Luận văn đông phương học khổng tử nhà giáo dục vĩ đại - Pdf 22


TRƯỜNG ĐẠI HỌC LẠC HỒNG
KHOA ĐÔNG PHƯƠNG HỌC
[\ BÁO CÁO
NGHIÊN CỨU KHOA HỌCĐỀ TÀI
:

KHỔNG TỬ - NHÀ GIÁO DỤC VĨ ĐẠI Sinh viên thực hiện: CHÍ ĐAN HẠ
Giáo viên hướng dẫn: Th
S. Nguyễn Lê Tuấn BIÊN HÒA, THÁNG 12/2010

LỜI CẢM ƠN
FXWG

2. Lịch sử nghiên cứu đề tài 1
3. Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu 2
4. Phương pháp nghiên cứu 2
5. Những đóng góp của đề tài 2
6. Cấu trúc của đề tài 3
B. NỘI DUNG CHÍNH 4
CHƯƠNG I: CUỘC ĐỜI KHỔNG TỬ 4
1.1 Thân thế 4
1.1.1 Xuất thân 4
1.1.2 Những nét chính trong cuộc đời Khổng Tử 5
1.2 Sự nghiệp 7
1.2.1 Sự
nghiệp chính trị 7
1.2.2 Sự nghiệp giáo dục 9
1.3 Học thuật 11
CHƯƠNG II: NỘI DUNG TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC CỦA KHỔNG TỬ 13
2.1 Quan điểm về giáo dục của Khổng Tử 13
2.1.1 Giáo dục không phân biệt giai cấp 13
2.1.2 Học không biết chán, dạy không biết mệt 14
2.2 Mục đích giáo dục của Khổng Tử 15
2.2.1 Thành nhân 16
2.2.2 Làm quan giúp nước 17
2.3 Cách nhìn về nghề dạy học của Khổng T
ử 18
2.3.1 Lấy mình làm gương 19
2.3.2 Yêu mến học trò 20
2.4 Phương pháp dạy học của Khổng Tử 23

2.4.1 Dạy theo đối tượng 23
2.4.2 Cách dạy gợi mở 25

nghiên cứu về tư tưởng giáo dụ
c của Khổng Tử này để tìm ra phần nào đáp án.
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài
Có rất nhiều đề tài nghiên cứu xung quanh Khổng Tử. Đa số các công trình
nghiên cứu về lịch sử văn hóa Trung Quốc đều dành một phần nhất định để nói về
ông, như là trong các công trình “Lịch sử văn minh Trung Hoa” do Phùng Quốc
Siêu chủ biên, Nxb Văn hóa thông tin, 2004; “Đạo nho và văn hóa phương Đông”
do Hà Thúc Minh chủ biên, Nxb Giáo dục, 2001.
Trong cuốn “Vạn thế sư biểu” của Lương Xuân Hùng, 2003, Nxb Trẻ, tác giả
đã đi tìm hi
ểu về những lời dạy của Đức Khổng Tử và một số môn đệ của ông về
những phẩm hạnh mà con người cần phải tu dưỡng như: nhân, lễ, nghĩa, trí, tín,
hiếu… và một số nội dung liên quan đến việc tu thân tề gia trị quốc bình thiên hạ.
- 2 -
Ngoài ra còn có rất nhiều công trình khác như “Đạo nho” của Trần Kim
Trọng, Nxb Văn Học, 2003; Cuốn “Sự tái sinh của truyền thống” của Thẩm Thanh
Tùng, Nxb Phương Đông, 2005; “Khổng Tử” của Nguyễn Hiến Lê, Nxb Văn hóa
Thông tin, 2006… Những cuốn sách này đã đi sâu nghiên cứu về học thuyết nho
giáo của Khổng Tử cũng như các môn đệ của ông.
Các đề tài xoay quanh Khổng Tử có rất nhiều nhưng đ
a số tác giả thường
quan tâm đến những học thuyết xoay quanh nho gia, cách đối nhân xử thế… Những
đề tài riêng về mảng tư tưởng giáo dục thì ít được nghiên cứu sâu. Vì vậy bằng vốn
hiểu biết nhỏ bé của mình, em muốn tìm hiểu sâu thêm về nội dung tư tưởng giáo
dục của ông.
3. Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
Khổng Tử là một đề tài được nhiều người nghiên cứu, các học thuyết triết lý
của ông sâu rộng. Bằng sự hiểu biết còn nhiều hạn chế của bản thân, tôi chỉ nghiên
cứu một phần nhỏ trong tư tưởng của ông, đó là nghiên cứu về vấn đề tư tưởng và
sự nghiệp giáo dục của ông cũng như tầm ảnh hưởng của nó lúc đương thờ

