Chuyên đề kinh tế nông nghiệp GVHD: Trần Thị Thu Duyên
Luận văn
Tình hình sản xuất và tiêu thụ xoài
của tỉnh Đồng Tháp từ năm 2007
đến quí II năm 2011
Trang 1
Chuyên đề kinh tế nông nghiệp GVHD: Trần Thị Thu Duyên
Mục lục
Mục lục 2
Trang 2
Chuyên đề kinh tế nông nghiệp GVHD: Trần Thị Thu Duyên
PHẦN MỞ ĐẦU
1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Ðồng bằng sông Cửu Long (ÐBSCL) được thiên nhiên ưu đãi về đất đai,
khí hậu, nguồn nước thuận lợi để phát triển các vùng chuyên canh cây ăn quả
nhiệt đới với nhiều chủng loại có giá trị kinh tế cao, là vùng có sản lượng trái cây
lớn nhất cả nước. Ðồng thời, là đầu mối chủ lực cung cấp cho thị trường trái cây
trong nước và xuất khẩu. Trong đó, có nhiều loại trái cây ngon nổi tiếng được thị
trường trong và ngoài nước ưa thích như: xoài cát Hòa Lộc, sầu riêng cơm vàng
hạt lép Chín Hóa, bưởi Năm Roi, vú sữa Lò Rèn, măng cụt Tân Quy, quýt đường
Lai Vung, khóm Cầu Ðúc, sơ ri Gò Công, nhãn xuồng cơm vàng, cam sành,
chôm chôm nhãn. Trong những năm gần đây, cây xoài đang được chú trọng phát
triển để đáp ứng nhu cầu của thị trường, ở ĐBSCL Đồng tháp là tỉnh có diện tích
trồng xoài lớn nhất, chủ yếu là xoài Cát Hòa Lộc và xoài Cát Chu. Hiện nay, diện
tích xoài chiếm hơn 8.648 ha trong 25.858 ha cây ăn trái của tỉnh. Tuy nhiên thị
trường tiêu thụ của xoài còn bị hạn chế chủ yếu là ở trong nước, do sức cạnh
tranh trên thị trường thế giới của trái cây Việt Nam nói chung và quả xoài nói
riêng còn yếu. Đặc biệt khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ
chức thương mại thế giới (WTO) năm 2007 đã đánh dấu bước phát triển mới cho
thị trường tiêu thụ nông sản và cũng đem đến nhiều thách thức cho nông sản Việt
Nam.
Sử dụng phương pháp so sánh số liệu để thấy được tình hình sản xuất và
tiêu thụ xoài của tỉnh Đồng Tháp từ năm 2007 đến quí II năm 2011 nhằm giúp
nâng cao hiệu quả sản xuất và tiêu thụ xoài.
Trang 4
Chuyên đề kinh tế nông nghiệp GVHD: Trần Thị Thu Duyên
CHƯƠNG 1
TÌNH HÌNH SẢN XUẤT XOÀI Ở TỈNH ĐỒNG THÁP
GIAI ĐOẠI 2007 – QUÍ II NĂM 2011.
1.1 Sơ lược tình hình sản xuất xoài của Việt Nam qua các năm
Xoài là loại cây được trồng phổ biến ở Việt Nam với 59/63 tỉnh, thành có
diện tích trồng trên 100 ha. Tổng diện tích xoài cả nước năm 2010 là 87.500 ha
với sản lượng xoài đạt 574.000 tấn. Đồng bằng sông Cửu Long là vùng trồng
xoài lớn nhất cả nước với 43.100 ha chiếm trên 49% so với diện tích cả nước, kế
đến là vùng Đông Nam Bộ với 21.500 ha Cây xoài chỉ được trồng chuyên canh
ở một số vườn tại huyện Cam Ranh – tỉnh Khánh Hoà, huyện Củ Chi – thành
phố Hồ Chí Minh, huyện Xuân Lộc – tỉnh Đồng Nai, huyện Cái Bè – tỉnh Tiền
Giang và huyện Cao Lãnh – tỉnh Đồng Tháp. Còn lại 95% diện tích xoài được
trồng chung với các loại cây ăn quả khác. Đây là một trong những nguyên nhân
dẫn đến xoài có năng suất và chất lượng thấp trong thời gian vừa qua.
