tiểu luận điều kiện hình thành và những thành tựu chủ yếu về văn học nghệ thuật của văn minh ấn độ cổ- trung đại - Pdf 26

iu kin hỡnh thnh v nhng thnh tu ch yu v vn hc ngh thut ca vn minh ấn
1
Lạng Giang, tháng 5 năm 2007
Sở gd-đt bắc giang
Tr ờng THPT lạng giang số 1
Sáng kiến kinh nghiệm
Năm học 2006-2007
Điều kiện hình thành
và những thành tựu chủ yếu
Ng ời thực hiện: Nguyễn Thị ái Hoa
Tổ Tổng hợp

Điều kiện hình thành và những thành tựu chủ yếu về văn học nghệ thuật của văn minh Ên Độ
MỤC LỤC.
A. MỞ ĐẦU.
1. Lý do chọn đề tài.
2. Phương pháp nghiên cứu.
3. Giới hạn đề tài.
4. Cấu tạo của đề tài.
B. NỘI DUNG.
CHƯƠNG I. ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH VĂN MINH ÊN ĐỘ CỔ- TRUNG ĐẠI.
1. Sơ lược lịch sử Ên Độ cổ- trung đại.
a. Thời kì văn minh lưu vực sông Ên ( từ đầu thiên kỉ III đến giữa thiên kỉ
II TCN)
b. Thời kỡ Vờđa ( từ giữa thiên kỉ II đến giữa thiên kỉ I TCN).
c. Từ thế kỉ VI TCN đến thế kỉ XIX.
2. Điều kiện hình thành nền văn minh Ên Độ cổ- trung đại.
a. Vị trí địa lý, cư dân.
b. Sự phát triển kinh tế.
c. Sù ra đời của thành thị.
CHƯƠNG II. THÀNH TỰU VĂN HỌC NGHỆ THUẬT CỦA VĂN MINH ÊN

thuật, chữ viết và các bộ môn khoa học khác đặc biệt trong thời kì cổ- trung
đại, suốt từ thời Mụhenjụđarụ đến vương triều Mụgụn. Còng qua quá trình
phát triển của lịch sử mà văn minh Ên Độ đã có ảnh hưởng rất lớn đối với
khu vực xung quanh đặc biệt là các quốc gia ở khu vực Đông Nam Á trong
đó có Việt Nam.
Văn minh Ên Độ đó cú vai trò quan trọng trong quá trình phát triển
của đất nước mình và là một trong những nền văn minh đầu tiên trên thế
giới. Vậy nhờ đâu mà văn minh Ên Đé hình thành và phát triển những
thành tựu của nó có vai trò như thế nào? Trong giảng dạy lịch sử líp 10 ở
THPT có hai tiết nói đến sự phát triển của Ên Đé và những thành tựu rực rỡ
của văn minh Ên Đé. Để tìm hiểu thêm về điều kiện ra đời và thành tựu văn
minh Ên Đé đặc biệt là phần văn học nghệ thuật phục vụ cho việc giảng
dạy tiết 9 và 10 trong chương trình sách giáo khoa được tốt hơn mà tụi đã
chọn đề tài cho sáng kiến kinh nghiệm của tôi là “Điều kiện hình thành và
những thành tựu chủ yếu về văn học nghệ thuật của văn minh Ên Đé
cổ- trung đại” để góp một phần nhỏ vào việc nghiên cứu về văn minh của
một quốc gia có nhiều ảnh hưởng đến Việt Nam.
3
Điều kiện hình thành và những thành tựu chủ yếu về văn học nghệ thuật của văn minh Ên Độ
2. Phương pháp nghiên cứu.
Đây là một vấn đề mang tính lịch sử nờn tụi chọn phương pháp
nghiên cứu là phương pháp lịch sử và phương pháp lụgic.
Phương pháp lịch sử là phương pháp dùa vào những sự kiện lịch sử, tư liệu
lịch sử để trình bày tiến trình lịch sử một cách đầy đủ theo thứ tự thời gian
ra đời, phát triển…
Phương pháp lụgic là phương pháp nghiên cứu lịch sử trong hình
thức tổng quát với những mối liên hệ bản chất của nó.
Trong quá trình nghiên cứu, thu thập các nguồn tư liệu của các tác
giả tụi cũn dựng phương pháp so sánh, tổng hợp rót ra những điểm mấu
chốt có tính khái quát. Thực hiện phương pháp này tôi mới rót ra được

