luận văn “nghiên cứu sản xuất, xác định tính chất của bê tông bọt và bê tông khí chưng áp” - Pdf 15

Nghiên cứu sản xuất và xác định tính chất của bê tông bọt và bê tông khí chưng áp

TÀIĐỀ
“Nghiên cứu sản xuất, xác định tính chất của bê
tông bọt và bê tông khí chưng áp”Giáo viên th c hi nự ệ : Ts Nguy n V n D ngễ ă ũ
Sinh viên th c hi nự ệ : Hoàng V n B c & u H ng Quână ắ Đậ ồ
GVHD:TS - NGUYỄN VĂN DŨNG Trang 1 SVTH: HOÀNG VĂN BẮC - 05H
1
ĐẬU HÔNG QUÂN
Nghiên cứu sản xuất và xác định tính chất của bê tông bọt và bê tông khí chưng áp
MỤC LỤC
1
1.1.3. Ưu điểm, nhược điểm, ứng dụng của bê tông bọt và bê tông khí chưng áp 8
1.2. Tình hình sản xuất và sử dụng bê tông nhẹ 12
2.2. Nguyên liệu và hóa chất dùng nghiên cứu bê tông AC và AAC 17
2.2.1. Xi măng 17
2.2.3. Nước 24
2.2.4. Phụ gia tạo bọt 24
BLỐC BÊ TÔNG KHÍ CHƯNG ÁP (AAC) 28
Autoclaved aerated concrete blocks (AAC) 28
Blốc bê tông khí chưng áp (autoclaved aerated concrete blocks (AAC)) 29
b. Theo khối lượng thể tích khô, blốc AAC được phân thành các nhóm từ 400 đến
1000. 29
M10, M15, M20, M25, M30, M35, M50, M75, M100 37
Bảng 2.5. Kích thước cơ bản 37
Bảng 2.7. Mác theo khối lượng thể tích khô 38
M100 39
Theo TCXDVN: :2004 39

GVHD:TS - NGUYỄN VĂN DŨNG Trang 3 SVTH: HOÀNG VĂN BẮC - 05H
1
ĐẬU HÔNG QUÂN
Nghiên cứu sản xuất và xác định tính chất của bê tông bọt và bê tông khí chưng áp
Mặt khác gạch nung truyền thống đang dần hạn chế sử dụng vì công nghệ sản xuất
gạch thủ công này đang làm ảnh hưởng lớn đến môi trường làm giảm một lượng lớn
diện tích đất nông nghiệp, phát thải ra môi trường khí độc hại, tiêu tốn một lượng lớn
nguyên liệu đốt. Đồng thời theo quyết định của Thủ tướng chính phủ “Từ năm 2011,
các công trình nhà cao tầng (từ 9 tầng trở lên) sử dụng tối thiểu 30% vật liệu xây dựng
không nung loại nhẹ (khối lượng thể tích không lớn hơn 1000 kg/m
3
) trong tổng số vật
liệu xây”. Trước tình hình đó đòi hỏi ngành công nghiệp sản xuất vật liệu xây phải tìm
ra một loại vật liệu thích hợp thỏa mãn các yêu cầu về môi trường lại đồng thời đáp
ứng các tiêu chuẩn xây dựng. Với loại gạch bê tông cốt liệu rỗng là bê tông bọt và bê
tông khí chưng áp đã đáp ứng đầy đủ các vấn đề trên và đồng thời công nghệ sản xuất
đơn giản, năng xuất cao, chi phí công nghệ ban đầu không cao Đặc biệt bê tông khí
chưng áp đang được chính phủ quan tâm nhiều do có các tính chất nổi trội hơn bê tông
bọt.
BIỆN LUẬN ĐỀ TÀI
Vấn đề môi trường hiện nay là vấn đề nóng bỏng của tất cả các quốc gia trên
thế giới. Hiện nay có rất nhiều ngành sản xuất làm ảnh hưởng rất lớn đến môi trường,
trong đó có ngành sản xuất vật liệu xây dựng đang làm thay đổi môi trường sinh thái
của tự nhiên (việc khai thác đất đá để làm vật liệu xây dựng mà không thể hoàn thổ trả
lại tự nhiên như ban đầu, thải lượng lớn khí thải ra môi trường). Từ vấn đề cấp thiết
GVHD:TS - NGUYỄN VĂN DŨNG Trang 4 SVTH: HOÀNG VĂN BẮC - 05H
1
ĐẬU HÔNG QUÂN
Nghiên cứu sản xuất và xác định tính chất của bê tông bọt và bê tông khí chưng áp
này đòi hỏi con người phải tìm ra một loại vật liệu xây dựng thích hợp để đảm bảo làm