Bảng 1:DIỆN TÍCH VÀ SẢN LƯỢNG XOÀI CỦA VIỆT NAM
TỪ NĂM 2007 ĐẾN NĂM 2010
Năm 2007 2008 2009 2010
Diện tích gieo trồng
(1000ha)
85,2 86,4 87,6 87,5
Diện tích cho sản phẩm
(1000ha)
60,8 67,0 68,8 71,1
Sản lượng (1000 tấn) 471,1 541,6 554,0 574,0
Nguồn: Niên giám thống kê năm 2010
xoài ở Đồng Tháp áp dụng, tuy nhiên các hộ trồng xoài ở các tỉnh khác thì lại
hầu như chưa áp dụng. Vấn đề thu hoạch và các hoạt động tại vườn do diện tích
canh tác nhỏ lẻ, cơ sở hạ tầng chưa tốt nên khó khăn trong việc áp dụng cơ giới
hoá trong thua hoạch. Công tác quản lý chất lượng sau thu hoạch cũng được các
nhà vườn quan tâm bằng cách thu hoạch vào buổi sáng, cắt tỉa sơ bộ, lựa chọn
dụng cụ chuyên chở thích hợp đã góp phần giảm tổn thất, nhưng việc thực hiện
các biện pháp trên lại chưa đồng bộ giữa các hộ trồng xoài trong toàn khu vực.
1.2 Tình hình sản xuất xoài của tỉnh Đồng Tháp.
1.2.1 Khát quát tình hình sản xuất trái cây
Trái cây Đồng Tháp nổi tiếng trong vùng với xoài Cao Lãnh, quýt hồng
Lai Vung, nhãn Châu Thành, bưởi Phong Hoà (có trái quanh năm) v.v. những
Trang 6
Chuyên đề kinh tế nông nghiệp GVHD: Trần Thị Thu Duyên
loại cây đang mang lại giá trị kinh tế cao cho nhà vườn. Trong tổng số 23.00 ha
diện tích cây ăn trái cho sản lượng gần 150.000 tấn/năm, trong toàn tỉnh hiện đã
có không ít những vườn cây kiểu mẫu được sản xuất theo hướng chuyên canh,
sản phẩm đạt chất lượng và độ đồng đều cao để tiến tới xây dựng thương hiệu,
đáp ứng yêu cầu xuất khẩu. Diện tích cây ăn trái 6 tháng đầu năm 2011 đạt
25.858 ha tăng so với đầu năm 2010 là 2.459 ha. Ngành nông nghiệp tiếp tục xây
dựng một số mô hình sản xuất cây ăn trái theo hướng GAP tại huyện Châu
Thành (5 ha), huyện Lai Vung (4,4 ha), huyện Cao Lãnh (14 ha). Chất lượng
vườn cây ăn trái đã có sự cải thiện, nâng cao từ khâu cải tạo vườn, chọn giống,
kỹ thuật trồng chăm sóc và thu hoạch đã được nhà vườn quan tâm và đang từng
bước sản xuất theo hướng VietGAP. Về giống cây ăn trái có chất lượng cao, các
kỹ thuật chiết, ghép ngày càng tiến bộ, sử dụng giống sạch bệnh, nâng suất cao.
Việc xây dựng tiêu chuẩn, chọn cây đầu dòng, công tác quản lý giống có chiều
hướng tích cực. Về kỹ thuật canh tác có nhiều chuyển biến tích cực theo hướng
canh tác hữu cơ và IPM (sử dụng phân hữu cơ, áp dụng bao trái, tỉa cành), việc
áp dụng xử lý ra hoa ngày một phổ biến đã giúp giảm áp lực về thời vụ thu hoạch
rộ. Hiện nay, Tỉnh đang xây dựng mô hình vườn cây ăn trái kiểu mẫu tại 3
tắt là VietGap), kết hợp với tập huấn chuyển giao kỹ thuật, hình thành các vùng
sản xuất chuyên canh, tập trung.