1.1.1 Xuất thân
Có rất nhiều tư liệu nghiên cứu về tiểu sử của Khổng Tử. Sau đây là vài nét
chính về cuộc đời và thân thế của ông.
Khổng Tử tên là Khâu, tự là Trọng Ni, sinh ngày 27 tháng 8 âm lịch (tức ngày
28 tháng 9 năm 551 tr.CN), đời vua Châu Linh Vương năm thứ 21 nhà Châu, tương
ứng với đời vua Lỗ Tương Công năm thứ 22, tại làng Xương Bình, huyện Khúc Phụ,
nước Lỗ, bây giờ là tỉnh Sơn Đông nước Trung Hoa. Ông mất ngày 11 tháng 2 âm
lịch (tức ngày 11 tháng 4 năm 479 tr.CN).
Ông được gọi là Khổng Tử là vì ông họ Khổng, còn “Tử” là cách gọi tôn kính
người con trai đã trưởng thành thời cổ đại. Thời kỳ Xuân Thu Chiến Quốc con trai
trưởng thành, có một vị trí xã hội nhất định đều được gọi là “Tử”, hơn nữa họ cũng
hi vọng người khác gọi mình là “Tử”, vì “Tử” còn là một loại tước vị dùng để chỉ
“Tử” trong “công hầ
u bá tử nam”. Nhưng người thực sự được người khác gọi là
“Tử” thường chỉ có hai loại: một là những người có uy tín tương đối cao trong xã
hội như “giáo viên”; hai là những người dòng dõi quý tộc có phẩm chất đạo đức tốt.
Khổng Tử và Lão Tử thuộc loại người thứ nhất. Hơn nữa Khổng Tử còn là một nhà
tư tưởng, nhà chính trị và là một nhà giáo dục vĩ đại trong lịch s
ử, là người đã sáng
lập ra học phái Nho gia.
Theo truyền thuyết, tổ tiên của Khổng Tử vốn là hậu duệ Ân Thương. Sau khi
nhà Chu diệt nhà Ân, Chu Thành Vương phong cho người anh của Thương Trụ
vương là Vi Tử Khởi đất Tống, kiến đô ở Thương Khâu (thuộc Thương Khâu, tỉnh
Hà Nam ngày nay). Sau khi Vi Tử Khởi chết, người em trai là Vi Trọng kế vị. Vi
Trọng chính là tổ tiên của Khổng Tử. Cháu đời thứ tư
của Vi Trọng là Phất Phụ Hà,
cũng chính là ông tổ thứ mười một của Khổng Tử, lẽ ra kế vị làm Tống công thì lại
- 5 -
nhường ngôi cho người em trai. Từ đó về sau, hậu duệ của Phất Phụ Hà không kế
thừa Vương vị nữa mà được phong làm Khanh. Từ đời thứ năm sau Phất Phụ Hà