Tài liệu tham khảo.
5
Điều kiện hình thành và những thành tựu chủ yếu về văn học nghệ thuật của văn minh Ên Độ
B. NỘI DUNG
CHƯƠNG I. ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH NỀN MINH ÊN ĐỘ CỔ- TRUNG ĐẠI
1. Sơ lược lịch sử Ên Độ cổ- trung đại.
Từ khi bước vào xã hội có nhà nước cho đến khi bị thực dân Anh
xâm lược, lịch sử Ên Đé có thể chia làm 4 thời kì lớn sau:
a. Thời kì văn minh lưu vực sông Ên (từ đầu thiên kỉ III đến giữa thiên
kỉ II TCN)
Từ khoảng đầu thiên kỉ III TCN, nhà nước Ên Độ đã ra đời, nhưng
cả giai đoạn từ đó cho đến khoảng giữa thiên kỉ II TCN, trước đây chưa
được biết đến. Mãi đến năm 1921, nhờ việc phát hiện ra hai thành phố
Harapa và Mụhenjụđarụ cũng rất nhiều hiện vật bị chôn vùi dưới đất ở
vùng lưu vực sông Ên, người ta mới biết được thời kì lịch sử này.
b. Thời kỡ Vờđa ( từ giữa thiên kỉ II đến giữa thiên kỉ I TCN).
Thời kì này lịch sử Ên Đé được phản ánh trong bé kinh Vờđa nờn
gọi là thời Vờđa. Vờđa vốn là những tác phẩm văn học, gồm có 4 tập là :
Rớch Vờđa, XamaVờđa, Atacva Vờđa và Yagiva Vờđa, trong đó Rich
Vờđa được sáng tác vào khoảng giữa thiên kỉ II TCN, còn 3 tập Vờđa khỏc
thỡ được sáng tác vào khoảng đầu thiên kỉ I TCN.
Chủ nhân của thời kỡ Vờđa là người Arya (nghĩa là “người cao
quớ”) mới di cư từ Trung Á vào Ên Đé. Địa bàn sinh sống của họ trong
thời kì này chủ yếu là vùng lưu vực sông Hằng. Trong giai đoạn đầu của
thời kỡ Vờđa, người Arya đang sống trong giai đoạn tan rã của xã hội
nguyên thuỷ đến khoảng cuối thiên kỉ II TCN, họ mới tiến vào xã hội có
nhà nước. Chính trong thời kì này, ở Ên Độ đã xuất hiện hai vấn đề có ảnh
hưởng rất quan trọng và lâu dài trong xã hội nước này, đó là chế độ đẳng
cấp (Vacna) và đạo Bàlamụn.
c. Từ thế kỉ VI TCN đến thế kỉ XIX.

Pungiap và tồn tại đến thế kỉ V thì diệt vong.
-Vương triều Gỳpta và vương triều Hacsa.
Trong thế kỉ III, Ên độ lại bị chia cắt trầm trọng. Năm 320, vương
triều Gỳp ta được thành lập, miền Bắc và một phần miền Trung Ên độ tạm
thời thống nhất một thời gian. Từ năm 500-528, phần lớn miền Bắc Ên độ
bị người Eptalil xâm chiếm và thống trị, đến năm 535, triều Gupta diệt
vong.
Năm 606, vua Hacssa lại dựng lên một vương triều tương đối hùng
mạnh ở miền Bắc Ên Đé. Năm 648, Hacsa chết, quốc gia hùng mạnh do
ông dựng lên cũng tan rã.
Từ đó cho đến thế kỉ XII, Ên Đé bị chia cắt càng trầm trọng và nhiều
lần bị ngoại téc xâm nhập. Đặc biệt từ đầu thế kỉ XI, Ên Đé thường bị các
7
Điều kiện hình thành và những thành tựu chủ yếu về văn học nghệ thuật của văn minh Ên Độ
vương triều Hồi giáo ởÂpganixtan tấn công và đến năm 1200, toàn bộ miền
Bắc Ên Đé bị nhập vào Apganixtan.
-Thời kì Xuntan Đờli (1206-1526)
Năm 1206, viên Tổng đốc của Apganixtan ở miền Bắc Ên Độ đó tỏch miền
Bắc Ên Đé thành mét nước riêng tự mình làm Xuntan (vua), đóng đô ở
Đờli, gọi là nước Xuntan Đờli (vương quốc Hồi giáo Đờli). Từ đó đến năm
1526, ở miền Bắc Ên Độ đã thay đổi đến 5 vương triều, nhưng đều do
người ngoại téc theo Hồi giáo thành lập, đồng thời đều đóng đô ở Đờli, nờn
thời kì này gọi là thời kì Xuntan Đờli.
- Thời kỡ Mụgụn ( 1526-1857).
Nước Mông Cổ do Thành Cát Tư Hãn thành lập năm 1206. Sau khi Thành
Cát Tư Hãn chết (1227), đế quốc Mông cổ chia thành nhiều nước. Dòng
dõi của người Mông Cổ ở Trung Á đều Tuốc hoá và đều theo đạo Hồi. Từ
thế kỉ XIII, người Mông Cổ ở Trung Á nhiều lần tấn công Ên Đé. Năm
1526, họ chiếm được Đờli, thành lập vương triều mới gọi là vương triều
Mụgụn (Mông Cổ). Từ giữa thế kỉ XVIII, thực dân Anh bắt đầu chinh