Quan sát bảng dưới đây để thấy rõ hơn sự thay đổi diện tích xoài cũng
như sản lượng xoài của tỉnh Đồng Tháp:
Bảng 2: DIỆN TÍCH VÀ SẢN LƯỢNG XOÀI CỦA TỈNH ĐỒNG THÁP
TỪ NĂM 2007 ĐẾN NĂM 2009
Năm 2007 2008 2009 2010
Diện tích(ha) 7.283 7.750 8.892 9.300
Sản lượng(tấn) 44.391 60.330 64.529 61.357
Nguồn: Sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn tỉnh Đồng Tháp
Căn cứ vào bảng trên ta thấy từ năm 2007 đến năm 2009 sản lượng và
diện tích của tỉnh Đồng Tháp nhìn chung đều tăng nhưng năm 2010 sản lượng lại
giảm xuống so với năm 2009. Năm 2007 toàn tỉnh có 7.283 ha đến năm 2009 với
sản lượng từ 44.391 tấn lên 64.529 tấn. Hai năm 2008 và 2009 được coi là hai
năm trúng mùa của nông dân do sản lượng tăng cao hơn nhiều ( năm 2008 sản
lượng đạt 60.330 tăng 15.939 tấn so với năm 2007) mà giá lại cao đem lại thu
nhập cao cho người dân. Tuy nhiên trong năm 2010 khi diện tích tăng lên 9300
ha nhưng sản lượng lại giảm xuống 61.357 tấn, giảm 3.172 tấn so với năm 2009,
bởi thời tiết diễn biến phức tạp, mưa nhiều và to nên xoài khó đậu trái hơn những
Trang 8
Chuyên đề kinh tế nông nghiệp GVHD: Trần Thị Thu Duyên
năm trước chủ yếu là ở Thành phố Cao Lãnh và huyện Tháp Mười, huyện Cao
Lãnh, làm nhiều nông dân trồng xoài thất mùa nặng vào cuối năm trong khi giá
xoài tăng cao hơn nhiều so với những năm trước. Ở tỉnh Đồng Tháp, xoài được
trồng nhiều nhất ở tỉnh huyện Cao Lãnh và Thành Phố Cao Lãnh. Tại huyện Cao
Lãnh, xoài có diện tích 3.620 ha, chiếm 68,8% diện tích cây ăn trái trong toàn
hiện chiếm khoảng 40% diện tích xoài toàn tỉnh chủ yếu là giống xoài Cát Hòa
Lộc và Cát Chu, vì vậy huyện Cao Lãnh đóng vai trò quan trọng trong việc phát
triển cây xoài của Tỉnh. Từ năm 2003 nhận thấy tiềm năng giá trị kinh tế cao của
giống xoài và sự phù hợp của đất Cao Lãnh nên Trung tâm Khuyến nông tỉnh và
huyện Cao Lãnh năm 2010 đều tăng so với năm 2007. Trong bốn năm diện tích
tăng từ 2.878 ha năm 2007 với sản lượng đạt 24.000 tấn đến cuối năm 2010 đã
tăng thêm 742 ha làm diện tích trồng xoài toàn huyện đạt 3.620 ha và đạt sản
lượng 30.046 tấn. Trong năm 2007 cây xoài được trồng ở hầu hết các xã của
huyện làm tăng diện tích đáng kể, người dân đã trồng mới lại vườn với giống
xoài chất lượng tốt, có giá trị kinh tế cao loại bỏ những giống xoài tạp không
hiệu quả nên các cây này chưa cho nhiều trái làm ảnh hưởng đến sản lượng, một
phần là do thời tiết thất thường dẫn đến tình hình sâu bệnh trên cây xoài diễn
biến phức tạp làm giảm sản lượng cũng như chất lượng xoài trong thời gian này.