nghệ bê tông nhẹ là công nghệ sạch- thân thiện với môi trường, tận
dụng nguồn phế liệu trong công nghiệp, …
Một trong các loại bê tông nhẹ là bê tông bọt và bê tông khí đây là một loại vật
liệu mới, công nghệ sản xuất khá mới ở Việt Nam tuy rằng đã xuất hiện từ lâu trên thế
GVHD:TS - NGUYỄN VĂN DŨNG Trang 5 SVTH: HOÀNG VĂN BẮC - 05H
1
ĐẬU HÔNG QUÂN
Nghiên cứu sản xuất và xác định tính chất của bê tông bọt và bê tông khí chưng áp
giới. Việc nghiên cứu, sản xuất thành công bê tông bọt đã mở ra một hướng mới trong
xây dựng nhà. Tuy nhiên để biết rõ được những đặc tính ưu việt của loại bê tông này thì ta
phải đi sâu nghiên cứu về những đặc tính của nó.
Với những lý do trên, chúng tôi đã được Khoa và Bộ môn phân công làm đề
tài tốt nghiệp: “Nghiên cứu sản xuất, xác định tính chất của bê tông bọt và bê tông
khí chưng áp” - dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Văn Dũng. GVHD:TS - NGUYỄN VĂN DŨNG Trang 6 SVTH: HOÀNG VĂN BẮC - 05H
1
ĐẬU HÔNG QUÂN
Nghiên cứu sản xuất và xác định tính chất của bê tông bọt và bê tông khí chưng áp
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT
Hiện nay có rất nhiều sản phẩm bê tông nhẹ mỗi loại có một đặc điểm riêng về
cấu trúc và thành phần cốt liệu, ở đây chúng tôi chỉ đề cập đến hai sản phẩm chính
hiện nay đang được ứng dụng rộng rãi trong đời sống đó là sản phẩm AC (aerated
concrete) và sản phẩm AAC (autoclaved aerated concrete).
1.1. Giới thiệu về sản phẩm bê tông nhẹ
1.1. 1. Giới thiệu về sản phẩm AC (Aerated concrete).
Bê tông bọt (AC) là một loại bê tông nhẹ kỹ thuật có khả năng cách âm, cách
nhiệt và chống ẩm tốt, tỷ trọng chỉ bằng khoảng 1/3 so với bê tông thường. Sản phẩm
bê tông bọt được tạo thành từ nguyên liệu chính là xi măng, cát, bọt tạo sẵn ổn định,

* Dù sản xuất loại bê tông nào đi chăng nữa thì sản phẩm cũng phải đảm bảo
các tiêu chuẩn Việt Nam để đảm bảo các tính chất yêu cầu kỹ thuật của sản phẩm
* Sản phẩm bê tông khí chưng áp (AAC) có kích thước bọt nhỏ hơn kích thước
bọt của sản phẩm bê tông bọt (AC).
1.1.3. Ưu điểm, nhược điểm, ứng dụng của bê tông bọt và bê tông khí chưng áp
1.1.3.1. Ưu điểm.
- Bảo vệ môi trường: Loại bê tông này giảm được ít nhất 30% chất thải môi
trường thông qua cách sử dụng nguồn nguyên vật liệu và năng lượng so với sản
phẩm khác và tránh phát thải độc hại. Vì vậy nó còn được gọi là “vật liệu xanh-
thân thiện môi trường”.
Hình 1.3. Bê tông thân thiện môi trường
GVHD:TS - NGUYỄN VĂN DŨNG Trang 8 SVTH: HOÀNG VĂN BẮC - 05H
1
ĐẬU HÔNG QUÂN
Nghiên cứu sản xuất và xác định tính chất của bê tông bọt và bê tông khí chưng áp
- Tiết kiệm năng lượng: Do bao gồm cấu trúc bọt nên sản phẩm có thể cách
nhiệt làm cho nhiệt độ bên trong căn nhà ổn định vào cả mùa hè và mùa đông,
giúp giảm chi phí điều hòa nhiệt độ.
- Cách âm: Tốt hơn hẳn loại bê tông nặng và tường gạch, do bao gồm cấu trúc
bọt nên vừa có khả năng phản hồi vừa hấp thụ âm thanh, tạo nên khả năng cách
âm, nâng cao môi trường sống cả bên ngoài lẫn bên trong căn hộ.
- Cách nhiệt, chống cháy: Do được sản xuất từ các vật liệu là chất vô cơ không
cháy và bên trong lại có cấu trúc bọt xốp vì vậy hệ số dẫn nhiệt, truyền nhiệt
thấp nên khả nắng chống cháy có thể vượt hơn 4 giờ đồng hồ. Có điểm bắt đầu
nóng chảy hơn 2.900 độ Fahrenheit. Mặt khác, AAC hoàn toàn trơ, nó không
thải ra khí độc ngay cả khi tiếp xúc với lửa.
Hình 1.4. Nhiệt được truyền theo đường cong, do có cấu trúc bọt xốp
- Trọng lượng nhẹ: Tỷ trọng khô của bê tông có thể đáp ứng trong phạm vi từ
250-1000 kg/m
3