các nghi lễ cúng tế của người lớn mà mình là người chủ tọa.
Đến khi được vào trường học ông chuyên cần hơn mọi chúng bạn. Năm mười
một tuổi ông từng học lễ với Lỗ Thái sư. Khác với chúng bạn lúc niên thiếu ham
chơi, Khổng Tử là một người trầm tĩnh, cần cù, say mê học tập, lấy học làm niềm
vui. Trong cuốn Luận ngữ - Vi chính có câu:“子曰:吾十有五而志於学”. Âm đọc,
Tử viết: ngô thập hữu ngũ nhi chí vu học. Nghĩa là lúc mười lăm tuổi ông đã tu chí
họ
c tập rồi.
Năm Khổng Tử mười bảy tuổi thì mẹ ông mất. Ông an táng mẹ chung phần
mộ với cha. Năm mười chín tuổi ông cưới Kỳ Quan làm vợ. Đến năm hai mươi tuổi
vợ ông sinh được đứa con trai đầu lòng. Tương truyền đúng lúc ấy vua Lỗ Chiêu
Công tặng cho Khổng Tử một con cá “lý ngư” thế là ông đặt tên con là Khổng Lý,
tự là Bá Ngư (tức con cá đứng đầu trong các loài cá). Về sau, Bá Ngư
chết lúc 50
tuổi, chết trước Đức Khổng Tử. Con của Bá Ngư tên là Khổng Cấp, tự là Tử Tư,
sau theo học với Tăng Sâm, rồi làm ra sách Trung Dung. Sau này, Khổng Tử còn có
đứa con gái và được gả cho môn đệ của ông là Công Dã Tràng. Trong cuốn Luận
ngữ - Công Dã Tràng Khổng Tử có nói:“可妻也。虽在缧绁之中,非其罪也” .
Âm đọc: Khả thế dã. Tuy lại luy tiết chi trung, phi kì tội dã. (Dịch nghĩa: có thể gả
con gái cho trò ấy. Tuy trò ấy bị tù nhưng đ
ó không phải là tội của nó).
Khoảng năm Khổng Tử hai mươi mốt tuổi thì ông làm quan chức “ủy lại” (một
chức quan nhỏ trông coi việc sổ sách). Sau đó sang làm “thừa điền” (chức quan nhỏ
trông coi gia súc). Đến khoảng ba mươi tuổi thì ông bắt đầu mở trường tư, thu nhận
môn sinh. Năm ông năm mươi mốt tuổi lại làm chức Đại tư khấu ở nước lỗ. Năm
năm mươi lăm tuổi bắt đầu chu du sang các nước như Vệ, Trần, Tống, Trịnh
Những năm về già ông về lại nước Lỗ, làm quân sư cho vua, tiếp tục giảng dạy
và chỉnh lý Kinh Thi. Năm 483 trước Công Nguyên, người con trai duy nhất của
ông lâm bệnh rồi qua đời. Năm 481 trước Công Nguyên, người học trò yêu của ông
- 7 -

lòng vua Tề.
Năm 517 trước công nguyên, Khổng Tử 35 tuổi, nước Lỗ xảy ra nội loạn.
Khổng Tử
rời nước Lỗ đến nước Tề, ở đây ông được Tề Cảnh Công trọng dụng và
hậu đãi, thậm chí vua Tề còn từng chuẩn bị tặng ruộng đất cho Khổng Tử nhưng bị
Án Anh can ngăn. Ở nước Tề được vài năm thì Khổng Tử bị những triều thần ở
nước Tề đoan tính hãm hại, ông biết được chuyện này liền cầ
u cứu Tề Cảnh Công.
Tề Cảnh Công muốn trọng dụng Khổng Tử nhưng do triều thần phản đối nên lại
thôi, ông nói với Khổng Tử rằng:“吾老矣,弗能用也。”. Âm đọc: Ngô lão hĩ bất
năng dụng dã. Dịch nghĩa là: Ta già rồi không dùng được Khổng Tử nữa.(Luận ngữ,
Vi tử, XVIII, 3). Thế là Khổng Tử đành bỏ về nước Lỗ. Đương thời nước Lỗ cũng
đứng trước sự rối loạn về chính trị, quyền lực thực tế đều nằm trong tay bọn triều
thần. Do đó mặc dù Khổng Tử có hai lần cơ hội được tham chính nhưng ông đều từ
bỏ mà chuyên tâm vào việc chỉnh lý nghiên cứu Kinh Thi, đồng thời mở trường dạy
học thu nhận học trò, nỗ lực phát triển sự nghiệp giáo dục.