Ngoài ra, để nâng cao năng suất, chất lượng cây xoài, năm 2007 tỉnh Đồng Tháp
đã thực hiện thí điểm vườn xoài kiểu mẫu trên diện tích 50 ha ở ấp Mỹ Hưng
Hòa, xã Mỹ Xương, huyện Cao Lãnh, kết quả vụ xoài cho năng suất từ 8 đến 10
tấn quả mỗi héc ta, cao hơn so với sản xuất xoài bình thường từ 1đến 2 tấn
trái/ha. Năm 2008 – 2009, để bảo vệ sức khỏe, đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng
và góp phần bào vệ môi trường bằng nguồn vốn Khuyến nông Quốc gia, Trung
tâm Khuyến nông - Khuyến ngư Đồng Tháp chọn Mỹ Xương, huyện Cao Lãnh
làm điểm thực hiện mô hình sử dụng phân hữu cơ vi sinh trên cây xoài theo
hướng VietGAP tại ấp Mỹ Hưng Hoà, xã Mỹ Xương, với 5 hecta/5hộ, qua 2 năm
thực hiện mô hình này đã mang lại hiệu quả thiết thực. Bên cạnh xây dựng vườn
kiểu mẫu, huyện không ngừng nhân rộng mô hình sản xuất theo hướng an toàn ở
khắp các xã trong huyện, tăng cường tập huấn nhà vườn áp dụng kỹ thuật mới
như bao trái xoài trong mùa nghịch, sử dụng phân hữu cơ vi sinh,…góp phần
nâng cao năng suất, chất lượng trong thời gian qua. Năm 2010 mặc dù sản lượng
và giá xoài tăng nhưng năng suất, chất lượng không bằng các năm trước, chi phí
sản xuất thì tăng cao do thời tiết bất thường, có thời điểm nhiệt độ và độ ẩm cao,
mưa nhiều làm cho dịch bệnh phát sinh nhiều xoài ít đậu trái, nhưng nhờ nhà
Trang 10
Chuyên đề kinh tế nông nghiệp GVHD: Trần Thị Thu Duyên
vườn áp dụng tốt các biện pháp kỹ thuật từ lúc ra hoa đến kết trái nên sản lượng
đạt khoảng 30.046 tấn.
Trang 11
Chuyên đề kinh tế nông nghiệp GVHD: Trần Thị Thu Duyên
Newzealand. Từ các chương trình khuyến nông của huyện, tỉnh và sự hỗ trợ kỹ
thuật của Trung tâm ứng dụng chuyển giao khoa học kỹ thuật (Viện Khoa học kỹ
thuật miền Nam) thì vật liệu bao trái chuyên dùng nhập nội từ Đài Loan trên xoài
mới được bắt đầu sử dụng đầu tiên ở huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp nói riêng
và trên cả nước nói chung. Từ đó đến nay, kỹ thuật bao trái với vật liệu chuyên
dùng nhập từ Đài Loan được sử dụng rộng rãi và tăng dần với nhu cầu từ 3 đến 4
triệu bao trái cho mỗi năm. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đó, trong năm 2009,
ngành Nông Nghiệp huyện đã hỗ trợ kinh phí nhập thiết bị và nguyên vật liệu
bao trái từ Đài Loan đồng thời đưa vào hoạt động để sản xuất bao trái tại chỗ
cung ứng cho các nhà vườn trong và ngoài tỉnh. Sử dụng bao trái chuyên dùng
bằng vật liệu được sản xuất từ Đài Loan đã mang lại hiệu quả kinh tế cao. Bao
trái ngoài tránh được sự va chạm cơ học do gió gây ra, làm giảm sự xâm nhập
của nấm và vi khuẩn qua vết thương; do đó, hạn chế tối đa bệnh thán thư và xì
mủ trên trái gây ra làm tăng năng suất từ 40 – 55% và tăng chất lượng trái xoài
sau thu hoạch, màu sắc trái đẹp, bệnh trái sau thu hoạch giảm giúp kéo dài thời
gian bảo quản từ 3-5 ngày so với bình thường, Bao trái khi trái đã qua giai đọan
rụng trái sinh lý (40 – 50 ngày tuổi) là hiệu quả nhất, trước khi bao trái phun
thuốc trừ sâu, bệnh kết hợp với tỉa trái đã làm giảm được từ 8 -10 lần phun thuốc
trong suốt vụ. Mỗi ha xoài lợi nhuận tăng 50.000.000 đồng so với phương pháp
canh tác truyền thống.