1
.
Cư dân Ên Đé gồm có hai chủng tộc chớnh: người Đrabiđa chủ yếu
cư trú ở miền Nam và người Arya chủ yếu cư trú ở miền Bắc. Ngoài ra còn
có nhiều tộc khỏc như HyLạp, Hung Nô, Ả Rập… là quốc gia đa dõn tộc,
sắc tộc nờn vấn đề bộ téc ở Ên Độ là một vấn đề hết sức phức tạp.
Là một tiểu lục địa với những con sông lớn là sông Ên và sông
Hằng, người bản địa Đrabiđa đó xõy dùng cho mình một nền văn minh lúa
nước ở lưu vực sông Hằng vào cuối thiên kỉ thứ III- còn được gọi là nền
văn minh Mờgiopotami. Đến thiên kỉ II, người Arya tràn vào đã tiếp nhận
toàn bộ nền văn minh của người Đrabiđa và sử dụng thêm công cụ để
thống trị là tôn giáo và đẳng cấp. Đõy chớnh là nguồn gốc tạo nên sự đa
dạng về tôn giáo và sắc téc ở Ên độ.
Tuy vậy, sự đa dạng phức tạp của Ên Độ từ xa xưa vẫn được xem
nh mét thể thống nhất tạo nên nền văn minh Ên Đé.
b. Sù phát triển về kinh tế :
- Nông nghiệp:
Chủ yếu dùa vào nền kinh tế tự cấp tự túc. Trong các làng xã người
nông dân thường ở trong những nếp nhà rơm rạ cổ truyền. Đã bao đời
người nông dân vất vả với ba vụ gặt chớnh cựng ba loại cõy ngũ cốc riêng.
Trong các thế kỉ IV-VII , trước thời kì Gupta Ên Độ đã có những
bước phát triển nhất định về nông nghiệp. Người ta đã biết xác định và
phân loại các thứ đất trồng trọt, sử dụng các biện pháp gieo hạt và dựng
phõn
9
Điều kiện hình thành và những thành tựu chủ yếu về văn học nghệ thuật của văn minh Ên Độ
1
-Lịch sử thế giới cổ đại-trang 101- Lương Ninh chủ biên. NXB Giáo dục-
1998
bón, đồng thời biết trồng thờm cỏc loại cây mới. Diện tích khai thác cũng

