TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HCM
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
BÀI THUYẾT TRÌNH
Đề tài:
TP.HCM, ngày 28-09-09
Mục Lục
I. Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm
1. Thế giới
Chủ nghĩa Mác - Lênin là sự tiếp nối và phát triển những tư tưởng giải phóng con
người của nhân loại. Nó đã trở thành vũ khí tư tưởng của giai cấp vô sản đấu tranh chống
chủ nghĩa tư bản và xây dựng xã hội mới - xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Được
học thuyết khoa học và cách mạng soi đường, phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản các
nước trên thế giới đã phát triển mạnh mẽ, dẫn đến sự ra đời của các Đảng Cộng sản như:
Đảng xã hội - dân chủ Nga được thành lập (1903); Đảng Cộng sản Pháp được thành lập
(1920); Đảng Cộng sản Trung Quốc ra đời (1921)
Năm 1917, Đảng Cộng sản Bônsêvích Nga đã lãnh đạo cuộc Cách mạng Tháng Mười
Nga thành công. Cách mạng Tháng Mười Nga là bằng chứng khẳng định giá trị thực tiễn
của chủ nghĩa Mác - Lênin, đồng thời cũng báo hiệu thời kỳ đấu tranh giành thắng lợi của
giai cấp vô sản thế giới bắt đầu.
Năm 1919, Quốc tế III - Bộ Tham mưu của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế
được thành lập. Quốc tế III đã quan tâm đến cách mạng thuộc địa. Bản Sơ thảo lần thứ
nhất luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin đã tác động trực tiếp đến
phong trào giải phóng dân tộc ở các thuộc địa. Đối với Nguyễn Ái Quốc, Sơ thảo lần thứ
nhất luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin là bước tiến nhảy vọt và
dứt khoát trong nhận thức tư tưởng của Người. Người quyết định chọn chủ nghĩa Mác -
Lênin làm hệ tư tưởng cứu nước. Như vậy, thời đại đã mở ra điều kiện mới - cả tư tưởng
chính trị và cả tổ chức cho việc thành lập Đảng Cộng sản ở các nước. Chính thời đại cũng
dẫn dắt phong trào cách mạng các dân tộc trên thế giới đi vào quỹ đạo chung của cách
mạng vô sản.
2. Việt Nam
hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa xã hội, lợi ích của dân tộc với lợi ích của giai cấp
vô sản phải gắn bó với nhau. Thực hiện nhiệm vụ giải phóng dân tộc đều phải giải quyết
trên cơ sở quan điểm cách mạng vô sản để đưa cách mạng giải phóng dân tộc tiến lên cách
mạng xã hội chủ nghĩa. Cách mạng giải phóng dân tộc chuẩn bị cho cách mạng xã hội chủ
nghĩa. Cách mạng xã hội chủ nghĩa chi phối cách mạng giải
phóng dân tộc.
Cách mạng phải triệt để, tích cực, chủ động và sáng tạo. Tác giả đưa dẫn chứng các
cuộc cách mạng trên thế giới để đi đến khẳng định rằng, cách mạng Việt Nam phải giành
thắng lợi triệt để: “Muốn cách mệnh thành công thì phải dân chúng (công nông) làm gốc,
phải có Đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh; phải thống nhất. Nói tóm lại là phải
theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin”. Cách mạng phải độc lập và sáng tạo, tự lực, tự
cường, không ỷ lại ngồi chờ; phải tích cực tấn công, chủ động tiến công, quyết giành
thắng lợi. Biết tranh thủ sự giúp đỡ của cách mạng thế giới, nhưng cũng phải có đóng góp
cho cách mạng thế giới, cùng cách mạng thế giới đạp đổ chủ nghĩa đế quốc tư bản, xây
dựng chủ nghĩa xã hội.
Những tư tưởng cơ bản trên đã nâng giá trị của tác phẩm lên tầm cao.
2. Nội dung của tác phẩm
a. Tư cách một người kách mệnh : Đây là nội dung quan trọng nhất, Hồ Chí Minh đã nêu
ra những biểu hiện cụ thể về tư cách của một người cách mạng.
