ có nghĩa là kỹ năng. Theo đó đôi khi Kabuki cũng
được dịch là nghệ thuật múa hát. Tuy nhiên nếu xét theo loại chữ phụ thuộc vào

một hình thức sân khấu nào khác. [2-trang 134]
Nói về Okuni, có vài thuyết nói về khoảng thời gian bà qua đời, có thuyết nói
rằng bà mất năm 1613, số khác lại cho rằng con số1658 mới chính xác.
Năm 2003, một tượng đ
ài được dựng lên để tôn vinh và tưởng nhớ đến công
ơn của bà, trên đường Kawabata, ở phía Bắc Shijou Ouhashi, gần bờ sông Kamo ở
Kyoto. [16- trang 275]
8

1.2. Kabuki nam bắt đầu từ năm 1653
1.2.1. Kabuki của các nam diễn viên trẻ
Cái này vừa cấm đã mọc ra cái khác theo nhu cầu hiển nhiên của xã hội.Vì
Kabuki đã quá nổi tiếng và đang rất được yêu thích, nên các nam diễn viên trẻ, gọi
là wakashu (diễn viên nam trẻ), đã tiếp nối vị trí của phụ nữ sau khi họ bị cấm biểu
diễn. Những nam diễn viên trẻ mặc quần áo phụ nữ và đảm nhận vai trò onnagata
(nữ vai trò). Những thanh niên này có thể thay thế vai trò của phụ nữ vì nam tính
trong những người thanh niên chưa trưởng thành này chưa bộc lộ rõ và họ có giọng
cao hơn so với những người đàn ông trưởng thành. Những nam diễn viên trẻ này
đảm nhận những vai diễn có sức hấp dẫn đã trở nên phổ biến và thường được trình
bày trong bối cảnh có tính chất khiêu dâm.

Hình 1.3. Hai diễn viên kabuki Bando Zenji và Sawamura Yodogoro trong tranh
của Sharaku (1974).
[Nguồn hình: ][29]
Song song với quyết định đó, từ năm 1653, quyết định mới ra đời quy định chỉ
có đàn ông trưởng thành thực sự mới được tham gia biểu diễn Kabuki. Kabuki phát
triển thành một loại hình sân khấu phức tạp và cách điệu hóa gọi là Yarou kabuki
(dã lang ca vũ kỹ, đại ý là Kabuki nam). Sự biến đổi về nội dung trong phong cách
10

mới này có ảnh hưởng lớn đến các nhà hát hài kịch, đặt dưới sự quản lý của Mạc
phủ. Vì Kyogen vào thời gian đó cũng rất nổi tiếng.
Từ đó, tất cả các vai trong vở kịch Kabuki tiếp tục do đàn ông đảm trách. Hình
thức các diễn viên nam chuyên đóng các vai nữ, được gọi là onnagata hay oyama
(có nghĩa là nữ hình)bùng nổ. Những gia đình truyền thống của các onnagata bắt
đầu hình thành rất nhiều và trong những năm sau này, phần lớn các onnagata
chuyên nghiệp xuất thân từ những gia đình truyền thống đó.
Diễn viên onnagata có thể làm cho khán giả nghĩ họ chính là phụ nữ thật vì họ
trang điểm rất đậm và lối diễn, giọng nói cũng giống như là các diễn viên nữ đang
đảm nhận vai trò đó vậy. Onnagata xuất hiện nhiều trong các cảnh lãng mạn. Các
cảnh này họ thường diễn xuất chung với một diễn viên khác. Những người đàn ông
biết cách giấu thể hình và kích cỡ thật của mình để trông giống nữ giới như thật. Họ
nói bằng cái giọng the thé, lảnh lót. Có lẽ đó là cái cách mà đàn ông vẫn thường
nghĩ về phụ nữ nên họ đã đưa chúng vào trong lối diễn của mình.
Sau hơn 250 năm từ khi có quy định cấm phụ nữ trình diễn Kabuki, diễn viên
onnagata đóng vai trò chính trong các vở kịch Kabuki và trong các nhà hát Kabuki.
Cho đến trước khi lệnh cấm trên bị dỡ bỏ vào năm 1879, thì vai trò của phụ nữ cũng
đã trở nên không còn quan trọng nữa vì các diễn viên nam đã có được các kĩ năng
diễn những vai loại này. Vì loại Kabuki này thiếu s