vùng đất đai phì nhiêu dọc theo những dòng sông. Nhờ vây, diện tích gieo
10
Điều kiện hình thành và những thành tựu chủ yếu về văn học nghệ thuật của văn minh Ên Độ
trồng được mở rộng, nhiều làng mới được mọc lên. Người ta trồng nhiều
loại cây nhưng lúa là cây trồng chính “ Có tới 21 loại lúa được trồng ở Ên
độ thời kì này”
1
. Các biện pháp thâm canh và kĩ thuật canh tác để chú ý dẫn
tới một năm có thể thu hoạch từ 2 đến 3 vô.
- Thủ công nghiệp:
Trong thời kì từ Gỳpta đến Hacsa khá phát triển. Nghề dệt là phổ
biến nhất và giữ ý nghĩa hàng đầu trong kinh tế thủ công nghiệp. Chỉ với
những khung cửi thô sơ những người thợ dệt thủ công Ên độ đã dệt được
những tấm vải mỏng, mềm và nhẹ, màu sắc rực rỡ không phai. Nó trở
thành một trong những mặt hàng xuất khẩu quan trọng nhất của Ên Độ mà
phương Tây rất ưa thích.
Nghề khai mỏ cũng phát triển. Người ta khai thác sắt, đồng, vàng,
muối và các loại đỏ quớ. Nhờ khai thác được nhiều kim loại mà các nghề
luyện kim, rèn và làm đồ trang sức thời kì này đạt đến độ hoàn thiện. Vào
thế kỉ V, những người thợ luyện kim Ên Độ đó đỳc một cột sắt cao 7,25m,
nặng 6500 kg ở Đờli, mà điều đáng kinh ngạc là cho đến nay trải qua hàng
ngàn năm cột sắt đó vẫn hầu nh không han rỉ. Cũng ở thế kỉ naỳ người ta
đó đỳc được một bức tượng Phật bằng đồng cao 2 m.
Nghề làm đồ trang sức cũng rất nổi tiếng chỉ đứng sau nghề dệt.
Người dân Ên Độ giàu hay nghèo đều rất thích đeo đồ trang sức và để cất
giữ. Đồ trang sức thường bằng bạc, vàng, đỏ quớ…Nghề đóng thuyền cũng
đạt được những thành tựu đáng kể. Người ta đó đúng được những con
thuyền lớn chở hàng trăm người, có buồm và nhiều chèo, thích hợp cho
những cuộc du hành xa xôi trên biển. Nghệ thuật xây dựng cũng đạt mức
cao phổ biến là xây nhà bằng đá và xây dựng đền chùa trong các hang

đặc biệt là ngựa chiến thông qua lái buôn Iran và Arõp.
c. Sù ra đời của thành thị.
Cuối thế kỉ XIX, các nhà khảo cổ học mới tìm và khai quật đầy đủ
hai di chỉ khảo cổ là hai thành phố cổ Harappa và Mohendjo Daro trên triền
sông Indus. Tiếp đó hàng loạt các thành thị cổ khác được phát hiện như
Kot Diji, Kalibõngan…
Mỗi thành phố cổ này gồm có hai khu: khu thành là nơi có dinh thự,
đền đài và khu cư dân. Khu dân cư là những đường phố qui hoạch tốt và
một hệ thống tiêu nước đàng hoàng thường xuyên được nạo vét, có những
12
Điều kiện hình thành và những thành tựu chủ yếu về văn học nghệ thuật của văn minh Ên Độ
ngôi nhà hai tầng xây bằng gạch nung với những nhà tắm công cộng và
những nhà tắm riêng. ở đõy cũn cú những nhà kho đựng lúa, những quầy
hàng kiểu cửa hàng nhỏ nằm liền một dãy, những kho hàng gắn liền với
những ngôi nhà riêng rộng rãi.
Ở Harappa người ta đã tìm thấy tới 2000 con dấu hình vuông hoặc
chữ nhật, bằng đất nung, có hình người hoặc thó và có chữ.
Trong suốt thời gian từ thế kỉ VII đến thế kỉ XII, đất nước thường
xuyên xảy ra các cuộc chiến tranh do vậy nhiều thành phố đã bị sụp đổ
nhưng sinh hoạt thành thị vẫn được duy trì ở những địa điểm đã biến thành
thủ đô của các tiểu quốc phong kiến và ở miền duyên hải. ở các thành thị
vẫn luôn diễn ra các hoạt động thủ công và thương nghiệp.
Tuy thành thị là trung tâm của các hoạt động công thương nghiệp ,
song thành thị vẫn không tách rời hẳn với nông thôn. Các thợ thủ công
thành thị, ngoài nghề riêng vẫn có đất đai để cày cấy. Tính chất nông
nghiệp của thành thị đó vẫn được duy trì suốt thời kì phong kiến.
Sang thời kì Xuntan Đờli xuất hiện nhiều thành phố lớn. Đó chủ yếu
là nơi trú ngụ của Tuntan và các quan cai trị địa phương, nờn cú nhu cầu
lớn về tiêu thụ các sản phẩm thủ công nghiệp và nông nghiệp. Do vậy,
thành phố là nơi có thủ công nghiệp phát triển. Khác với nông thôn, thủ