Trong tác phẩm “Đường cách mệnh” (1927) Hồ Chí Minh chỉ rõ: Muốn làm cách
mạng thành công, người cách mạng trước hết phải có tư cách cách mạng. Tư cách của
người cán bộ cách mạng là sự thống nhất biện chứng 3 mối quan hệ cơ bản nhất của con
người: quan hệ với mình, quan hệ với mọi người và quan hệ với công việc. Tự mình phải:
cần, kiệm, hòa mà không tư, cả quyết sửa chữa lỗi mình, cẩn thận mà không nhút nhát;
hay hỏi, nhẫn nại (chịu khó); hay nghiên cứu xem xét, vị công vong tư, không hiếu danh,
không kiêu ngạo, nói thì phải làm, giữ chủ nghĩa cho vững, hy sinh, ít lòng tham muốn về
vật chất; bí mật. Đối với người phải: với từng người thì khoan thứ, với đoàn thể thì
nghiêm, có lòng bày vẽ cho người. Trực mà không táo bạo, hay xem xét người. Làm việc
phải: xem xét hoàn cảnh kỹ càng, quyết đoán, dũng cảm, phục tùng đoàn thể”. Hồ Chí
Minh khẳng định: Cũng như sông có nguồn thì mới có nước, không có nguồn thì sông cạn.
hai chân của một người. “Cần” mà không “kiệm” “thì làm chừng nào xào chừng ấy”, cũng
như một cái thùng không đáy, nước đổ vào chừng nào, chảy ra hết chừng ấy, không lại
hoàn không. Kiệm mà không cần, thì không tăng thêm, không phát triển được. .Ví dụ ở
trang 446 tác giả viết “10 người muốn ăn cơm, mỗi người riêng một nồi, nấu riêng một
bếp, nấu rồi ăn riêng, ăn rồi ai nấy dọn dẹp riêng của người nấy, thế thì mất hết bao nhiêu
củi, nước, công phu và thì giờ”
Trong tác phẩm “Đường cách mệnh”, ở (Trang 437) tác giả có viết thực hành tiết
kiệm bằng cách: Khi tổ chức Công hội có tiền thừa, thì nên làm những việc như lập trường
học cho công nhân, con cháu công nhân, lập nơi xem sách báo, nhà thương, nhà ngủ, nhà
hát
Hòa mà không tư có nghĩa là đoàn kết với mọi người vì sự nghiệp chung, không vì một lợi
ích riêng tư nào. Nói như vậy không có nghĩa là không quan tâm đến lợi ích riêng, bởi vì
Bác Hồ quan niệm trong lợi ích chung có lợi ích riêng của mỗi người. Trong “Tổ chức
công hội” có viết ở trang 436 “Đại biểu phải báo cáo tình trạng và ý kiến của công nhân
không phải ý kiến riêng mình, đề nghị và bàn bạc các việc. Khai hội rồi, phải về báo cáo
việc hội cho công nhân”. Đó là tấm gương đoàn kết chí công vô tư cao thượng và đúng
đắn. Chúng ta đều biết Chủ tịch Hồ Chí Minh là một người uyên thâm Nho học. Phải
chăng "hòa mà không tư" gần với mệnh đề Nho giáo "thân với mọi người mà không kết
đảng, hòa hợp với mọi người mà không a dua" song được Người nâng lên ở tầm cao mới,
đó là hướng sức mạnh đại đoàn kết, hướng hành động đoàn kết với mọi người vì sự nghiệp
giải phóng dân tộc và xây dựng nước nhà giàu mạnh. Sự nghiệp chung mà có lúc Người
gọi là nghĩa lớn đó là độc lập cho Tổ quốc, tự do hạnh phúc cho nhân dân. Người coi đó là
mục đích cao cả của sự đoàn kết và theo Người thì mục đích có đồng thì chí mới đồng, chí
có đồng tâm mới đồng, tâm đã đồng thì làm mới chóng. Chỉ có hướng sự đoàn kết vì đại
nghĩa mới tập hợp được đông đảo nhất quần chúng nhân dân. Chí đồng, tâm đồng chính là
hai điều kiện bảo đảm cho sự đoàn kết chặt chẽ. Trong lịch sử nước ta đã từng có những
tấm gương gác hận thù riêng vì đại nghĩa, vì lợi ích sống còn của dân tộc, vì nền độc lập
của Tổ quốc. Bản thân cuộc đời Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng quên mình vì đại
nghĩa "Cả cuộc đời tôi chỉ có một mục đích là phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc và
hạnh phúc của nhân dân". Nhờ gương cao nghĩa lớn ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thuyết
tạo xã hội làm sao được”.