nhân một phần là do sự xuất hiện một vài nhà viết kịch Bunraku tài năng vào thời
điểm đó. Đó chính là những soạn giả như Chikamatsu Monzaemon và Ki no Kaion.
Về mặt kết cấu vở tuồng và mô tả tâm lý con người thì Bunraku có sự tiến bộ và
phát triển trước Kabuki một bước. Từ lúc bị thế chỗ, không có gì nổi bật trong sự
phát triển của Kabuki cho đến cuối thế kỷ đó và cho đến khi Kabuki nổi tiếng trở
lại và giành lại vị thế trong lòng khán giả.
Tuy rằng loại hình sân khấu Kabuki coi trọng diễn viên và kỹ thuật trình diễn
được đặt lên hàng đầu nhưng dần dần nội dung, tính chất của các bản tuồng cũng
được thay đổi. Vì vậy cùng với thời gian, nó bộc lộ được tính kịch nghệ trong lối
diễn xuất và cấu trúc vở kịch. Đó là điều đáng chú ý trong lịch sử phát triển Kabuki.
Trước thời Meiji những bản tuồng không được sao chép, truyền bá. Chúng được lưu
giữ theo thời gian bằng các vở kịch diễn đi diễn lại nhiều lần và biến hóa tùy theo
12

phong cách diễn xuất của diễn viên. Do đó bắt đầu từ khi này, trong Kabuki, diễn
viên có vai trò quan trọng hơn cả soạn giả. [13- trang 46]
1.4. Kabuki sau cuộc Minh Trị Duy Tân

Cuộc cải cách văn hóa to lớn của Nhật Bản vào năm 1868 kéo theo sự sụp đổ
của Mạc phủ Tokugawa, xóa bỏ đi tầng lớp Samurai, và sự mở cửa của Nhật Bản
đối với phương Tây đã giúp cho Kabuki một lần nữa hồi sinh. Trong khi nền văn
hóa đất nước đang vật lộn để khắc phục sự thiếu thốn nét đặc trưng và sức thu hút
c
ủa mình, thì các diễn viên Kabuki cố gắng tăng cường tiếng tăm, uy tín, vai trò của
Kabuki trong giới thượng lưu và ra sức hòa trộn, thích ứng giữa phong cách truyền
thống với khẩu vị đương thời. Cuối cùng họ cũng chứng tỏ được thành công về điều
này bằng một suất diễn phục vụ Nhật Hoàng Minh Trị vào ngày 21 tháng 4 năm
1947. [12- trang 95]
Rất nhiều nhà hát Kabuki bị phá hủy do bị ném bom và bị l
ực lượng quân đội

Onnagata nổi tiếng có tên gọi là Bandoo Tamasaburo V đã xuất hiện trong vài vở
kịch không phải là Kabuki và điện ảnh – vai mà họ đảm nhận thường là vai nữ.
Kabuki cũng đươc một loại hình nghệ thuật hiện đại nổi tiếng khác của Nhật Bản
tham khảo đó là Anime.
Mặc dù có không nhiều các nhà hát lớn ở Tokyo, Kyoto, Osaka, nhưng lại có
rất nhiều các nhà hát nhỏ ở Osaka, và trên kh
ắp đất nước. Đoàn kịch Ooshika
Kabuki, ở Ooshika, tỉnh Nagano, là một ví dụ. Một vài đoàn kịch Kabuki đã bắt đầu
giao cho phụ nữ đảm nhận các vai onnagata, và Ichikawa Kabuki-za (đoàn kịch toàn
nữ) được thành lập sau chiến tranh thế giới thứ II.
Sự quan tâm và yêu thích Kabuki đã lan sang cả các nước phương Tây. Các
đoàn kịch Kabuki thường sang Châu Âu và Châu Mỹ lưu diễn. Cũng có một vài vở
kịch của phương Tây đã được soạn sang cho vi
ệc biểu diễn Kabuki, chẳng hạn như
các vở kịch của Shakespeare.
Ngược lại, các nhà viết kịch và tiểu thuyết gia phương Tây cũng đã thử sức
sáng tạo nghệ thuật với đề tài Kabuki, ví dụ như vở Hiroshima Bugi (2004) của
Gerald Vizenor. Nhà văn Yukio Mishima là một người có công trong việc tiên
phong và phổ biến phong cách biểu diễn Kabuki theo lối hiện đại, và làm hồi sinh
những loại hình nghệ thuật truyền thống khác, như
Noh, cho phù hợp và tồn tại với
phong cách hiện đại.
14