chữ khắc đồ hoạ để đóng trờn cỏc kiện hàng để xác nhận hàng hoá và xuất
xứ của những hàng hoỏ đú.
Đến khoảng thế kỉ V TCN, ở Ên Độ xuất hiện một loại chữ nữa gọi
là chữ Kharosthi. Đây là loại chữ phỏng theo chữ viết của người Lưỡng Hà.
Sau đó là chữ Brami là loại chữ được sử dụng rộng rãi. Trên cơ sở chữ
Brami người Ên Độ đã đặt ra chữ Đờvanagari cú cách viết đơn giản thuận
tiện hơn. Đó là thứ chữ mới để viết tiếng Xanxcrit. Đến nay ở Ên Độ và
Nờpan vẫn dùng loại chữ này.
1.2. Văn học.
Ên Độ là nước có nền văn học rất phát triển gồm có hai bộ phận
quan trọng là Vờđa và sử thi.
Vờđa vốn nghĩa là hiểu biết gồm có bốn tập là Rớch Vờđa, Xama
Vờđa, Yagiua Vờđa, Atỏcva Vờđa.
Sử thi gồm có hai bộ sử thi đồ sộ là Mahabharata và Ramayana. Hai
bộ sử thi này được truyền miệng từ đầu thiên kỉ I TCN rồi được chép lại
bằng khẩu ngữ, đến các thế kỉ đầu công nguyên thì được dịch ra tiếng
Xancrit.
1.3. Nghệ thuật.
Nghệ thuật Ên Độ rất phong phú và đa dạng. Các khía cạnh của nghệ
thuật Ên Độ như: mỹ thuật, âm nhạc, sân khấu, lễ hội… đã góp phần làm
rực rỡ nền văn minh Ên Độ.
14
Điều kiện hình thành và những thành tựu chủ yếu về văn học nghệ thuật của văn minh Ên Độ
1.4. Khoa học và kĩ thuật.
Mặc dầu áp lực của tôn giáo rất manh nhưng do nhu cầu của cuộc
sống hàng ngày, nhân dân Ên Độ đã có nhiều phát minh quan trọng về một
số môn khoa học tự nhiên như thiên văn, toán học, vật lý, y dược học…
1.5. Tôn giáo.
Ên Đé là nơi sản sinh ra rất nhiều tôn giáo, trong đó quan trọng nhất
là đạo Bàlamụn về sau là đạo Hinđu và đạo Phật. Ngoài ra còn một số tôn

cho nhà vua, Atacva Vờđa viết:
Sắc hơn lưỡi búa,
Sáng hơn ngọn lửa,
Vang hơn tiếng sét của Inđra
Cố vấn của người như thế chính là ta.
Trong Atacva Vờđa cũng có những bài thơ tỏ tình:
Như giã lay ngọn cỏ,
Anh lay chuyển lòng em,
Rồi em sẽ yêu anh
Và không rời anh nữa.
Kế tiếp theo 4 tập Vờđa và có liên quan với Vờđa cũn cú cỏc tác
phẩm Bramana, Araniaca, Ypanisat… Những sách này đều viết bằng văn
xuôi, nội dung bao gồm những bài cầu nguyện, thần chú, những nghi thức
cúng bỏi, những bài thuyết pháp, những lời giải thích triết lí trong kinh
Vờđa chứ về văn học thì không có giá trị gì đáng kể.
2.1.2. Sử thi.
Người Ên Đé cổ đại đã để lại hai bộ sử thi vĩ đại vừa có giá trị về
văn học, vừa có giá trị về sử liệu (phản ánh tình hình xã hội ở miền bắc Ên
Độ vào những thế kỉ đầu của thiên niên kỉ I TCN), đó là hai bộ sử thi
Mahabharata và Ramayana.
- Mahabharata: là một trường ca dài có 18 chương và một chương
bổ sung tài liệu, gồm 222.000 câu là 107.000 khổ thơ. Đây là bộ sử thi dài
nhất thế giới, “so với cả hai bé Iliat và ễđixờ của HyLạp cổ đại gộp lại còn
dài hơn 8 lần”
1
. Tương truyền rằng người biên soạn bộ sử thi này là Viasa
(từ này có nghĩa là người sưu tập) thực tế nó đượctập hợp và chỉnh lí bởi
hàng trăm thi sĩ dân gian từ những năm đầu của thiên niên kỉ I TCN đến
thời Gupta, thế kỉ IV TCN.
Chủ đề của tác phẩm là cuộc đấu tranh trong nội bộ một dòng họ đế

