BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
Đề tài
“Đánh giá tác động của các chính sách xóa
đói giảm nghèo ở Việt Nam ”
MỤC LỤC
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP 1
Đề tài 1
“Đánh giá tác động của các chính sách xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam ” 1
MỤC LỤC 2
Phần I: MỞ ĐẦU 4
Phần II: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 6
Phần III CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 6
3.2.2 Xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam 11
Trong những năm qua, tỷ lệ người nghèo ở nước ta có xu hướng giảm rõ rệt. Năm 2009
tỷ lệ nghèo chung cho cả nước là khoảng 11% 11
Có sự khác biệt giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng kinh tế 11
Tiếp tục có nhiều chính sách, tập trung nguồn lực hỗ trợ giảm nghèo 11
Bảng: Tỷ lệ nghèo chung phân theo thành thị, nông thôn và phân theo vùng (%) 12
12
1998 12
2002 12
2004 12
2006 12
2008 12
Tỷ lệ nghèo chung 12
37,4 12
28,9 12
19,5 12
16,0 12
14,5 12
Phân theo thành thị, nông thôn 12
18,4 12
Tây Nguyên 12
52,4 12
51,8 12
33,1 12
28,6 12
24,1 12
Đông Nam Bộ 12
7,6 12
8,2 12
3,6 12
3,8 12
2,3 12
Đồng bằng sông Cửu Long 12
36,9 12
23,4 12
15,9 12
10,3 12
12,3 12
Nguồn: Tổng cục thống kê 12
Phần I: MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Nghèo đói là một trong những vấn đề nan giải mà mọi quốc gia trên thế
giới đặc biệt là những quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam đều phải
quan tâm và tìm cách giải quyết.Việc tấn công vào nghèo đói là một nhiệm vụ
không kém phần quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của nước ta.
Đại Hội VII của Đảng đã xác định xoá đói giảm nghèo là một trong `những
chương trình kinh tế xã hội vừa cấp bách trước mắt vừa cơ bản lâu dài. Đồng thời
việc xoá đói giảm nghèo đòi hỏi cũng phải có những chính sách thích hợp thì mới
đạt được hiệu quả. Những chính sách mà nhà nước đưa ra không những góp phần
2.1 Phương pháp thu thập thông tin
2.1.1 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp
Các số liệu thứ cấp được thu thập ở các báo cáo, các công trình nghiên cứu
đã công bố của các cá nhân, tổ chức liên quan.
Tìm hiểu tác động của các chính sách xóa đói giảm nghèo đã và đang được
triển khai qua các trang web, sách báo…để thấy được các tác động của các chính
sách đó.
2.1.2 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp
Tiến hành trao đổi thảo luận, thu thập ý kiến của các thầy cô giáo, bạn bè và
những người hiểu biết vấn đề liên quan.
2.2 Phương pháp phân tích, xử lý thông tin
Sử dụng phương pháp thống kê mô tả, thống kê so sánh để thấy những tác
động của các chính sách trong phạm vi thời gian nghiên cứu.
Phần III CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
3.1 Cơ sở lý luận
3.1.1 Các khái niệm cơ bản
a. Khái niệm nghèo
nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thõa mãn
những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình đọ
phát triển kinh tế và phong tục tập quán của địa phương.
Nghèo được định nghĩa dựa vào hoàn cảnh xã hội của cá nhân, nghèo
không chỉ đơn giản là mức thu nhập thấp mà còn thiếu thốn trong việc tiếp cận
dịch vụ, như giáo dục, văn hóa, thuốc men, không chỉ thiếu tiền mặt, thiếu những
điều kiện tốt hơn cho cuộc sống mà còn thiếu thể chế kinh tế thị trường hiệu quả,
trong đó có các thị trường đất đai, vốn và lao động cũng như các thể chế nhà nước
được cải thiện có trách nhiệm giải trình và vận hành trong khuôn khổ pháp lý
minh bạch cũng như một môi trường kinh doanh thuận lợi. Mức nghèo còn là tình
trạng đe dọa bị mất những phẩm chất quý giá, đó là lòng tin và lòng tự trọng.
Việt Nam đã thừa nhận định nghĩa chung về đói nghèo do Hội nghị chống
đói nghèo khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc,
thành thị những hộ có thu nhập bình quân từ 260.000 đồng/người/tháng (dưới
3.120.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo.
Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội cho biết, mức chuẩn nghèo giai đoạn
2006-2010 do Chính phủ ban hành năm 2005 đã không còn phù hợp nữa do biến
động kinh tế và chỉ số giá tiêu dùng đã tăng hơn 40% so với thời điểm ban hành.
Vì vậy, Bộ đã đề xuất phương án điều chỉnh chuẩn nghèo áp dụng cho năm
2010 như sau: Khu vực nông thôn là những hộ có mức thu nhập bình quân từ
300.000 đồng/người/tháng (dưới 3,6 triệu đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo;
Khu vực thành thị là những hộ có mức thu nhập bình quân từ 390.000
đồng/người/tháng (dưới 4.680.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo. Dự
kiến, theo điều chỉnh chuẩn nghèo này, tỉ lệ hộ nghèo cả nước sẽ là khoảng 16-
17%, tương ứng với 3,2-3,4 triệu hộ nghèo.
3.2 Cơ sở thực tiễn
3.2.1 Kinh nghiệm quốc tế về giải quyết vấn đề đói nghèo
3.2.1.1 Giải quyết đói nghèo ở Thái Lan
Đối với Thái Lan tỉ lệ nghèo là 30% dân số trong thập kỷ 80 đến năm 1996
giảm xuống còn 3% (13 triệu người) bởi chính phủ Thái Lan thực hiện một số biện
pháp sau:
- Đối với người nghèo Chính phủ cho vay bằng hiện vật để sản xuất, cho
vay vật tư giá rẻ, chất lượng tốt.
- Thu mua các sản phẩm ngũ cốc rẻ, Ngân hàng cho nông dân vay vốn với
lãi suất thấp (3% năm) và cho nông dân dùng thóc để thế chấp. Khi thóc được giá
người dân bán thóc và hoàn vốn cho Ngân hàng.
- Chính phủ Thái Lan áp dụng mô hình gắn liền chính sách phát triển quốc
gia với phát triển nông thôn. Thông qua việc phát triển nông thôn xây dựng những
xí nghiệp ở làng quê nghèo, phát triển mô hình kinh doanh vừa và nhỏ, mở rộng
các trung tâm dạy nghề ở nông thôn để giảm tỉ lệ thất nghiệp.
- Chính phủ Thái Lan còn ban hành chính sách cải cách ruộng đất, qua đó
người dân có quyền làm chủ ruộng đất. Nhà nước tạo điều kiện cho nông dân mở
rộng quy mô, hướng nông dân đi theo con đường sản xuất hàng hoá.
Ấn Độ là một nước có số người nghèo nhiều nhất thế giới và có khoảng 420
triệu người ở tình trạng đói nghèo, chiếm 55% dân số của cả nước. Ấn Độ đưa ra
vấn đề phát triển toàn diện nhằm khơi dậy tiềm năng ở nông thôn, áp dụng những
tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, tăng nhanh năng suất vật nuôi cây trồng đi
liền vói nó là phát triển công nghiệp nông thôn. Với các chương trình phát triển
nông nghiệp đạt được kết quả cao đã đưa Ấn Độ từ một nước phải nhập khẩu
lương thực trở thành một nước có thể tự cung cấp lương thực cho nhân dân cả
nước. Các vấn đề này đã được thể hiện ngay trong các kế hoạch ngắn hạn và dài
hạn với mục tiêu nâng cao chất lượng cuộc sống về mặt kinh tế văn hoá và xã hội
3.2.1.4 Giải quyết vấn đề nghèo đói ở Nhật Bản
Nhật Bản đã vươn lên là một nước cường quốc kinh tế, đời sống nhân dân
được nâng cao nhờ áp dụng một số biện pháp xoá đói giảm nghèo sau:
- Thực hiện quá trình dân chủ hoá sau chiến tranh nhằm tạo lập một nền
kinh tế thị trường bao gồm nhiều chủ thể, có sự bình đẳng tương đối trong sản
xuất kinh doanh, thực hiện dân chủ hoá lao động động.
- Xoá bỏ cơ sở gây ra sự phân hoá giàu nghèo, tạo lập mặt bằng bình đẳng
hơn cho xã hội. Đối với tài sản và đất đai thực hiện mục tiêu “ruộng đất cho dân
cày”.