Ở Australia, đoàn kịch Za Kabuki của Đại học Quốc gia Australia đã bắt đầu
biểu diễn kịch từ năm 1976, đây là một đoàn biểu diễn kịch Kabuki có sự tồn tại và
phát triển lâu nhất ở bên ngoài nước Nhật. [8- trang 256]
Kabuki đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể và truyền
khẩu của nhân loại vào ngày 24 tháng 01 năm 2005. [6- trang 301]
1.6. Các soạn giả và các vở kịch nổi tiếng.

Người đóng vai trò then chốt trong sự phục hưng của Kabuki là soạn giả
Namiki Shozo (1730-1773). Ông chịu ảnh hưởng của phong cách sân khấu Jooruri-
tiền Bunraku vì là ông học trò của soạn giả Jooruri nổi tiếng Namiki Sosuke (1695-
1751). Ông đã biết đem cách kết cấu tình tiết phức tạp của tuồng Jooruri vào trong
Kyogen của Kabuki, cũng như đã biết thay đổi cách trang trí phông cảnh sân khấu,
sáng chế ra sân khấu quay vòng tròn, dùng những dụng cụ đồ sộ, công phu hơn để
cảnh quay sân khấu rộng lớn thêm lên và do đó, đáp ứng được nhu cầu của ngày
càng nhiều khán giả. Namiki Sosuke là người soạn ra tác phẩm “Con Thuyền Ba
Mươi Thạch lên đường” “Sanjikkoku Yofune no Hajimari” (Tam Thập Thạch Đăng
Thủy), truyện kể về loại thuyền buôn “ba mươi thạch” (trọng tải trên 5 tấn vì 1
“thạch” hay “hộc” tương đương 180 lít) chở hành khách và hàng hóa trên sông
Yodogawa ở vùng Osaka.
1.6.3. Soạn giả Namiki Gohei (1747-1804)
Môn đệ của Namiki Shozo là Namiki Gohei (1747-1804). Namiki Gohei có
sở trường về Sewakyogen tức là loại Kabuki nói về nhân tình thế thái đương thời,
và ông đã thừa kế sự nghiệp của thầy. Gohei trở thành soạn giả số một của vùng
kinh kì nhưng đến năm Kansei (Khoan Chính) thứ 6 (1794) ông lại bỏ sang miền
Đông, mang theo cả tác phong tả thực của Kabuki vùng Kyoto-Osaka sang Edo.
Cùng lúc, soạn giả đồng thời đại với Namiki Gohei bấy giờ là Sakurada Jisuke
(1734-1806) cũng nổi tiếng với những vở tuồng mang tinh thần giải trí sắc thái nhẹ
nhàng tươi mát của phong cách nghệ thuật Edo. Ông là người đã kết hợp, pha trộn
các loại tuồng Kabuki mà trước đây khi mỗi vở ra đời liền được sắp xếp vào một
“nhóm tuồng” cố định có tên gọi riêng chứ không có sự hòa hợp(gọi là “sekai” và
vào thời Bunsei (1818-1803) người ta đã tính ra có tới trên 120 “sekai”). Cách pha
trộn, hài hòa phong cách của Sakurada Jisuke I là gọi là “maizame”.
Namiki Gohei có vở “Cây Ngô Đồng Cửa Chùa” (Kinmon Gosan no Kiri) do
Ishikawa Goen chủ diễn, Sakurada Jisue I có “Quyển Sổ Khuyến Giaó” (Gohiiki
Kanjincho), trong đó có đoạn “Sư không biết đọc kinh” thuật lại bước đường cùng
16