• Sử dụng phân hữu cơ sinh hoc: Mô hình sử dụng phân hữu cơ vi
sinh trên cây ăn trái, được xây dựng trên nền của vườn xoài kiểu mẫu từ năm
2004 - 2007 và mô hình xoài theo hướng GAP năm 2008. Sử dụng phân hữu cơ
vi sinh trên cây ăn trái, nhà vườn cần quan tâm hai vấn đề là bao trái, đã hạn chế
số lần phun thuốc từ 5 đến 10 lần, chất lượng tăng lên, trái đẹp, giảm chi phí sản
xuất, tăng lợi nhuận. Còn tỉa trái non làm hạn chế cạnh tranh dinh dưỡng, giảm tỷ
lệ xì mũ trên xoài. Ưu điểm của phương pháp này là không gây ảnh hưởng đến
sức khỏe con người, vật nuôi, cây trồng; không gây ô nhiễm môi trường, cân
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TIÊU THỤ XOÀI.
2.1 Tình hình tiêu thụ xoài trong nước.
Xoài là loại trái cây được nhiều người tiêu dùng cả nước ưa thích, loại trái
cây này được bán khắp cả nước. Sản lượng xoài càng tăng trong thời gian qua
nhưng thị trường tiêu thụ chủ yếu là ở trong nước, rất ít được xuất khẩu ra các thị
trường lớn. Dù là tiêu thụ trong nước nhưng xoài của trong vẫn phải cạnh tranh
với các giống xoài nhập khẩu từ nước khác điển hình là xoài Thái Lan và Trung
Quốc. Xoài nhập từ Trung Quốc, Thái Lan, Campuchia có giá bằng đến thấp hơn
nội địa làm ảnh hưởng không nhỏ đến trong nước vùng Nam Bộ. Gần đây, xoài
Thái Lan, và xoài Campuchia chất lượng ngon, giá cả hợp lý nên được người tiêu
dùng ưa chuộng. Vì nhu cầu hưởng thụ đa dạng của người dân nên không thể
ngăn xoài nhập khẩu, và mặc dù chất lượng xoài trong nước không kém và có
thương hiệu nổi tiếng: xoài cát Hoà Lộc, xoài Cát Chu, Xoài Châu Nghệ nhưng
đầu ra vẫn không ổn định, chưa có những sự đột phá tiêu thụ trong nước.
Trong nước, xoài được tiêu thụ mạnh ở thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội với số
lượng khoảng 25.000 tấn/năm; Riêng xoài ở tỉnh Đồng Tháp trong những năm
qua, hầu hết xoài thu hoạch xong đều được bán cho các vựa xoài, số lượng xoài
này được các thương lái đem đi tiêu thụ ở khắp cả nước, trong đó một phần nhỏ
thì được tiêu thụ ở chợ trong tỉnh mà nhiều nhất là ở chợ đầu mối trái cây Mỹ
Hiệp, phần lớn là được đưa đi tiêu thụ ở Thành Phố Hồ Chí Minh các tỉnh của
ĐBSCL và các tỉnh miền Đông Nam bộ.
Một số thị trường trong nước đang và có khả năng trong thời gian tới tiêu
thụ mặt hàng trái cây nói chung và trái xoài nói riêng của tỉnh Đồng Tháp:
- Thị trường các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long: Đồng Tháp nằm trong
lòng thị trường này nên có nhiều đặc điểm tương đồng trong phát triển kinh tế
của vùng là đi lên từ thế mạnh ban đầu bằng nông nghiệp và thuỷ sản và là vựa
nguyên liệu cung cấp cho chế biến hàng nông thuỷ sản. Do vậy, sự liên kết với
khu vực này trong thu mua nguồn nguyên liệu thuỷ sản, nông sản, trái cây để chế
biến tiêu thụ trong nước và xuất khẩu có giá trị lớn là hết sức cần thiết.