- Cẩn thận mà không nhút nhát: Làm việc gì cũng phải suy nghĩ cẩn thận, nhưng cẩn thận
ở đây không có nghĩa là quá nhút nhát, không dám đương đầu với khó khăn gian khổ đồng
thời phải xem xét hoàn cảnh thực tế rồi mới hành động khi có thời cơ thuận lợi thì phải
mạnh dạn, dũng cảm, quyết đoán, có như vậy thì mới đem lại kết quả.
- Hay hỏi: Người cách mệnh luôn phải tự mình đặt ra những câu hỏi cần phải làm gì và
làm như thế nào, bên cạnh đó cần phải học hỏi, tiếp thu ý kiến của người khác không dấu
dốt. Thể hiện tinh thần cầu thị, cầu tiến bộ của người cách mạng. Phải nỗ lực học tập mọi
lúc mọi nơi, học thầy học bạn, để nâng cao trình độ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng
giao cho, không dấu diếm khuyết điểm, không dấu dốt.
- Nhẫn nại: Cách mạng là sự nghiệp lớn lao và luôn diễn ra trong hoàn cảnh khó khăn vì
vậy đòi hỏi người cách mệnh phải kiên trì bền bỉ chịu đựng những khó khăn trong công
việc, đây là một đức tính rất quan trọng và cần thiết để giành được thắng lợi cuối cùng.
Hay nghiên cứu xem xét : Khi làm cách mạng đòi hỏi phải xem xét, nghiên cứu các cuộc
cách mạng trên thế giới. Qua đó Hồ Chí Minh thấy rằng cuộc cách mạng tháng 10 Nga là
đã thành công và thành công đến nơi nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do,
bình đẳng thật không phải tự do bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe
khoang bên An Nam. Cách mệnh Nga đã đuổi được vua, tư bản, địa chủ rồi, lại ra sức cho
công, nông các nước và dân bị áp bức ở các thuộc địa làm cách mệnh để đập đổ tất cả đế
quốc chủ nghĩa và tư bản trong thế giới. Cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng muốn cách
mệnh thành công thì phải lấy dân chúng làm gốc, phải có Đảng vững bền, phải bền gan,
phải hy sinh, phải thống nhất.
- Vị công vong tư: Là luôn đặt lợi ích của tập thể lên trên lợi ích của cá nhân vì lợi ích của
tập thể có thể hi sinh lợi ích của bản thân. Đây là một trong những đức tính tạo nên phẩm
chất cao quý của người cách mệnh.
Không hiếu danh, không kiêu ngạo: yêu cầu người cách mạng phải hết sức khiêm tốn,
phải phục tùng sự phân công của tổ chức, không hiếu dân, hiếu vị, không lên mặt dạy đời;
không coi thường cấp dưới, không nịn nọt cấp trên, không chạy theo danh lợi cá nhân mà
phải đặt lợi ích chung của tập thể, mục tiêu vì sự nghiệp cách mạng lên trên, không vì lợi
ích cá nhân mà ảnh hưởng đến lợi ích của tập thể. Có đạo đức cách mạng thì gặp khó khăn
công việc là thước đo của mỗi người. Với các cán bộ, đảng viên và những người làm công
tác lãnh đạo thì lời nói với việc làm lại càng quan trọng và cần thiết, vì cán bộ là gốc của
mọi công việc, là những tấm gương để quần chúng noi theo.
Lời nói đi đôi với việc làm, nói được làm được, sẽ mang lại những hiệu quả lớn, được
nhiều người hưởng ứng và làm theo. Để làm được điều đó, khi đề ra công việc tránh cách
nói chung chung, đại khái và khó hiểu, cần phải cụ thể, thiết thực, từ nhỏ đến lớn, từ thấp
đến cao, từ dễ đến khó. Ngược lại nói nhiều làm ít hoặc nói mà không làm thì sẽ chỉ mang
lại những kết quả phản tác dụng. Nếu chính mình tham ô mà bảo người khác liêm khiết thì
không được. Nếu rói rằng phải cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, mà bản thân mình lại
lười biếng, không hoàn thành những công việc được giao, không tiết kiệm, sống hoang
phí, xa hoa trong khi cuộc sống của đại đa số nhân dân còn nhiều thiếu thốn , luôn tìm
cách tham ô tiền của Nhà nước và nhân dân thì những lời nói đó sẽ không có tác dụng
giáo dục.