Hình 1.5: Soạn giả Kawatake Mokuami (1816-1893)
[Nguồn hình: ][18]

Sau khi Nanboku mất, không có soạn giả nào có đủ tầm cỡ và khả năng để
nối tiếp ông, Kabuki thời Edo vì thế mà im ắng trong một thời gian khá lâu. Mãi
đến năm Ansei (1854-1860), cuối thời Mạc phủ chuẩn bị bước qua thời Duy Tân
mới có Kawatake Mokuami, một nhân lài lỗi lạc về Kabuki xuất hiện. Lúc này, bầu
trời Kabuki thời Edo như được bắn một phát pháo bông cuối cùng nhưng chói sáng.
[7- trang 122]
Kawatake Mokuami tên thật là Yoshimura Yoshisaburo, sinh ra và lớn lên ở
vùng Edo, là đệ tử của Tsuruya Nanboku, tập danh đời thứ V, soạn giả này chuyên
viết về loại tuồng xã hội (Kisewamono). Ông hợp tác với kép Ichikawa Kodanji IV,
và viết cho Kodanji diễn loại tuồng mà ông tỏ ra xuất sắc hơn cả mang tên
Shiranami-mono (Shiranami mono là loại tuồng nói về bọn đạo tặc, trộm cướp).
Những tác phẩm xuất sắc để đời của ông có: Sannin Kichisa Kuruwa no Hatsugai
(Ba người cùng tên Kichisa xuống xóm ngày đầu năm) được viết năm 1860,
18


CHƯƠNG II: GIÁ TRỊ CỦA KABUKI.
2.1. Văn hóa Edo trong các vở kịch Kabuki

Vào thời kỳ Edo, Kabuki đạt tới đỉnh cao cùng với sự xuất hiện của những
diễn viên nổi tiếng như Sakata Tojuro ở vùng Kamigata và Ichikawa Danjuro ở
Edo. Nhờ có soạn giả Chikamatsu Monzaemon mà Kabuki thời kỳ này bắt đầu phát
triển như thứ kịch của quần chúng, được nhiều người ngày càng biết đến. Trong giai
đoạn chuyển tiếp trung tâm văn hóa Nhật Bản từ vùng Kamigata sang Edo, Namiki
Gohei (1747-1808) cùng với Sakurada Jitsuke (1734-1806) đã đưa tư t
ưởng chủ
nghĩa hiện thực xã hội theo truyền thống kết hợp với hình thứcSewamono (kịch Gia
đình) vào trong các vở kịch. Các vở kịch của họ đặt nền móng phát triển cho
Kisewamono hiện thực (kịch sinh thế thoại vật), tức là Kabuki kyogen một tả một
cách sinh động nhất tình hình hiện thực xã hội, con người, thời thế lúc bấy giờ. Việc
dựng tuồng cũng chủ yế
u dựa vào thực tế xã hội.
Hình 2.1: Vua Tokugawa Yoshinobu thời đại Edo
[Nguồn hình:http:// teenxotaku.forum-viet.net][27]

coi trọng những niềm hoan lạc, hưởng thụ đời sống của dân thành thị. Các vở kịch
Kabuki bên cạnh sự phổ biế
n tính chính thống Khổng giáo mới, nội dung của nó
còn đề cập nhiều đến thị hiếu hoang phí của xã hội Edo, những cảm giác nhất thời
của con người trong các khu ăn chơi Edo. Các vở kịch phản ánh, châm biếm đời
sống hiện tại bằng việc mô tả cảnh sinh hoạt, lối sống buông thả của những kẻ có
tiền và kéo theo cả những thoái hóa trong nhân cách của những kẻ trộm cắp, những

Trích đoạn Nhân vật Trang phục
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status