hàng trăm triệu).
Sử thi đã nêu rõ cuộc tranh chấp giữa hai dòng họ Pandava và Kuru
đều thuộc dòng dõi vương téc Bharat chứng tỏ xã hội đã phân hóa, chế độ
tư hữu tài sản đã phát sinh và phát triển, tư tưởng cá nhân chủ nghĩa đã dẫn
đến sự tranh giành của cải, đất đai và quyền lực chính trị ngay trong nội bộ
một vương téc. Trường ca Mahabharata là một bản anh hùng ca chiến trận
của tầng líp Kshatriya nhưng sự tích chiến trận chỉ chiếm 20% số câu, phần
còn lại mượn lời các nhân vật để nói về thiết chế đẳng cấp, về lễ nghi, luật
pháp, về những nguyên tắc đạo đức…
Xoáy vào cốt truyện Êy, bộ sử thi này đã miêu tả rất nhiều cảnh khác
nhau với những chi tiết li kì như cảnh ăn chơi xa hoa ở chốn cung đình,
những cuộc tình duyên Ðo le nhưng chung thuỷ, những cảnh sinh hoạt
17
Điều kiện hình thành và những thành tựu chủ yếu về văn học nghệ thuật của văn minh Ên Độ
trong xã hội lúc bấy giê và đậm nét nhất là cảnh chiến đấu anh dũng nhưng
vô cùng thảm khốc. Hơn nữa cùng với thời gian, những câu chuyện như
vậy không ngừng được bổ sung vào làm cho tác phẩm càng thêm phong
phó. Đặc biệt được đưa vào cả một tác phẩm tôn giáo Bhagavadgita dài
trên 700 câu thơ, mà các tín đồ đạo Hinđu sùng kính ngang với các kinh
điển khác.
-Ramayana: là một trường ca dài 24.000 khổ thơ (chưa bằng 1/4 của
Mahabharata), có 7 chương trong đó chương I và chương VII về sau mới
thêm vào có cốt truyện được kết cấu chặt chẽ hơn Mahabharata. Tương
truyền tác giả là Vanmiki, nhưng có lẽ ông chỉ là người chỉnh lí, hoàn thiện
một công trình tập thể của hàng trăm nghệ sĩ dân gian, sáng tác trong thời
gian dài hàng thế kỉ. Ramayana phản ánh giai đoạn muộn hơn
Mahabharata, khi người Arya đã mở rộng địa bàn cư trú về phía đông, đến
trung và hạ lưu sông Hằng, đã tiến về phương Nam và vượt biển sang đảo
Lan ka.
Chủ đề của tác phẩm này là câu chuyện tình duyên giữa hoàng tử

thắng được cuộc thử lửa, Rama vẫn nghi ngờ nàng không giữ được trinh
tiờt với mình trong thời gian ở trong cung điện của Ravan, nên Rama đã
đày vợ vào rừng. Tại đây, Sita sinh được hai đứa con trai và gặp Vanmiki
mà về sau trở thành tác giả của tập thơ. Lớn lên hai đứa con Êy trở thành
người đi hát rong và một hôm chỳng đó hỏt cho Rama nghe bản trường ca
Ramayana. Rama nhận ra con mình, sai sứ giả vào rừng đón Sita về cung.
Sita được minh oan nhưng vẫn đau khổ vỡ đó bị chồng nghi ngờ nên biến
vào lòng đất, người mẹ trước đây đã sinh ra nàng từ luống cày. Rama tiếp
tục trị vì trong nhiều năm nữa, nhân dân được sống yên vui, nhưng bản
thân ông phải sống trong cảnh buồn rầu cô độc.
Ramayana cũng giống như Mahabharata phản ánh một xã hội đang
phân hóa, đứng trước ngưỡng cửa của xã hội có giai cấp và sự hình thành
nhà nước. Cuộc xung đột giữa Rama và Ravana phải chăng là sự đấu tranh
trên con đường phát triển giữa cư dân nông nghiệp ở lưu vực sông Hằng
với dân săn bắn và lượm hái trong vùng núi Vinđya.
2.1.3. Những tác phẩm của Caliđasa.
Caliđasa là nhà thơ và nhà soạn kịch lớn nhất thời Gupta (thế kỉ V).
Trường ca Mờgađuta của ông là một bài thơ trữ tình mẫu mực. Nhưng
những vở kịch do ông sáng tác còn được giữ lại đến nay mới được coi là
thành công nhất của ông trong đó tiêu biểu là vở Sơcuntơla. Vở kịch này là
niềm tự hào của nhân dân Ên Độ trong suốt 15 thế kỉ qua,và đã đưa
Caliđaxa lên hàng các nhà văn lớn của thế giới.
Vở kịch Sơcuntơla vốn phỏng theo một câu chuyện dân gian chép
trong sử thi Mahabharata, nhưng đã được tác giả cải biên và thêm nhiều
19
Điều kiện hình thành và những thành tựu chủ yếu về văn học nghệ thuật của văn minh Ên Độ
tình tiết. Nội dung của vở kịch miêu tả câu chuyện tình duyên giữa nàng
Sơcuntla và vua Đusơnta, trải qua nhiều Ðo le trắc trở, cuối cùng hai người
được đoàn tụ và được hạnh phóc đời đời.
Tuy là một nhà soạn kịch cung đình, lại chịu ảnh hưởng của đạo