m Khổng Tử năm mươi mốt tuổi, ông được phong làm Trung Đô ấp tể,
(Trung Đô là ấp ở Sơn Đông ngày nay) nắm giữ công việc hành chính của một vùng
đất ở nước Lỗ. Một năm sau ông được thăng chức làm Tiểu Tư Không, không lâu
sau đó lại được làm Đại Tư Khấu. Khổng Tử chịu tránh nhiệm trị an và giữ gìn luật
pháp nghiêm minh. Trong thời Khổng Tử nhậm quyề
n, các vụ tội phạm giảm dáng
kể, trị an xã hội được cải thiện. Nước Tề sợ Khổng Tử tham chính ở nước lâu sẽ
làm nước Lỗ cường thịnh bèn tìm cách phá hoại. Nước Tề tuyển chọn 80 cô gái đẹp,
120 cỗ xe ngựa tốt dâng tặng vua nước Lỗ, quả nhiên vua Lỗ chìm trong tửu sắc,
nhiều ngày liền không thượng triều vấn chính khiến Khổng Tử vô cùng thất vọng.
Năm 497 trước công nguyên, Khổng Tử rời khỏi nước Lỗ, bắt đầu chuyến chu du
liệt quốc, ông đi qua nhiều nước như Vệ, Tào, Tống, Trần, Sái, Sở nhưng vẫn
- 9 -

- 10 -
cao hơn. Học trò đến với ông trên tinh thần tự nguyện ngày càng cao. Uy tín của
ông lớn lên hàng ngày hàng giờ trong mắt của học trò cũng như trong thiên hạ.
Giai đoạn từ năm ông ba mươi bảy tuổi đến năm ông năm mươi lăm tuổi, được
xem là giai đoạn phát triển nhất trong sự nghiệp giáo dục của ông. Vào khoảng thời
gian này tuy cũng có tham gia vào việc chính sự song ông vẫn tiếp tục thu nhận
môn sinh từ
khắp nơi. Ngoài những môn sinh ở nước Lỗ, còn có những học trò từ
nước Tần, Tề, Sở, Vệ, Trần, Ngô… cùng nhiều quốc gia khác đều đến cầu học.
Vào khoảng năm ông năm mươi lăm tuổi, ông bắt đầu cuộc hành trình chu du
liệt quốc của mình. Trong mười bốn năm phiêu bạt, ông vẫn không ngừng hoạt
động giáo dục. Ông vẫn kiên trì truyền thụ tư tưởng của mình cho các học trò của
mình qua những cuộc tranh luận, kể chuyện, bàn luận về âm nhạc và hát xướng, qua
đó giúp họ mở rộng tầm nhìn cũng như mài giũa ý chí của họ. Đây được xem là một
hoạt động giáo dục rất hay trong giáo dục.
Những năm về già ông về lại nước Lỗ làm quân sư, tiếp tục giảng dạy và chỉnh
lý Kinh Thi. Có thể nói sự nghiệp giáo dục gắn liền với c
ả cuộc đời ông. Trong thực
tiễn giáo dục trường kỳ đó, Khổng Tử đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm phong
phú, xây dựng được một hệ thống tư tưởng cũng như sáng tạo ra những phương
pháp giáo dục khoa học, giúp xã hội đào tạo ra một số lượng lớn các học trò có tài
đức vẹn toàn. Môn sinh của ông tương truyền có đến hơn ba nghìn, trong đó có bảy
mươi hai ngườ
i đã lưu danh sử sách hay còn gọi họ là thất thập nhị hiền. Có thể nói
thành tựu lớn nhất trong sự nghiệp giáo dục của ông chính là tạo ra được một lớp
môn sinh tài giỏi và hữu dụng như vậy.
Có thể nói trong lịch sử về giáo dục của Trung Quốc, vẫn chưa có một người
vĩ đại nào có thể so sánh với Khổng Tử. Ông được người đời sau tôn xưng với
nhiều danh hiệu như là “đại thành chí thánh tiên sư”, “vạn thế sư biểu” và nhiều
danh xưng khác. Khổng miếu thờ Khổng Tử không những được xây dựng ở khắp