- Can thiệp mạnh mẽ của nhà nước vào nền kinh tế thị trường, đảm bảo sự
phát triểm mục tiêu ưu tiên.
- Tập trung cao cho phát triển kinh tế, làm cơ sở để cải tạo, hỗ trợ cuộc
sống cho người nghèo, giảm phân hoá giàu nghèo và tạo nên sự can bằng trong xã
hội.
- Thực hiện chính sách cùng hưởng lợi từ tăng trưởng kinh tế.
- Thực hiện đánh thuế thu nhập nhằm giảm bớt chênh lệch trong thu nhập.
- Thực hiện các chính sách phúc lợi xã hội như: thông qua hệ thống bảo
hiểm rộng lớn trên các lĩnh vực, tương trợ công cụ, dịch vụ, phúc lợi bảo hiểm xã
hội….
3.2.2 Xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam
Trong những năm qua, tỷ lệ người nghèo ở nước ta có xu hướng giảm rõ
điều kiện cho người nghèo có tư liệu và phương tiện sản xuất, dịch vụ, nâng cao
thu nhập; tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản và mạng lưới an sinh xã hội; đảm bảo
xóa đói giảm nghèo bền vững. Chiến lược này chia làm 2 giai đoạn.
- Giai đoạn 2001 – 2005:
Chương trình mục tiêu quốc gia bao gồm các chính sách và dự án sau đây:
a) Các chính sách hỗ trợ cho người nghèo, hộ nghèo, xã nghèo, bao gồm:
hỗ trợ về y tế, về giáo dục, chính sách an sinh xã hội, miễn Thuế sử dụng đất nông
nghiệp, trợ giúp đối tượng nghèo về nhà ở, công cụ lao động và đất sản xuất.
b) Các dự án hỗ trợ trực tiếp xóa đói giảm nghèo gồm:
Nhóm các dự án xóa đói giảm nghèo chung:
Dự án Tín dụng cho hộ nghèo vay vấn để phát triển sản xuất, Kinh doanh;
Dự án hướng dẫn người nghèo cách làm ăn, khuyến nông, khuyến lâm,
khuyến ngư;
Dự án Xây dựng mô hình xóa đói giảm nghèo ở các vùng đặc thù (bãi
ngang ven biển, vùng cao, biên giới, hải đảo, vùng ATK, vùng sâu đồng bằng sông
Cửu Long).
Nhóm các dự án xóa đói giảm nghèo cho các xã nghèo (có 25% hộ nghèo
trở lên và chưa đủ cơ sở hạ tầng thiết yếu) không thuộc Chương trình 135:
Dự án xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu ở các xã nghèo (thủy lợi nhỏ,
trường học, trạm y ế, đường dân sinh, điện, nước sinh hoạt, chợ);
Dự án hỗ trợ sản xuất và phát triển ngành nghề các xã nghèo;
Dự án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác xóa đói giảm nghèo và cán
bộ các xã nghèo;
Dự án ổn định Dân di cư và xây dựng kinh tế mới ở các xã nghèo;
Dự án định canh, định cư ở các xã nghèo.
- Giai đoạn 2006 – 2010:
Có 1 chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo, chia làm 3 nhóm
chính sách
1. Nhóm chính sách, dự án để tạo điều kiện cho người nghèo phát triển sản
xuất, tăng thu nhập
bảo các điều kiện thiết yếu, nhà ở cho giáo viên ở các thôn, bản; xây dựng trường
dân tộc nội trú cho các huyện theo hướng liên thông với các cấp học ở huyện (có
cả hệ phổ thông trung học nội trú) để đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn cán bộ tại
chỗ cho các địa phương nghèo; tăng cường, mở rộng chính sách đào tạo ưu đãi
theo hình thức cử tuyển và theo địa chỉ cho học sinh người dân tộc thiểu số, ưu
tiên các chuyên ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, y tế, kế hoạch hóa gia đình, đào
tạo giáo viên thôn bản, trợ giúp pháp lý để nâng cao nhận thức pháp luật.