Điều kiện hình thành và những thành tựu chủ yếu về văn học nghệ thuật của văn minh Ên Độ
Asụca đã xõy cho mình một toà hoàng cung rất lộng lẫy. Cung điện
chính là một toà nhà ba tầng và được trang sức bằng những tác phẩm điêu
khắc rất đẹp.
Tháp mé tiếng Xanxcrit là stupa, tiếng Pali và thupa. Tháp mộ lúc
đầu có hình dáng một cái nấm hình bán cầu khổng lồ, được xây bằng gạch
sống, phần ngoài bằng gạch nung và ngoài cựng cú trỏt một líp thạch cao
dầy. Bên trong nấm mộ có một căn phòng nhỏ chứa di cốt hoặc vật thiêng
(xá lợi) của đức Phật. Xá lợi của đức Phật đựng trong một cái tiểu nhỏ bằng
pha lê rất đẹp. Phía trên ngọn nấm mộ, người ta dựng một cái lọng lớn
bằng gỗ hay đá để che cho xá lợi. Chung quanh nấm mộ có một hàng lan
can bằng gỗ bọc ngoài một lối đi nhỏ dung làm lối đi hành lễ hay rước
sách. Hiện nay chỉ còn một ngụi thỏp mộ duy nhất ở Nờpan giữ được hình
dáng nguyên thuỷ của thời Asụka, cũn cỏc ngụi khỏc đều đã sửa đổi nhiều.
Trong số cỏc thỏp cũn giữ đến ngày nay, điển hình nhất là tháp Xansi ở
Trung Ên, xây từ thế kỉ III TCN. Tháp này xây bằng gạch, hình nửa quả
cầu, cao hơn 16m, xung quanh có lan can có bốn cửa lớn. Lan can và cửa
đều làm bằng đá và được chạm trổ rất đẹp.
Trụ đá cũng là một công trình kiến trúc dùng để thờ Phật. Những trụ
đá này trung bình cao 15m nặng 50 tấn, trên đá chạm một hoặc nhiều con
sư tử và các hình trang trí khỏc. Cỏc sắc lệnh của Asụka thường được khắc
trờn cỏc trụ đá đó. Trong số các hình trụ đá còn lại, nổi tiếng nhất là trụ đá
ở Xỏcan. Trờn đỉnh trụ đá này có chạm 4 hình con sư tử chụm đuôi vào
nhau, mặt nhìn ra 4 hướng trong tư thế tự vệ. Dưới sư tử, có hình bánh xe
luân hồi. Hình tượng này nay được vẽ thành quốc huy của nước Ên Độ.
Trong số cỏc chựa đền của các tôn giáo như Bàlamụn, đạo Phật, đạo
Jain, chùa hay là một loại công trình đặc biệt của Ên Độ thời cổ- trung đại,
thường là những công trình nghệ thuật kết hợp kiến trúc với điêu khắc, hội
hoạ. Tiêu biểu cho loại công trình này là chùa hang Ajanta được kiến tạo từ
thế kỉ II TCN đến thế kỉ VIII sau CN. Trong ngót một nghìn năm, các nhà