1
ĐẬU HÔNG QUÂN
Nghiên cứu sản xuất và xác định tính chất của bê tông bọt và bê tông khí chưng áp
Với những ưu điểm trên thì bê tông nhẹ này hoàn toàn có thể thay thế các loại
vật liệu xây dựng truyền thống như gạch đất nung, bê tông thường, tre, gỗ, không làm
giảm diện tích đất trồng trọt như công nghệ sản xuất gạch đất sét nung, làm sạch môi
trường do tận dụng được một số nguồn phế thải từ sản xuất công nghiệp.
1.1.3.3. Ứng dụng
Bê tông bọt đạt tiêu chuẩn TCVN: 316,317:2004 và bê tông khí chưng áp đạt
tiêu chuẩn TCVN: 7959: 2008 có ứng dụng rộng rãi trong lĩnh vực xây dựng:
+ Đặc biệt ứng dụng cho nhà cao tầng.
+ Trường học, resort và bệnh viện.
+ Khách sạn và nhà nghỉ, biệt thự, căn hộ, cao ốc
+ Tường, hàng rào, mái chắn nhiệt .
+ Nhà đơn, Chung cư.
+ Nâng cấp, thêm tầng
+ Văn phòng.
+ Nhà hát.
+ …
Với ưu điểm nhẹ (khối lượng thể tích khoảng 230÷960 kg/m
3
, so với bê tông
thường 2300÷2500 kg/m
3
), bền, ổn định, dễ tạo hình, chịu được rung động, công nghệ
bê tông nhẹ bọt xốp có thể áp dụng cho những công trình xây dựng có nền đất yếu, các
công trình chắn sóng và va đập Ngoài ra, nó còn được ứng dụng để tạo thành vật liệu
xây dựng như sàn mái cách nhiệt, sàn tường cách âm, các tấm panel
Sản phẩm bê tông nhẹ hoàn toàn có thể thay thế các loại vật liệu xây dựng gạch
đất sét nung truyền thống , không làm giảm diện tích đất trồng trọt như gạch nung