nghĩa khôn ngoan. Khổng Tử nói: “Biết thì nói biết, không biết thì nói không biết,
đó là biết (Trí). Ông tin rằng cần trăn trở xem mình đã hiểu người khác chưa chứ
không cần lo xem người khác đã hiểu mình chưa;
Tín có nghĩa là sự tin tưởng lẫn nhau giữa người với người. Khổng Tử nhấn
mạnh đức tính này. Ông không tin một người bất tín có thể giữ được địa vị
trong xã
- 12 -
hội. Còn một người trung thực biết giữ lời bao giờ cũng được lòng mọi người cho
dù ở bất cứ đâu.
Trong năm đức tính này, chữ Nhân được Khổng Tử coi là nguyên lý đạo đức
cơ bản quy định bản tính con người và quan hệ giữa người với người từ gia đình
cho đến xã hội. Nhưng để đạt được “đức Nhân” không phải là chuyện dễ. Người đạt
được “đức Nhân” ở bậc cao nhất là thánh nhân, điều này ở trên đời khó có thể thấy
được; người đạt được “đức Nhân” ở bậc thứ là quân tử, điều này thì có thể thấy
được. Nhưng nói chung không chỉ “đức Nhân” là quan trọng mà cả năm đức tính
đều cần phải tu dưỡng hoàn thiện, thiếu một trong năm đức tính này không thể trở
thành người quân tử.
Ngoài việc thành công trong việc xây dựng hình tượng ngườ
i quân tử, Khổng
Tử còn rất thành công trong việc sáng tạo ra một hệ thống tư tưởng giáo dục khoa
học. Đó là những quan điểm về người dạy và người học, những phương pháp dạy
học đa dạng và linh hoạt mang tính khoa học cao…Những tư tưởng ấy sẽ được nói
rõ hơn trong chương tiếp theo của khóa luận này.
- 13 -
Chương II: NỘI DUNG TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC
CỦA KHỔNG TỬ
2.1 Quan điểm về giáo dục của Khổng Tử
2.1.1 Giáo dục không phân biệt giai cấp
Nói về tư tưởng giáo dục của Khổng Tử ta không thể nào không nhắc đến chủ
trương“有教无类”. Âm đọc: hữu giáo vô loại, tức là giáo dục không phân biệt