Để có một xã hội ngày càng tốt đẹp, nhân dân thực sự được hưởng một cuộc sống ấm
no, hạnh phúc, đất nước ngày càng mạnh giàu, hơn lúc nào hết lối sống mình vì mọi
người, mọi người vì mình, phương châm và nguyên tắc sống "Nói thì phải làm" cần phải
được thực hiện rộng rãi trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Làm đựơc như vậy là chúng
ta đã làm tốt những điều mà lúc còn sống Bác Hồ luôn mong muốn và căn dặn.
- Giữ chủ nghĩa cho vững: là phẩm chất hàng đầu, là yêu cầu cốt yếu nhất của người cách
mạng. Đó là phải giác ngộ chủ nghĩa Mác – Lênin, suốt đời trung thành, kiên định với lý
tưởng cách mạng. Có như vậy mới xây dựng được niềm tin vững chắc vào tương lai tươi
sáng của cách mạng, không dao động trước khó khắn gian khổ, thậm chí hi sinh cả tính
mạng mình.
Hồ Chí Minh khẳng định: "Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong Đảng ai
cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như
người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam". Người khẳng định dứt khoát: "Bây
giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất,
cách mạng nhất là chủ nghĩa Lê-nin". Trong tình hình hiện nay càng phải khẳng định niềm
tin đó. Nếu chúng ta để mất niềm tin sẽ mất tất cả.
Trong sự nghiệp cách mạng các thế lực thù địch luôn tìm cách chống phá, xuyên tạc chủ
- Có lòng bày vẻ cho người: thể hiện lòng vị tha, những gì mình biết người khác chưa
hiểu phải luôn tìm cách giúp đỡ , bày vẽ để cùng tiến bộ và hoàn thành nhiệm vụ chung.
Có lòng bày vẽ cho người hoàn toàn khác với thói ích kỷ, tự cao tự đại.
- Trực mà không táo bạo: phẩm chất thẳng thắn, trung thực, quyết đoán nhưng không vội
vàng hấp tấp khi giải quyết công việc nhất là khi góp ý cho người khác phải nghiên cứu,
phải xem xét hoàn cảnh cụ thể, toàn diện, đúng mức. Tránh chủ quan, phiến diện, nóng vội
dễ dẫn đến thất bại.
- Hãy xem xét người: thể hiện tinh thần tập thể cao, đồng thời phải thường xuyên quan
tâm giúp đỡ, sống chan hòa, thân ái với đồng chí đồng đội luôn học hỏi lẫn nhau những
điều hay, điều tốt, góp ý chân thành những thiếu sót, khuyết điểm cùng nhau sửa chữa,
cùng tiến bộ.
Làm việc phải:
- Xem xét hoàn cảnh kĩ càng: trước khi thực hiện công việc phải nghiên cứu, phải đánh giá
điều kiện khách quan chủ quan, thuận lợi, khó khăn, khả năng tổ chức thực hiện để có
quyết định đúng đắn: tránh vội vàng, chủ quan phiến diện sẽ dẫn đến thất bại.
Trước sự áp bức bóc lột của thực dân Pháp, tác giả quyết định ra đi tìm đường cứu nước,
Người nhận ra để được tự do cần phải lãnh đạo toàn dân đoàn kết chống giặc để làm được
điều đó phải làm cách mệnh. Vậy cách mệnh trước hết là phải làm cho dân giác ngộ, phải
giảng giải lí luận và chủ nghĩa cho dân hiểu, dân vì không hiểu tình thế trong thế giới,
không biết so sánh, không có mưu chước, chưa nên làm đã làm, khi nên làm lại không
làm. Cách mệnh phải hiểu phong triều, phải bầy sách lược cho dân. Do đó để làm cách
mệnh thành công phải xem xét hoàn cảnh trong và ngoài nước để từ đó tập trung lực
lượng đánh giặc. Khi vừa lấy được Pari, chính quyền còn non trẻ, các thế lực phản cách
mạng tìm mọi âm mưu thủ đoạn để chống phá, trong hoàn cảnh đó công xã không xem xét
kĩ càng, đúng đắn, tổ chức không khéo léo đưa ra những quyết đoán sai lầm, dẫn đến việc
công xã Pari tan rã.
- Quyết đoán: : thể hiện tác phong, phương pháp giải quyết công việc một cách dứt khoát.