Năm 1920 Tiến sĩ Axel Eriksson người Thụy Điển đã phát hiện ra một hỗn hợp
của xi măng, vôi, bọt, nước và cát tạo thành một loại vật liệu nhẹ, vững chắc với tính
chất cách nhiệt, cách âm cũng chịu lửa và khả năng chống mối. Năm 1929 đã đi vào
sản xuất tại một nhà máy ở Hällabrottet- Thụy Điển, và trở thành rất phổ biến phát
triển thêm cho tới sau này gọi là bê tông bọt. Trong những năm 1940 thương hiệu
Ytong đã được giới thiệu, nhưng thường được gọi là "Bê tông màu xanh" tại Thụy
Điển. Tới những năm 60 của Thế kỷ 20, nhiều nghiên cứu về Bê tông nhẹ đã được các
chuyên gia Mỹ, Nhật và Châu Âu nghiên cứu, áp dụng trong thực tế. Tới nay, bê tông
nhẹ đã được phổ biến hầu như trên toàn Thế giới (chỉ trừ một số nước chậm phát
triển). Từ khi có bê tông nhẹ để sử dụng thay thế gạch nung trong xây dựng, gạch
nung (nguyên liệu lấy từ đất tự nhiên) ở các nước tiên tiến đã bị nghiêm cấm sử dụng
nhằm mục đích bảo vệ môi trường sinh thái Quốc gia.
Ngoài ra loại bê tông nhẹ với cấu trúc được làm từ bọt tạo sẵn cũng được nhiều
Quốc gia có nền khoa học công nghệ cao như Mỹ, Đức, Pháp, Nhật… ứng dụng trong
GVHD:TS - NGUYỄN VĂN DŨNG Trang 12 SVTH: HOÀNG VĂN BẮC - 05H
1
ĐẬU HÔNG QUÂN
Nghiên cứu sản xuất và xác định tính chất của bê tông bọt và bê tông khí chưng áp
xử lý nhiều vấn đề quan trọng như làm nền cho đường cao tốc, chống lún ở những
vùng đồi núi hoặc những vùng đất yếu với hiệu quả kỹ thuật- kinh tế vô cùng to lớn.
Các nước phát triển đều nhận thức rõ nguy cơ tàn phá môi trường của công
nghệ sản xuất gạch đất sét nung và những ưu thế mang lại từ sản phẩm bê tông khí
chưng áp, do vậy đã có nhiều chính sách nhằm hạn chế sản xuất, sử dụng gạch đất sét
nung, khuyến khích sản xuất và sử dụng gạch bê tông khí. Nhiều nước, trong đó có
Trung Quốc, Malaysia, các nước khối EU , tỷ lệ gạch bê tông khí đã thay thế trên
50% gạch đất sét nung và tỷ lệ này ngày một cao.[7]
Bê tông nhẹ được ứng dụng trong công nghiệp, dân cư và đã được sử dụng ở
châu Âu hơn 70 năm, Trung Đông trong 40 năm qua, Nam Mỹ và Australia khoảng 20
năm. AAC hiện chiếm hơn 40% đối với tất cả các công trình xây dựng ở Vương quốc
Anh và hơn 60% công trình xây dựng tại Đức. Từ năm 1980, đã có sự phát triển gia

ngày một lớn và khiến cho nhu cầu về gạch xây dựng nói chung, gạch không nung nói
riêng gia tăng theo. Theo Bộ xây dựng, dự kiến năm 2010, cả nước cần 25 tỷ viên
gach, 2015 là 32 tỷ viên và năm 2010 là 40 tỷ viên. Theo quy định của Chính phủ, đến
năm 2010, các lò gạch thủ công trên cả nước phải ngừng hoạt động, cả nước sẽ thiếu
hụt khoảng 12,6 tỷ viên gạch quy chuẩn, đây chính là cơ hội để vật liệu không nung
phát triển.
Xuất phát từ những bất cập trên, đồng thời để đáp ứng nhu cầu vật liệu xây
ngày một lớn, hạn chế sử dụng ruộng đất canh tác, giảm lượng tiêu thụ than, bảo vệ
môi trường, an sinh xã hội, Thủ tướng chính phủ đã ra quyết định số 121/2008/QĐ-
TTg ngày 29/8/2008 về việc phê duyệt quy hoạch tổng thể ngành vật liệu xây dựng ở
Việt Nam đến năm 2020 với định hướng đến năm 2015 tỷ lệ gạch không nung chiếm
20 – 25% và năm 2020 là 30% - 40% tổng số vật liệu xây trong nước. Đây là một yêu
cầu rất lớn đòi hỏi sự tập trung của toàn xã hội, đặc biệt là những tổng công ty đi đầu
trong lĩnh vực vật liệu [7]
Xưa nay, vật liệu xây dựng làm tường bao che chủ yếu ở Việt Nam vẫn là loại
gạch nung (lấy nguyên liệu từ đất tự nhiên). Hàng năm, theo thống kê gần đây, cả
nước sử dụng tới trên dưới 60000000m
3
gạch nung trong đó 70-80% là gạch nung thủ
công gây nên những phá hoại nghiêm trọng về môi trường. Đặc biệt, xu hướng xây
nhà cao tầng gần đây ngày càng tăng, Việt Nam lại có nhiều khu vực có nền đất yếu,
việc sử dụng bê tông nhẹ sẽ mang lại hiệu quả hết sức to lớn.
GVHD:TS - NGUYỄN VĂN DŨNG Trang 14 SVTH: HOÀNG VĂN BẮC - 05H
1
ĐẬU HÔNG QUÂN
Nghiên cứu sản xuất và xác định tính chất của bê tông bọt và bê tông khí chưng áp
Tháng 7 năm 2009, tập đoàn đầu tư vốn Thái Thịnh (Thành phố Hồ Chí Minh)
đã khánh thành nhà máy AAC Vinh Đức - Bảo Lộc - Lâm Đồng với công suất 100000
m
3