Trang 14
Hòa Lộc sẽ tuyển chọn 100 tấn xoài được trồng theo tiêu chuẩn VietGap xuất
sang Nhật Bản. Giá xoài cát Hòa Lộc được thu mua xuất khẩu trung bình là
25.000 đồng/kg. Với mức giá này, nông dân trồng xoài có thể thu lãi hơn 180
Trang 15
Chuyên đề kinh tế nông nghiệp GVHD: Trần Thị Thu Duyên
triệu đồng/ha. Sau khi xoài cát Hòa Lộc đạt chuẩn xuất vào thị trường Nhật Bản
thì đối tác các nơi liên hệ liên tục. Tuy nhiên chúng ta không dám ký hợp đồng
tràn lan vì sản lượng xoài ngon quá ít, không đủ cung cấp cho khách hàng. Vì
vậy việc sản xuất theo các tiêu chuẩn xuất khẩu là vấn đề các nhà vườn nên thực
hiện để mở rộng thị trường tiêu thụ cho trái xoài tươi. Đặc biệt, đầu năm 2011
một đoàn chuyên gia của New Zealand đã tới Việt Nam để kiểm tra các khâu
chuẩn bị xuất khẩu xoài tươi vào thị trường này. Dự kiến qua năm 2012, xoài của
Việt Nam có thể được xuất khẩu vào New Zealand sau khi được xử lý bằng các
phương pháp là chiếu xạ và hơi nước nóng.
Dù xuất khẩu trái xoài của Việt Nam đã có tiến triển tương đối tốt nhưng
trái xoài Việt nam phải không ngừng cải tiến từ khâu sản xuất, chất lượng trái, dư
lượng thuốc bảo vệ thực vật trên trái, thì trái xoài của chúng ta mới khả năng
xâm nhập vào các thị trường khó tín trong thời gian tới và đủ khả năng cạnh
tranh với các đối thủ xuất khẩu lớn trong khu vực Châu Á như Ấn Độ, Pakixtan,
Philippine, Thái Lan. Ấn Độ là nước sản xuất xoài lớn nhất thế giới với sản
lượng năm 2009 đạt khoảng 13,5 triệu tấn, trong đó xuất khẩu xoài đạt khoảng
210 ngàn tấn, chủ yếu sang thị trường Trung Đông, Mỹ và Anh. Nhờ chất lượng
xoài được cải thiện và tăng cường quảng bá thương hiệu, giá xoài Ấn Độ tăng ở
các thị trường sinh lợi ở Mỹ. Trong vụ 2009/10, giá xoài Ấn Độ đạt 20 USD/hộp
3,5 kg, song trong vụ năm con số này đạt 28 USD/hộp 3,5 kg. Pakixtan là nước
xuất khẩu xoài lớn thứ hai trên thế giới, hiện đang xuất sang Các tiểu Vương
quốc Arập Thống nhất, Arập Xêut, Bahrain, Anh, Xingapo và các thị trường
khác. Năm 2010, Pakixtan đã xuất khẩu được 130 ngàn tấn xoài với kim ngạch
41 triệu USD, kim ngạch xuất khẩu xoài năm 2011 thể đạt 50 triệu USD.
Một số thị trường lớn cho xuất khẩu xoài mà xoài Việt Nam có thể
dân cư và có nhu cầu đa dạng đối với sản phẩm nhiều phẩm cấp khác nhau.
Trung Quốc là thị trường lớn, dễ thâm nhập, yêu cầu về chất lượng không quá
cao, quy định về vệ sinh thực phẩm của Trung Quốc không quá khắt khe như
Nhật Bản, Đài Loan, Hồng Kông hay Singapore. Ngoài ra, xuất khẩu sang Trung
Quốc có nhiều thuận lợi như chi phí vận chuyển thấp và có khả năng duy trì độ
tươi của sản phẩm trái cây do Trung Quốc nằm ngay sát với Việt Nam.