Khi đã nhận nhiệm vụ cách mạng giao cho thì phải kiên quyết tìm mọi cách thực hiện;
không rụt rè, bàn lùi, thoái chí sẽ dẫn đến thất bại, việc tốt, việc hay, việc có lợi cho cách
mạng thì dù nhỏ cũng kiên quyết làm; việc xấu việc sai, dù có đem lại lợi ích cho bản thân
thức tổ chức nghiêm. Người chỉ rõ: “Đảng ta tuy nhiều người, nhưng khi tiến đánh thì chỉ
như một người. Đó là nhờ có kỷ luật. Kỷ luật của ta là kỷ luật sắt, nghĩa là nghiêm túc và
tự giác”. Người đòi hỏi mỗi đảng viên cần phải làm kiểu mẫu về phục tùng kỷ luật, chẳng
những kỷ luật của Đảng mà cả kỷ luật của các đoàn thể nhân dân và của cơ quan chính
quyền. Trong giáo dục ý thức tổ chức kỷ luật, người yêu cầu mọi đảng viên phải ra sức
góp phần xây dựng và giữ vững sự đoàn kết nhất trí trong Đảng. Bởi lẽ, đoàn kết là sức
mạnh, là then chốt của thành công. "Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai
cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã
đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến
thắng lợi khác". Do đó, tất cả cán bộ, đảng viên, dù ở cương vị khác nhau, làm công tác
khác nhau, cũng đều phải đoàn kết nhất trí để làm tròn nhiệm vụ, "giữ gìn sự đoàn kết nhất
trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình".
Vô luận lúc nào, vô luận việc gì, đảng viên và cán bộ phải đặt lợi ích của Đảng, của tập
thể trước lợi ích của cá nhân. Đó là nguyên tắc cao nhất của Đảng. Trong một số trường
hợp cá nhân phải biết hi sinh lợi ích của bản thân vì lợi ích của tập thể.
Tóm lại: “Tư cách của một người cách mệnh” là phác thảo cơ bản và hoàn chỉnh đầu
tiên về đạo đức để người cách mạng có đủ uy tín tập hợp và lãnh đạo quần chúng. Đó là sự
kết hợp nhuần nhuyễn giữa tinh thần cách mạng tiên tiến, triệt để của giai cấp công nhân
và truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc Việt Nam đã được hun đúc qua hàng ngàn năn
dựng nước và giữ nước.
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng. chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chú ý đúc kết
và hoàn thiện đạo đức cách mạng để giáo dục rèn luyện cán bộ, đảng viên, mà chính
Người là hiện thân mẫu mực của đạo đức đó. So với những phẩm chất đạo đức nêu trong
“Đường cách mệnh” thì phẩm chất đạo đức của cán bộ đảng viên trong thời đại Hồ Chí
Minh đã kế thừa và phát triển lên tầm cao mới, sâu sắc hơn, đáp ứng được yêu cầu của
từng giai đoạn cách mạng và phù hợp với trình độ của Đảng viên đã được rèn luyện, thử
thách qua đấu tranh cách mạng và nó tạo thành khuôn mẫu đạo đức chung của khuôn mẫu
đảng viên.
Tác phẩm “Đường cách mệnh” vạch ra tư cách đạo đức người cách mệnh, Đặc
biệt, Đường Cách Mệnh còn đặt những viên gạch đầu tiên làm nền móng xây dựng giá
- Lênin về đạo đức của người cách mệnh. “Tư cách người cách mệnh” đã dễ dàng chinh
phục lòng người, tiếp thêm sức mạnh và định hướng phấn đấu cho tất cả những ai yêu
nước, thương nòi, muốn giải phóng quê hương xứ sở ra khỏi mọi áp bức bóc lột, xây dựng
đất nước theo hướng dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh. Chủ tịch Hồ Chí
Minh còn chỉ rõ những biện pháp thiết thực để mỗi đảng viên cộng sản phấn đấu, rèn
luyện, tu dưỡng nhân cách của mình. Trước hết, mỗi đảng viên phải ra sức tu dưỡng, rèn
luyện để nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Nếu để cho chủ nghĩa
cá nhân ám ảnh, chi phối, người đảng viên sẽ mất dần tư cách, đi tới tự tước bỏ danh hiệu
cao quý của mình. Vì vậy, muốn giữ được tư cách, đảng viên nhất thiết "phải ra sức học
tập, tu dưỡng, tự cải tạo để tiến bộ mãi. Nếu không cố gắng để tiến bộ, thì tức là thoái bộ,
là lạc hậu sẽ bị xã hội tiến bộ sa thải".