Do những nhà sản xuất gạch nung gần như không phải trả tiền nguyên liệu đất.
Nguyên liệu đốt thì lại khai thác tuỳ tiện từ rừng với giá rất rẻ nên giá thành sản phẩm
gạch nung, nhất là gạch nung thủ công thường là rất thấp so với giá trị thật của nó. Từ
đấy tạo ra sự cạnh tranh hết sức không công bằng so với bê tông nhẹ (vốn làm từ các
nguyên liệu được quản lý chặt chẽ, dễ kiểm soát)
Mặt khác, công tác quản lý tài nguyên thiên nhiên cũng như môi trường ở Việt
Nam còn rất tuỳ tiện, dễ dãi, thiếu nghiêm túc hoặc chồng chéo, nên mặc dù Chính
phủ không ít lần nhắc nhở kèm theo nhiều quy định pháp lý rõ ràng, song vấn đề “gạch
nung” tới nay vẫn chưa hề được giải quyết một cách tích cực. Cũng vì thế, không tạo
GVHD:TS - NGUYỄN VĂN DŨNG Trang 15 SVTH: HOÀNG VĂN BẮC - 05H
1
ĐẬU HÔNG QUÂN
Nghiên cứu sản xuất và xác định tính chất của bê tông bọt và bê tông khí chưng áp
ra được những bước đi ban đầu có hiệu quả để có thể thay thế thói quen là dùng gạch
nung trong nhân dân.
GVHD:TS - NGUYỄN VĂN DŨNG Trang 16 SVTH: HOÀNG VĂN BẮC - 05H
1
ĐẬU HÔNG QUÂN
Nghiên cứu sản xuất và xác định tính chất của bê tông bọt và bê tông khí chưng áp
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để biết được tính chất của các loại bê tông nhẹ chúng ta phải tiến hành đúc mẫu
sau đó thử nghiệm các tính chất và đặc tính của chúng, sau đó đi so sánh vi cấu trúc
của các loại khác nhau qua các bức ảnh chụp được dưới kính hiển vi, rồi từ đó chúng
ta có thể phân biệt và hiểu rõ hơn về các loại bê tông nhẹ này.
2.1. Các phương pháp chế tạo bê tông nhẹ
2.1.1. Phương pháp cơ học ( AC - Aerated Concrete )
Chế tạo từ hỗn hợp xi măng, cát, nước và chất tạo bọt. Chất tạo bọt được khuấy trộn
tạo bọt khí. Sau đó tiến hành trộn bọt với hỗn hợp vữa trên tạo sản phẩm, sản phẩm này không
hấp, sau thời gian thì đóng rắn có cường độ.
2.1.2. Phương pháp hóa học (AAC - Autoclaved Aerated Concrete )

3
chiếm (95÷97)%, còn lại
(3÷5)% là ôxýt và các tạp chất khác nằm trong clinker.
GVHD:TS - NGUYỄN VĂN DŨNG Trang 17 SVTH: HOÀNG VĂN BẮC - 05H
1
ĐẬU HÔNG QUÂN
Nghiên cứu sản xuất và xác định tính chất của bê tông bọt và bê tông khí chưng áp
CaO = (63÷67)% MgO ≤ 5%
SiO
2
= (21÷24)% TiO
2
≤ 0.3%
Al
2
O
3
= (4÷8)% Mn
2
O
3
<1.5%
Fe
2
O
3
= (2÷5)% R
2
O < 1.5 %
2.2.1.2. Thành phần khoáng của clinker xi măng

• Cho mác cao.
• Đóng rắn nhanh, toả nhiệt lớn.
• Không bền trong môi trường nước, sulfat.
* Khoáng C
2
S: (2CaO.SiO
2
)
+ Tên gọi: Đicanxi silicat hay Bêlit
+ Thực tế là một dung dịch rắn trong đó C
2
S lớn nhất, ngoài ra còn có Cr
2
O
3
,
P
2
O
5
, MnO, B
2
O
3
,… với hàm lượng nhỏ.
+ Hàm lượng: Trong clinker chiếm (20÷30)%.
+ Tính chất:
• Cho mác thấp hơn C
3
S.