- Tăng cường dạy nghề gắn với tạo việc làm:
Đầu tư xây dựng mỗi huyện nghèo một cơ sở dạy nghề tổng hợp được
hưởng các chính sách ưu đãi có nhà ở nội trú cho học viên để tổ chức dạy nghề tại
chỗ cho lao động nông thôn về sản xuất nông, lâm, ngư, nghiệp, ngành nghề phi
nông nghiệp; dạy nghề tập trung để đưa lao động nông thôn đi làm việc tại các
doanh nghiệp và xuất khẩu lao động.
- Chính sách đào tạo cán bộ tại chỗ:
Đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên môn, cán bộ y tế, cơ sở cho con em ở các
huyện nghèo tại các trường đào tạo của bộ quốc phòng, ưu tiên tuyển chọn quân
nhân hoàn thành nghĩa vụ quân sự là người của địa phương để đào tạo, bổ sung
cán bộ của địa phương.
- Chính sách đào tạo, nâng cao nhân lực cho đội ngũ cán bộ cơ sở:
Tổ chức tập huấn, đào tạo ngắn hạn, dài hạn cho đội ngũ cán bộ cơ sở thôn,
bản, xã, huyện về kiến thức quản lý kinh tê xã hội; xây dựng và quản lý chương
trình dự án; kỹ năng xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch.
- Tăng cường nguồn lực thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hóa
gia đình.
Đẩy mạnh công tác truyền thông, vận động kết hợp cung cấp các dịch vụ
kế hoạch hóa gia đình để nâng cao chất lượng dân số của các huyện nghèo.
- Chính sách tăng cường và luân chuyển cán bộ tỉnh huyện về xã:
Các cán bộ này đảm nhận các cương vị lãnh đạo chủ chốt để tổ chức, triển
khai, thực hiện cơ chế, chính sách đối với các huyện nghèo; thực hiện chế độ trợ
cấp ban đầu đối với cán bộ thuộc diện luân chuyển; có chế độ tiền lương, phụ cấp
khăn cũng đang mang lại hiệu quả thiết thực. Ngân hàng Chính Sách Xã Hội còn
có 597 phòng giao dịch ở các quận huyện và hàng ngàn điểm giao dịch tại các xã,
phường. HSSV có thể đến các phòng giao dịch ở quận huyện nơi đang theo học tại
các trường ĐH, CĐ để làm thủ tục vay vốn ưu đãi.
Năm 2007, 5 triệu lượt học sinh nghèo được miễn giảm học phí, năm học
2007-2008 có hơn 750.000 học sinh, sinh viên đã được vay vốn học tập gần 5.169
tỷ đồng. Trong đó, số hộ nghèo chiếm hơn 14%, hộ cận nghèo là 67%, hộ khó
khăn gần 15%. Theo đánh giá của Ngân hàng Chính sách xã hội, sau hai năm thực
hiện quyết định 157 của Thủ tướng Chính phủ về tín dụng đào tạo, đối tượng và
chính sách ưu đãi được mở rộng hơn, số tiền cho vay của chương trình đã tăng 47
lần so với chín năm trước đó. Số học sinh sinh viên có hoàn cảnh khó khăn được
thụ hưởng cũng đã tăng gấp 14 lần.
- Hỗ trợ về nhà ở và nước sạch
Cung cấp cho người nghèo đặc biệt là dân tộc thiểu số về nhà ở và nước
sạch để xóa đói giảm nghèo bền vững. Chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà
ở, nước sinh hoạt cho đồng bào dân tộc thiểu số.
Về nhà ở: Mức giao diện tích đất ở tối thiểu 200 m
2
cho mỗi hộ đồng bào
sống ở nông thôn. Căn cứ quỹ đất ở và khả năng ngân sách của địa phương. Ngân
sách TW hỗ trợ với mức 5 triệu đồng/hộ để làm nhà ở. Căn cứ tình hình và khả
năng ngân sách, các địa phương hỗ trợ thêm và huy động sự giúp đỡ của cộng
đồng.