Thị trường Nhật Bản:
Là thị trường có nhu cầu xoài ngày càng tăng nhưng việc xuất khẩu
vào gặp khó khăn do nước này áp dụng quy định mức giới hạn tối đa hóa chất
đối với thực phẩm nhập khẩu, tuy nhiên những tháng đầu năm 2011 Việt nam đã
xuất sang Nhật 100 tấn xoài.
Trang 17
Chuyên đề kinh tế nông nghiệp GVHD: Trần Thị Thu Duyên
Thị trường Bắc Mỹ:
Hoa Kỳ là nước nhập khẩu xoài lớn nhất thế giới, chiếm gần 50% tổng
nhập khẩu loại trái cây này trên thế giới. Hoa Kỳ nhập khẩu từ Việt Nam chủ yếu
là trái cây chế biến và nước trái cây. Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ
đã tạo điều kiện thuận lợi cho xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường này. Kể từ
khi Hiệp định thương mại song phương Việt Nam và Hoa Kỳ được ký kết, xuất
khẩu trái cây của Việt Nam vào Hoa Kỳ trở nên dễ dàng hơn, đây là cơ hội cho
xoài Việt Nam.
Trang 18
Chuyên đề kinh tế nông nghiệp GVHD: Trần Thị Thu Duyên
CHƯƠNG 3
GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT VÀ
TIÊU THỤ XOÀI
3.1 Sản xuất.
• Tăng cường hơn nữa các mô hình sản xuất theo hướng an toàn trên
toàn huyện để đạt năng suất cao nhất đáp nhu cầu thị trường.
• Đầu tư, nghiên cứu, phát triển kỹ thuật canh tác tiến bộ; ứng dụng,
• Ở khâu sản xuất trái cây hàng hóa có chất lượng cao, cải tiến mùa vụ,
chất lượng giống, càng ngày càng có nhiều chủng loại trái cây phong phú đa
dạng, ngon.
• Nâng cấp, xây dựng trung tâm, chợ mua bán trái cây để đảm
bảo nơi tiêu thụ cho nhà vườn.
Trang 20
Chuyên đề kinh tế nông nghiệp GVHD: Trần Thị Thu Duyên
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1 Kết luận.
Trong giai đoạn từ năm 2007-2011, tỉnh Đồng Tháp đã có những đóng
góp quan trọng trong kế hoạch phát triển cây ăn quả của tỉnh chủ yếu là cây
xoài, diện tích và sản lượng tăng lên hàng năm với chất lượng ngày càng
được nâng cao qua nhiều phương pháp, chương trình và mô hình được huyện
thực hiện đạt kết quả cao.
3.2 Kiến nghị.
• Sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn tỉnh Đồng Tháp: Tăng
cường các nghiên cứu khoa học nhằm năng cao năng suất cây trồng, tạo ra
giống có chất lượng cao hơn nữa, tăng cường các buổi tọa đàm và thực tế trên
vườn xoài,
• Nông dân: tham gia đầy đủ các buổi tọa đàm, tập huấn kỹ thuật mới
của địa phương tổ chức, thực hiện đúng nguyên tắc về sử dụng thuốc bảo vệ
thực vật, thường xuyên thăm vườn để kịp thời phát hiện bệnh hại.
Trang 21
Chuyên đề kinh tế nông nghiệp GVHD: Trần Thị Thu Duyên
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trái cây xuất khẩuViệt Nam: Thách thức thị trường khó, Thanh Dung-
Đức Mạnh, ngày đăng 23/06/2011.
http://www.saigondautu.com.vn/Pages/20110623/Thach-thuc-thi-truong-
kho.aspx
2. Trái cây Việt Nam – Tiềm năng lớn, xuất khẩu nhỏ, sggp, ngày đăng