O
3
.Fe
2
O
3
)
+ Tên gọi: Aluminoferit canxi
+ Hàm lượng: (97÷98)%- ∑(C
3
S+C
2
S+C
3
A)
+ Tính chất:
• Là khoáng nặng nhất trong 4 khoáng
• Đóng rắn chậm hơn C
2
S.
• Tỏa nhiệt ít hơn C
2
S.
• Cho mác thấp nhất.
• Bền trong môi trường nước, sulfat.
* Chất trung gian: ( còn gọi là chất đệm)
Chất trung gian nằm giữa các tinh thể Alit và Bêlit, nó là những alumopherit
canxi, aluminat canxi và pha thủy tinh clinker. Tất cả các khoáng này khi nung ở nhiệt
độ cao sẽ chuyển thành trạng thái lỏng.
* Thủy tinh clinker:

3
).
Các khoáng này không có lợi vì nó làm tốc độ đóng rắn của xi măng không ổn định, bề
mặt sản phẩm có vết loang.
* CaO tự do:
Trong clinker chỉ cho phép khoảng (0.5÷1)%, nếu hàm lượng cao hơn sẽ ảnh
hưởng tới chất lượng sản phẩm
2.2.1.3. Quá trình hóa lý xảy ra khi đóng răn xi măng
a, Quá trình hoá học: Có hai dạng phản ứng
*Phản ứng thuỷ phân
Là phản ứng mà các khoáng xi măng tác dụng với nước để phân huỷ thành chất
mới có thành phần cơ bản không giữ nguyên khoáng chất ban đầu.
*Phản ứng thuỷ hoá.
Là phản ứng mà các khoáng xi măng khi phản ứng với nước tạo nên vật chất mới
mà trong cấu trúc có thành phần liên kết của nước mà không bị phân huỷ.
Theo tác giả JUN quá trình hoá xảy ra qua hai giai đoạn:
- Giai đoạn đầu gọi là giai đoạn thủy hóa hoặc thủy phân tùy theo điều kiện
phản ứng.
- Giai đoạn thứ hai là giai đoạn mà các sản phẩm thủy hóa hay thủy phân
phản ứng với các loại phụ gia để tạo nên các khoáng bền nước, bền sulfat,…
Giai đoạn 1
• Khoáng Alit (C
3
S ): Thủy phân hay thủy hoá tùy điều kiện đóng rắn và
nồng độ vôi trong pha lỏng.
3CaO.SiO
2
+ (n+1) H
2
O→ 2CaO.SiO

3
S+ n H
2
O → CSH + Ca(OH)
2
↓{Không tan, dính kết, theo thời gian tạo cường độ}.
- Khi C
CaO
=1.1 g/l hoặc bão hoà thì:
C
3
S+ n H
2
O → C
2
SH
2
+ Ca(OH)
2
↓ + C
3
S
CSH
• Khoáng C
2
S : Theo Jun, C
2

2
O → C
3
AH
(10÷12)
{Có cấu trúc dạng tấm}
Khi C
CaO
>1.08 g/l thì :
C
3
AH
(10-12)
→ C
4
AH
13
{Kèm theo hiện tượng co sản phẩm}
+ Ở nhiệt độ >25
o
C C
3
AH
(10÷12)
→ C
3
AH
6

{Dạng hình khối, không tan, dính kết, theo thời gian tạo cường độ}.