Về nước sạch: Đối với các hộ đồng bào dân tộc ở phân tán vùng cao, núi
đá, khu vực khó khăn về nguồn nước sinh hoạt thì Ngân sách TW hỗ trợ 0,5 tấn xi
măng/ hộ để xây dựng bể chứa nước mưa hoặc hỗ trợ 300.000 đồng/hộ để đào
giếng hoặc tạo nguồn nước sinh hoạt. Còn đối với công trình cấp nước sinh hoạt
tập trung: ngân sách trung ương hỗ trợ 100% cho các thôn, bản có từ 50% số hộ là
đồng bào dân tộc thiểu số trở lên hỗ trợ 50% đối với các thôn, bản có từ 20% đến
dưới 50% số hộ đồng bào dân tộc thiểu số. Các địa phương khi xây dựng các công
Nguồn : Ngân hàng chính sách xã hội
Đối với các hộ nghèo thuộc khu vực III và các xã đặc biệt khó khăn, chính
phủ quy định mức lãi suất riêng, thường thấp hơn so với lãi suất áp dụng cho hộ
nghèo chung. Hiện nay, áp dụng một mức lãi suất thống nhất là 0.65%/tháng.
Theo quyết định số 579/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, người nghèo
có thể vay vốn tại Ngân hàng Chính sách xã hội với lãi suất 0%, mức hỗ trợ lãi
suất cho các đối tượng chính sách sẽ là 4% một năm, tính trên số tiền vay và thời
hạn cho vay thực tế tại Ngân hàng Chính sách xã hội thuộc các chương trình có lãi
suất đang thực hiện lớn hơn 4%/năm. Ngoài ra, các đối tượng chính sách còn được
hỗ trợ toàn bộ lãi suất vay đối với các khoản vay tại ngân hàng thuộc các chương
trình có lãi suất đang thực hiện nhỏ hơn hoặc bằng 4% mỗi năm thì được áp dụng
lãi suất vay mới 0% một năm).
Hạn mức cho vay cũng được điều chỉnh theo hướng tăng thêm về lượng,
nhằm đáp ứng đủ nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh của người nghèo. Năm
2005, hạn mức cho vay là 15 triệu đồng, đến năm 2007 đã nâng lên 30 triệu đồng,
hiện nay là 50 triệu đồng.
Chính sách hỗ trợ đất sản xuất cho các hộ dân tộc thiểu số nghèo: Đối
tượng được hưởng chính sách là hộ đồng bào dân tộc thiểu số có hộ khẩu thường
trú tại địa phương, là hộ nghèo sinh sống bằng nghề nông, lâm nghiệp chưa có
hoặc chưa có đủ đất sản xuất, đất ở và có khó khăn về nhà ở, nước sinh hoạt.
Sau 04 năm thực hiện Quyết định trên và rà soát lại đối tượng thụ hưởng,
ngày 12/10/2009, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1592/QĐ-TTg về
việc tiếp tục thực hiện một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước
sinh hoạt đến năm 2010 cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó
khăn. Theo đó, Nhà nước tiếp tục thực hiện một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất,
đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt đến năm 2010 cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số
nghèo, đời sống khó khăn để phát triển sản xuất, ổn định và cải thiện cuộc sống.
Đối tượng được thụ hưởng chính sách này là hộ đồng bào dân tộc thiểu số theo
tiêu chí hộ nghèo hiện hành sinh sống bằng nghề nông, lâm nghiệp chưa có hoặc
chưa đủ đất sản xuất; chưa có đất ở, có khó khăn về nhà ở và nước sinh hoạt, chưa
trình 135. Chính sách hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng phải đảm bảo 2 nội dung hỗ
trợ:
- Thứ nhất: Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng ở các xã đặc biệt khó khăn.
Quá trình này phải mang lại cho xã các công trình phục vụ nhân dân, dân có việc
làm tăng thêm thu nhập từ lao động xây dựng các công trình ở xã.
- Thứ hai: Người dân được trực tiếp tham gia vào quá trình đầu tư,
quản lý và khai thác công trình, từ đó nâng cao quyền lợi và trách nhiệm. Nhà
nước hỗ trợ kinh phí đầu tư kết hợp với huy động nguồn lực trong dân để xây
dựng hệ thống cơ sở hạ tầng ở xã.
Cùng với việc ban hành Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP, Chính phủ đã ban
hành nhiều chính sách nhằm hỗ trợ đầu tư các dự án thuộc Chương trình phát triển
kinh tế-xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi
giai đoạn 2006-2010 (Chương trình 135 giai đoạn II). Đây là những quyết sách có
ý nghĩa quan trọng góp phần hỗ trợ giảm nghèo cho các xã đặc biệt khó khăn.