là một trong những câu danh ngôn của Khổng Tử. Nó có nghĩa là cần mẫn học tập
mà không chán, toàn tâm dạy dỗ người mà không mệt. Thật vậy, cả cuộc đời Khổng
Tử đã theo đuổi sự nghiệp dạy học trên tinh thần đó. Ông luôn yêu cầu bản thân
mình phải không ngừng cố gắng học hỏi, luôn cần m
ẫn chỉ dạy cho học trò. Chính
vì lẽ đó thông qua việc trải nghiệm trong thực tế lâu dài, ông đã tích lũy được kinh
nghiệm dạy học phong phú, sáng tạo những phương pháp giáo dục, lý luận giáo dục
một cách khoa học để rồi đào tạo ra được hàng loạt các học trò có đức có tài giúp
ích cho xã hội.
Theo Khổng Tử “Ta không phải sinh ra đã là người có tri thức mà là người
yêu thích điển tịch cổ, siêng năng học h
ỏi tìm tòi”. Bởi thế, là một người thầy giáo,
ông luôn nổ lực học tập không ngừng để bổ sung thêm kiến thức mới để có thể
truyền dạy học trò của mình những kiến thức tốt nhất. Ông từng nói: “Cho ta sống
thêm vài năm nữa, hoặc năm năm hoặc mười năm, để ta theo đuổi học vấn” [6, 97].
Nhưng làm thế nào để “Học không biết chán”? Điều mấu chốt là ở chỗ ta phải yêu
thích nó, để rồi vui với nó. Ông từng nói: “知之者不如好之者,好之者不如乐者”.
Âm đọc: tri chi giả bất như hiếu chi giả, hiếu chi giả bất như lạc chi giả [6, 89].
Dịch nghĩa là: Đối với bất cứ việc gì, người hiểu nó không bằng người thích nó,
người thích nó không bằng người vui với nó. Chỉ có người yêu thích việc học tập thì
mới có thể
tìm thấy niềm vui để rồi thực sự hòa nhập vào nó. Như Khổng Tử khi
đọc sách thì quên ăn, khi ở nước Tề nghe nhạc Thiều ngay cả mùi vị thịt cũng
không biết. Bởi thế Khổng Tử luôn khen những học trò có tinh thần lạc quan hiếu
học. Như khi thấy Nhan Hồi tuy sống trong cảnh nghèo khó nhưng vẫn lạc quan,
ông liền khen: “Một giỏ cơm, một bầu nước, sống trong ngõ hẹp, người khác sẽ ưu
- 15 -
sầu không sống nổi trong cảnh đó. Nhan Hồi lại không thay đổi niềm vui của mình,
hiền lương thay anh Hồi” [6, 87].
Ngoài ra Khổng Tử còn nhận định rằng con đường học vấn là con đường đầy

quan).
2.2.1 Thành nhân
Mục đích giáo dục của Khổng Tử là giúp mọi người hoàn thiện nhân cách hay
nói cách khác là ông dạy cách làm người. Trong quá trình Khổng Tử dạy học, ông
không dạy những nghề như làm ruộng, làm vườn, nên khi Phàn Trì đến xin học
những nghề ấy ông đều từ chối (Luận Ngữ, Tử Lộ, XIII, 4). Ông cũng không dạy
cách cầm quân đánh giặc. Vua Linh công nước Vệ hỏi Khổng Tử về chiến trận.
Khổng Tử
đáp: “Về việc tế tự, lễ khí thì tôi đã từng nghe, còn về quân lữ thì tôi
chưa học” [6, 179]. Mà cái ông truyền dạy ở đây là luân lý, đạo lý, triết lý, chính trị.
Khổng Tử chủ trương dạy mọi người biết cách cư xử sao cho vẹn hiếu, trọn
trung, vẹn tình, trọn nghĩa. Khổng Tử dạy học trò của mình rằng khi ở trong nhà thì
hiếu thảo với cha mẹ, ra ngoài thì phải kính nhường bậc huynh trưởng, thận trọng
trong lời nói mà thành tín, yêu khắp mọi người mà gần gũi với người nhân đức, làm
được như vậy rồi mà còn dư sức mới học văn.
Khổng Tử luôn chú trọng việc học tập làm người, ông nói: “Người không có
đức nhân thì lễ mà làm gì? Người không có đức nhân thì nhạc mà làm gì?” [6, 57].
Vậy rốt cuộc đức Nhân là gì? Phàn Trì hỏi về đức Nhân, Khổng Tử đáp: “Ái nhân”
tứ
c là yêu người (Luận Ngữ, Nhan Uyên, XII, 22). Trọng Cung hỏi về đức Nhân,
Khổng Tử đáp: “Cái gì mình không muốn thì đừng làm cho người.” (Luận Ngữ,
Nhan Uyên, XII, 2). Rồi khi Tử Cống hỏi, ông trả lời: “ Phàm là người nhân, mình
muốn tự lập thì cũng thành lập cho người; mình muốn thành công thì cũng giúp cho
người thành công. Mình muốn cái gì thì giúp người được cái đó, đó là phương pháp
của người nhân” [6, 92]. Nhân là yêu người- yêu người là giúp người, nếu không
giúp người thì không còn được g
ọi là nhân nữa.
Khổng Tử dạy rằng đức nhân là nền tảng của con người, vì nó bao trùm tất cả
các đức khác (cung, khoan, tín, mẫn, huệ …) và là gốc của lễ, nhạc. Khi Tử Trương
hỏi về đức Nhân, Khổng Tử đáp: “Cung, khoan, tín, mẫn, huệ. Cung kính thì không