O → C
3
FH
6
{Khoáng C
3
FH
6
bền nước, bền sunfat, dính kết, theo thời gian tạo cường độ}.
C
2
F + 2H
2
O→ 2CaO.Fe
2
O
3
.nH
2
O
2CaO.Fe
2
O
3
.nH
2
O + Ca(OH)
2
+ xH
2

2+
đủ lớn hoặc bão hòa:
C
3
AH
6
+CaSO
4
.2H
2
O → C
3
A.3CaSO
4
.(30-32)H
2
O
Khoáng ettringgit
Khoáng etringgit này trương nở thể tích từ (5÷7) lần, gây xuất hiện ứng
suất làm nứt lớp màng keo và nước sẽ xâm nhập vào và hình thành lớp màng keo như
trước, quá trình được lặp lại và thời gian đông kết được kéo dài.
b, Quá trình lý học khi đóng rắn xi măng:
Gồm hai quá trình, bốn giai đoạn:
Hydrat (sol) Gel Keo tụ Kết tinh
Vữa linh động Bắt đầu ninh kết Kết tinh ninh kết Đóng rắn
Quá trình ninh kết Quá trình đóng rắn
Nghiên cứu về quá trình lý học khi xi măng đóng rắn có 4 tác giả đã đưa ra 4
thuyết khác nhau. Hiện nay người ta thường sử dụng thuyết BaiCôp cho mọi chất kết
dính.
Nội dung thuyết Baicôp:

3 ngày 7 ngày 28 ngày
21,4 30,2 43,5
2.2.2. Cốt liệu cát
Cát tạo nên bộ xương cứng cho vữa, làm cho vữa bớt co. Chất lượng cát ảnh
hưởng nhiều đến cường độ của vữa. Cát có thể là cát thiên nhiên (cát sông, cát biển,
cát núi) và cát nhân tạo (nghiền từ các loại đá đặc hoặc đá rỗng).
*Yêu cầu:
Cát dùng để trộn vữa phải đạt các TCVN 127-1985 áp dụng cho nhóm cát min
và nhỏ:
1) Phải là cát tốt
GVHD:TS - NGUYỄN VĂN DŨNG Trang 23 SVTH: HOÀNG VĂN BẮC - 05H
1
ĐẬU HÔNG QUÂN
Nghiên cứu sản xuất và xác định tính chất của bê tông bọt và bê tông khí chưng áp
2) Mô đun độ lớn của cát không nhỏ hơn 0.7
3) Sét, á sét, các tạp chất không ở dạng cục
4) Hàm lượng muối sunfat, sunfit tính theo SO
3
theo % khối lượng cát, không
lớn hơn 2
5) Hàm lượng bùn, bụi sét bẩn, tính bằng % khối lượng cát, không lớn hơn 10
6) Lượng hạt nhỏ hơn 0.14 mm, tính bằng % khối lượng cát, không lơn hơn 35
Nhưng để giảm giá thành sản phẩm mà vẫn đạt yêu cầu kỹ thuật và đảm bảo
các tiêu chuẩn khác, chúng tôi đã nghiên cứu sử dụng với loại cát nhỏ không nghiền có
kích thước từ hạt nhỏ hơn sàng 1.25 mm.
2.2.3. Nước
*Yêu cầu: Nước dùng để trộn và bảo dưỡng bê tông nhẹ phải đảm bảo yêu cầu
kỹ thuật được quy định trong TCVN 4506 : 1987
+ Không chứa váng dầu và mỡ
+ Không có màu khi dùng cho bê tông và vữa khi hoàn thiện

- Hiệu suất cao.
- Tính ổn định tốt trong môi trường kiềm.
- Tạo thành lượng bọt ổn định gấp 500 lần thể tích của nó.
- Có thể sản xuất được nhiều loại tỷ trọng bê tông rất thấp.
*Tỷ lệ pha:
Chất tạo bọt/nước: 1/32. Trọng lượng bọt tạo ra nên ở khoảng 66 g/lít (tức 1 kg
chất tạo bọt tạo ra 500 lít bọt hoặc 33 lít hỗn hợp chất tạo bọt tạo ra 500 lít bọt).
* Thông số kỹ thuật:
- Trạng thái tồn tại: dung dịch màu nâu đậm
- Khối lượng thể tích: 1,12 +/- 0,02 kg/lít
- Tan trong nước: hoàn toàn
- pH (được hòa tan trong nước) 7 +/- 0,5
- Không độc hại
- Tương thích với xi măng: tương thích với các loại xi măng Portland
Các thông số kỹ thuật của phụ gia tạo bọt như sau:
Bảng 2.1. Các tính chất của phụ gia tạo bọt
GVHD:TS - NGUYỄN VĂN DŨNG Trang 25 SVTH: HOÀNG VĂN BẮC - 05H
1
ĐẬU HÔNG QUÂN


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status