một khối núi đá độc nhất. Điều kì diệu là tất cả cỏc ngụi đền với các chi tiết
của nó đều đạt tới một trình độ rất cao. Chẳng hạn như các tượng Siva,
Pỏcvati và Đamụna… được coi là những tác phẩm điêu khắc vào loại đẹp
nhất của nghệ thuật tạo hình Ên Độ.
Tuy nhiên, vì mang nặng tính chất tôn giáo và để phục vụ tôn giáo,
điêu khắc Ên Độ thời kì này có đặcđiểm chung là: mô tả người không được
chính xác và sinh động. Các tượng hình người thường kì dị với nhiều đầu,
22
Điều kiện hình thành và những thành tựu chủ yếu về văn học nghệ thuật của văn minh Ên Độ
nhiều tay và những tư thế kì quặc. Chỉ có những tượng động vật đặt ở
ngoài đền thì được các nhà điêu khắc dân gian mô tả rất sinh động và hoàn
toàn không theo hình thức tôn giáo.
Ở thế kỉ X- XII, các vương triều Salukya và Sụla ở miền Nam không
chỉ chú trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế, chính trị mà còn rất quan tâm
xây dựng đền tháp Hinđu giỏo. Cỏc vương triều Sụla đặc biệt tôn sùng
Siva, nhất là Siva dưới hình tượng Vua múa. Nhiều đền thỏp đó được hoàn
thành và nhiều tượng Siva – vua mỳa đó được sáng tạo thành một kiểu hình
tượng rất đặc biệt.
Vương triều Sụla nổi tiếng vì những công trình đồ sộ như cụm đền
Tanjora, xây bằng granit cao hơn 85m ở kinh đô Konda- cholapuram.
Người ta cũng bắt đầu đúc những pho tượng thần bằng kim loại để thờ, để
rước trong những ngày lễ.
Đến thời Xuntan Đờli và thời Mụgụn, cùng với việc đạo Hồi trở
thành quốc giáo, ở Ên Độ đã xuất hiện những công trình kiến trúc mới xây
dựng kiểu Trung Á và Tây Á. Đó là những nhà thờ Hồi giáo, cung điện,
lăng mộ mà đặc điểm chung của lối kiến trúc này là cửa vòm, mái tròn, có
tháp nhọn. Có khi các công trình này còn kết hợp với phong cách truyền
thống của Ên Độ như xây theo lối có bao lơn lộ thiờn, cú cột chống thanh
thoỏt…
Thời Xuntan Đờli có công trình kiến trúc nổi tiếng là Tháp

lại càng kì diệu.
Như vậy, trên một nền cảnh rất Âu Tây, với những hàng cây trắc
bách diệp, hồ nước, lối đi, thảm cá, nổi lên một công trình kiến trúc Hồi
giáo không lẫn vào đâu được, với núc vũm “củ hành”, vòm cong hình
cung. Nhưng đi vào bên trong mới “thấy rõ hơn tâm hồn thanh tịnh, ý
nguyện thiêng liêng và tình yêu chung thuỷ của người Ên Độ Hồi giáo
thấm đượm đến từng võn đỏ trờn tường”
1
. Trờn vòm cửa hình cung, mi
cửa được chạm trổ Hồi văn rất tỉ mỉ. Mở hai cánh cửa bằng bạc (nay được
thay bằng hợp kim đồng), ta đi vào bên trong, thấy trên tường đá cẩm thạch
cũng được chạm trổ như một tấm thêu, lại dát ngọc thạch hình chữ nhật
một đoạn kinh Coran “ Người nào có trái tim trong sạch thỡ hóy vào Thiên
đường của trần gian.” ở khoảng trong, ngăn cách bởi một bức tường đá
cẩm thạch, cũng được chạm trổ như một tấm thêu rua mà người ta có thể
ghé mắt nhìn qua khe trống của hỡnh thờu rua, thấy hai chiếc quan tài đá,
chứa đựng thi hài của Sa jahan và Mumtaz, đôi vợ chồng vương giả yêu
nhau đến trọn đời.
Lăng được gọi tên là Taj Mahal (Cung điện bằng đá trắng) mà nhiều
học giả đã coi là “ công trình Hồi giáo thực sự duy nhất ở Ên Độ”, là “ một
công trình hoàn hảo nhất còn đứng đú”, “ là nấm mộ, lăng mộ đẹp nhất thế
24
Điều kiện hình thành và những thành tựu chủ yếu về văn học nghệ thuật của văn minh Ên Độ
gian”. Và vì thế có người còn thốt lên “ Thời gian vốn thông minh, nếu cần
phải huỷ hoại thì xin hãy huỷ tất cả, trước đền Taj để nú cũn làm chứng
nhân cho sù cao quÝ của con người và để làm niềm an ủi cuối cùng cho
con người cuối cựng.”
2
1
-Lịch sử văn hoá thế giới cổ trung đại – trang227 - Lương Ninh chủ biên.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status