đọc: sĩ nhi ưu tắc học, học nhi ưu tắc sĩ [6, 220], nghĩa là: người làm quan nếu là
quan giỏi thì luôn học. Học mà giỏi thì ra làm quan. Quan điểm này thực chất cũng
thể hiện rõ được mối liên h
ệ giữa học và hành, muốn làm quan tốt trước hết phải
- 18 -
học, và mục đích của học chính là để làm quan tốt. Nó cũng thể hiện được mục đích
của việc Khổng Tử mở trường tư dạy học, đó chính là thông qua giáo dục để bồi
dưỡng người hiền tài để họ có thể trực tiếp bước lên vũ đài chính trị, giúp ích cho
xã hội. Bởi thế khi dạy học ông không dạy môn toán nhưng lại chú trọng đến môn
ăn nói, tức Kinh Thi, vì môn này vào thời nào cũng cần cho chính trị, cho nên ông
mới nói “ Bất học Thi vô dĩ ngôn”. Và dĩ nhiên ông không dạy các nghề như làm
ruộng, làm vườn Khi Phàn Trì xin học làm ruộng, Khổng Tử bảo ông không bằng
lão nông. Phàn Trì lại xin học làm vườn ông cũng từ chối nói mình không bằng ông
lão làm vườn. Khi Phàn Trì đã bước ra về rồi, ông lại chê Phàn Trì thấp kém.
Khổng Tử bảo rằng người trên mà chuộng lễ thì dân không dám không cung kính;
người trên chuộng nghĩa thì dân không dám không ph
ục; người trên chuộng thành
kính thì người dân không dám không trung thực.
Một điều khác chứng minh thêm luận điểm trên nữa là khi Quý Khang hỏi Tử
Cống, Trọng Du có thể tham gia chính sự được chăng thì ông liền trả lời là có thể.
(Luận Ngữ, Ung Dã, VI, 8). Trong thực tế, trong số hàng ngàn để tử của ông thì số
người tham gia chính sự không phải là ít. Như vậy chúng ta có thể thấy rằng việc
ông đào tạo nhân tài lúc bấy giờ hoàn toàn phù hợ
p với nhu cầu xã hội lúc bấy giờ.
Vậy tại sao Khổng Tử lại không trực tiếp bước lên vũ đài chính trị mà lại gián
tiếp đào tạo nhân tài để thực hiện mục đích đó. Trong thực tế lúc bấy giờ Khổng Tử
đã bôn ba mười bốn năm đi khắp các nước chư hầu nhưng không tìm được vũ đài để
có thể thi hành nguyện vọng chính trị của mình. Do vậy ông chỉ đành dồn hết tâm
sức để mở trường tư dạy học với hi vọng rằng những người hiền tài trong hàng đệ
tử sẽ có thể giúp ông thi hành được chủ trương của mình, thực hiện đại đồng thế