Đối với các thôn bản đặc biệt khó khăn thuộc các xã khu vực II, định mức
đầu tư các hợp phần cơ sở hạ tầng và hỗ trợ phát triển sản xuất được tăng lên mức
200 triệu đồng/thôn, bản/năm và 50 triệu đồng/thôn, bản/năm so với trước đây ở
mức 150 triệu đồng/thôn, bản/năm và 30 triệu đồng/thôn, bản/năm (Quyết định
101/2009/QĐ-TTg).
Tương tự, đối với các xã thuộc Chương trình 135, định mức đầu tư hợp
phần cơ sở hạ tầng được nâng lên 1 tỷ đồng/năm/xã, so với mức 800 triệu
đồng/năm/xã trước đây; dự án hỗ trợ phát triển sản xuất cũng được nâng lên mức
300 triệu đồng/xã/năm, so với mức cũ 200 triệu đồng/xã/năm; dự án đào tạo cán
bộ xã, cộng đồng vẫn giữ nguyên mức là 60 triệu đồng/xã/năm.
Trong 4 năm triển khai Chương trình 135 giai đoạn II, hầu hết các tỉnh đều
đã thực hiện dự án phát triển cơ sở hạ tầng khá tốt, lựa chọn công trình đúng quy
hoạch, hợp lòng dân. Dự án hỗ trợ phát triển sản xuất đã tạo điều kiện tích cực cho
đồng bào các dân tộc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, tiếp thu và áp dụng
các kiến thức khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp, từng bước thay đổi tập
quán sản xuất lạc hậu, quy mô sản xuất được mở rộng, các ngành nghề, dịch vụ,
khâu từ lựa chọn công trình đầu tư, thực hiện, giám sát đều còn mang tính hình
thức, chưa thực sự có sự tham gia của người dân trong đó.
- Công tác vận hành, bảo dưỡng các công trình chưa được coi trọng. Tình
trạng công trình sau nghiệm thu bàn giao được đưa vào sử dụng thì nhanh xuống
cấp nên hiệu quả sử dụng thấp.
4.2.5 Hỗ trợ đầu tư phát triển tổ chức và thể chế cộng đồng
Đầu tư phát triển các Tổ tự quản giảm nghèo. Xây dựng các thể chế cộng
đồng tự quản theo phương châm khuyến khích sự chủ động cùng tham gia. Xây
dựng những thể chế nhằm phát huy sức mạnh cộng đồng nông thôn như các HTX
kiểu mới, các tổ chức nghề nghiệp của nông dân. Tiếp tục phát huy hiệu quả hoạt
động của các tổ chức xã hội tự nguyện trong cộng đồng, của hộ nghèo như nhóm
tiết kiệm, tín dụng, nhóm tương trợ, nhóm sở thích, câu lạc bộ, nhóm tự quản sử
dụng nước sạch, giao thông, thủy lợi động viên cộng đồng hỗ trợ, chia sẻ cho
những hộ có hoàn cảnh khó khăn. Người nghèo, hộ nghèo bước đầu nhận thức
được nhu cầu, quyền lợi và trách nhiệm của mình; chủ động tham gia vào quá
trình giảm nghèo của chính mình;trình độ dân trí, tính dân chủ được nâng lên; tính
cộng đồng ngày càng mở rộng; quan hệ giữa các dân tộc được vun đắp, tô bồi. Từ
đó tạo thêm sự gắn bó trong cộng đồng dân cư, đậm đà thêm tình làng nghĩa xóm;
tác động tích cực đối với phong trào xóa đói giảm nghèo.
4.3 Bài học kinh nghiệm
Sự nghiệp xóa đói giảm nghèo là của toàn Đảng, toàn dân. Do đó, cần có sự
nỗ lực của tất cả mọi người, trước hết là những cơ quan tổ chức chịu trách nhiệm
trong các chủ trương, chính sách đó. Nâng cao và thống nhất về nhận thức trách
nhiệm của các cấp ủy Đảng chính quyền từ Trung ương đến cơ sở, từ các cấp lãnh
đạo đến quần chúng nhân dân.