lời
được. Khổng Tử mới nói “Sao trò không trả lời thế này, ông ấy là người lúc say sưa
đọc sách thì quên ăn, lúc vui thì quên cả lo âu, mà không biết tuổi già đã đến rồi”
[6, 98]. Khổng Tử không chỉ là một người học quên cả ăn mà ở ông còn có tinh thần
không ngừng học hỏi “Cho ta sống thêm vài năm nữa, hoặc năm năm, hoặc mười
năm, để ta theo đuổi học vấn, thế thì ta s
ẽ không mắc sai lầm gì lớn” [6,97]. Tinh
thần học tập này giống như là tinh thần học tập của Lênin vậy “Học, học nữa, học
mãi”. Đây quả là điều đáng cho chúng ta phải học hỏi và noi theo.
- 20 -
Khổng Tử luôn say mê với học tập chẳng lẽ chỉ để làm gương cho học trò thôi
sao? Không. Để có kiến thức truyền thụ cho học trò bản thân là người thầy giáo ông
luôn phải“温故而知新可以为师矣”. Âm đọc: ôn cố nhi tri tân, khả dĩ vi sư hĩ.
Tức là cần phải luôn thường xuyên ôn tập những kiến thức cũ, phát hiện, tìm hiểu
thêm và lĩnh hội những kiến thức mới, có như vậy mới có thể luôn nắm được kiến
thức để truyền dạy cho học trò, có như vậy mới có thể làm đúng chức trách của một
người thầy. Trong Luận Ngữ, Thái Bá Khổng Tử lại nói: “学如不及,犹恐失之”.
Âm đọc: học như bất cập, do khủng thất chi. Dịch nghĩa là học tập cần có tâm lý sợ
không theo kịp, lại luôn luôn phải sợ mai một những điều mình đã h
ọc. Điều này
một lần nữa khẳng định sự say mê học tập của Khổng Tử. Đối với Khổng Tử là một
người thầy giáo không chỉ truyền dạy kiến thức đã biết cho học trò là được, mà bản
thân người thầy cũng phải không ngừng nắm vững lại kiến thức đã có, không ngừng
suy ngẫm và học hỏi thêm kiến thức mới, không ngừng tu dưỡng bản thân để có thể
làm sao truyền đạt được những kiến thức tốt nhất cho học trò, làm một tấm gương
tốt cho học trò noi theo. Đây cũng là một trong những lý do mà học trò phải nể phục
ông từ đó luôn muốn học ở ông. Trong Luận Ngữ, Tử Hãn, học trò Nhan Huyên bùi
ngùi khen thầy mình: “Học vấn và nhân đức của thầy càng ngẩng lên càng trông
thấy cao, càng khoan vào càng thấy rắn; nhìn có vẻ nh
ư trước mặt, thoắt bỗng cảm

anh ấy trị lí chính trị có khó gì?.”
Quý Khang tử lại hỏi: “Có thể để cho Đoan Mộc Tứ trị lí chính sự được
chăng?”.
Khổng Tử đáp: “Tứ thông hiểu sự lí, để anh ấy trị lí chính trị có khó đâu?”.
Hỏi: “Có thể để Nhiễm Cầu trị lí chính sự đượ
c chăng?”.
Trả lời: “Nhiễm Cầu có tài cán, để anh ấy trị lí chính sự có gì khó đâu?” [6,
85] .
Trọng Do quyết đoán, Đoan Mộc Tứ hiểu lí sự, Nhiễm Cầu thì có tài cán, có
quan tâm, để ý và hiểu học trò thì mới có thể đưa ra những lời nhận xét rõ ràng như
vậy.
Không chỉ dừng lại ở việc hiểu học trò của mình mà Khổng Tử còn luôn quan
tâm đến cả cuộc sống của từng học trò. Trong Luận Ngữ, Ung Dã có kể rằng khi
học trò Bá Ngư bị bệnh, ông đến thăm, đứng bên ngoài cửa sổ nắm lấy tay Bá Ngư
mà nói: “Chẳng được rồi, đây là mệnh chăng! Người thế này mà bệnh thế này!

Trích đoạn Cách dạy khoa học, giúp trò thành danh Ảnh hưởng tư tưởng giáo dục Khổng Tử ở Trung Quốc
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status