“Tư cách người cách mệnh” có giá trị khoa học và giáo dục lớn đặt cơ sở cho đạo đức
học ở Việt Nam.
Nội dung 2: Con đường cách mạng Hồ Chí Minh nêu ra khái niệm cách mệnh.
Người đề cập đến 3 loại hình cách mệnh so sánh các loại hình ấy và rút ra kinh
nghiệm cho cách mạng Việt Nam từ đó Hồ Chí Minh đã xác định con đường mà cách
mạng Việt Nam phải theo; những nội dung mà cách mạng Việt Nam phải thực hiện.
1. Khái niệm cách mệnh.
“Cách mệnh là phá cái cũ đổi ra cái mới, phá cái xấu đổi ra cái tốt”.
Vd: ông Galile (1633) là khoa học cách mệnh. Ngày xưa ai cũng tưởng rằng giời tròn đất
vuông, nhân kinh nghiệm và trắc đạc, ông ấy mới quyết định rằng trái đất tròn và chạy
chung quanh mặt trời (trang 382).
2. Các loại cách mệnh.
Có ba loại hình cách mệnh:
- Tư bản cách mệnh như cách mệnh Pháp năm 1789, Mỹ cách mệnh độc lập năm 1776;
Nhật cách mệnh năm 1864.
- Dân tộc cách mệnh: Italia đuổi cường quyền Áo năm 1859; Tàu đuổi Mãn Thanh 1911.
- Giai cấp cách mệnh như công nông Nga đuổi tư bản và giành lấy chính quyền 1917.
So sánh các loại hình cách mệnh.
a) Nguyên nhân dẫn đến các cuộc cách mệnh .
b) Tính chất các loại hình cách mệnh.
Đối với tư bản cách mệnh: tiêu biểu là cách mệnh Mỹ và cách mệnh Pháp.
- Mỹ là một nước giàu có về tài nguyên. Anh thì có lòng tham, muốn hốt về cho mình cả
vì vậy có bao nhiêu thổ sản Mỹ phải cung cấp cho Anh hết Mỹ không được lập ra lò máy
và không được buôn bán với nước nào lại thêm thuế má nặng nề. Việc này như lửa rơi vào
thuốc súng, dân tức quá thì nổ, sống chết cũng quyết đuổi được chính phủ Anh thì thôi.
Kết quả ngày 4-7-1776 thì cách mệnh Mỹ tuyên bố độc lập và nước Mỹ thành ra nước
cộng hòa.
Tuy cách mệnh Mỹ thành công đã hơn 150 năm nay, nhưng công nông vẫn cứ cực khổ,
vẫn cứ lo tính cách mệnh lần thứ hai. Vì cách mệnh Mỹ là cách Mệnh tư bản, mà cách
mệnh tư bản là chưa phải cách mệnh đến nơi đó là cuộc cách mệnh chưa triệt để.
- Cách mệnh Pháp: hồi thế kỉ thứ 18, vua thì xa hoa dâm dật; quí tộc và bọn cố đạo thì
hoành hành; thuế nặng dịch phiền, dân tình khốn khổ. Tư bản mới bị tụi phong kiến ngăn
trở, dân thì bị vua, quí tộc và cố đạo áp bức. Vậy nên tư bản mới liên hiệp với học trò, dân
cày và người thợ để phá phong kiến. Từ năm 1792-1804 Cộng hòa lần thứ nhất. Năm 1804
Napoleong phản cách mệnh lên làm hoàng đế. Năm 1814 các nước đánh napoleong thua
rồi đem dòng vua cũ lên ngôi đến 1848. Năm 1848 lại cách mệnh lần thứ 2. Năm 1852
cháu Napoleong lại phản cách mệnh lên làm vua. Năm 1870 nhân thua Đức, Napoleong
thứ 3 bỏ chạy, Pháp lại lập nên cộng hòa lần thứ 3.
Công xã Pari: năm 1871 vua Pháp bỏ chạy, lính Đức tới vây Pa ri. Tư bản Pháp cắt hai
tỉnh cúng cho Đức để cầu hòa. Vì giặc giã mà chết nhiều người, hại nhiều của. Dân không
bánh ăn, thợ không công làm. Ngày 18-3 thợ thuyền Pa-ri nổi lên làm cách mệnh cộng sản
(công xã). Nhưng vị thợ thuyền còn non nớt, tổ chức không khéo, vả lại Đức giúp cho tư
bản Pháp đánh lại thợ thuyền, nên cuối tháng năm thì cách mệnh thất bại.
=> Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh
không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ kỳ thực trong thì nó tước lục công nông,
ngoài thì nó áp bức thuộc địa.
Đối với giai cấp cách mệnh và giai cấp cách mệnh: cách mạng Nga
- Nga là một nước rất rộng, nữa nằm về Châu Á, nữa nằm về Châu Âu. Dân Nga hơn 90
phần là dân cày không đầy 10 phần là thợ thuyền khi trước theo chế độ nông nô bao nhiêu
hành chủ nghĩa thế giới đại đồng.
=> Như vậy cách mệnh Nga đã thành công và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng
được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật không phải tự do và bình đẳng giả dối.
Giai cấp cách mệnh và dân tộc cách mệnh l;à những cuộc cách mệnh đến nơi, đến chốn,
nhân dân lao động được hưởng hạnh phúc.
c. Ý nghĩa, bài học kinh nghiệm các cuộc cách mệnh đối với cách mệnh An Nam.
− Cách mệnh Mỹ: chính sách Pháp đối với An Nam bây giờ xấu hơn Anh đối với Mỹ
trước. Anh chỉ ham tiền Mỹ, Pháp đã ham tiền lại làm mất nòi mất giống An Nam đi. Như
vậy dân An Nam phải học Mỹ mà làm cách mệnh.
+ Mỹ tuy rằng cách mệnh thành công nhưng công nông vẫn cứ cực khổ, vẫn cứ lo tính
cách mệnh lần hai vì cách mệnh Mỹ là cách mạng tư bản, là cuộc cách mệnh không triệt
để. Chúng ta đã hi sinh làm cách mạng thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là quyền phải giao
cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người. thế mới khỏi hi sinh nhiều lần,
thế dân chúng mới được hạnh phúc.
− Cách mạng Pháp: cách mệnh đã 4 lần rồi mà nay công nông Pháp hẳn phải còn mưu
cách mệnh lần nữa mới hòng thoát khỏi vòng áp bức. Cách mệnh An Nam nhớ điều ấy.
Cách mệnh Pháp dạy cho chúng ta :
+ Dân chúng công nông là gốc cách mệnh, tư bản là tước đoạt.
+ Cách mệnh thì phải có tổ chức rất vững bền thì mới thành công.
+ Đàn bà, trẻ con cũng giúp làm việc cách mệnh được nhiều.
+ Dân khí mạnh thì quân lính nào, súng ống nào cũng không chống lại.
+ Cách mệnh Pháp hi sinh rất nhiều người mà không sợ; ta muốn làm cách mệnh thì
không nên sợ phải hi sinh.
- Cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng muốc cách mệnh thì phải dân chúng (công nông)
làm gốc, phải có Đảng vững bền, phải bền gan, phải hi sinh, phải thống nhất. Nói tóm lại
là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin.
3. Con đường cách mệnh
Tác giả phân tích kỹ Cách mạng tư sản Pháp 1789, Cách mạng tư sản Mỹ 1776, Cách
mạng Tháng Mười Nga 1917 và chỉ ra kinh nghiệm lịch sử của các cuộc cách mạng này:
“Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không
người, bàn chỉ nam đối với con tàu. Làm cách mạng mà không có lý luận soi đường như đi
trong đêm tối mà không có đuốc, phải mò mẫm rất khó. Do đó phải có chủ nghĩa làm cốt,
trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy, Đảng mà không có chủ
nghĩa như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam”. “ bây giờ học thuyết
nhiều, chủ nghĩa nhiều nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất
là chủ nghĩa Lê- Nin” ( trang 388).
Như vậy Đảng cộng sản phải là tổ chức lãnh đạo cao nhất của phong trào cách
mạng, Đảng là điều kiện đầu tiên bảo đảm cho sự thắng lợi của cách mạng, vì Đảng là đội
quân tiên phong của giai cấp công nhân có vai trò lãnh đạo quần chúng nhân dân đứng lên
đấu tranh đánh đuổi đế quốc giành độc lập dân tộc và đánh đổ phong kiến giành dân chủ
nhân dân lập nên Nhà nước công nông.
- Về phương pháp cách mạng:
Nguyễn Ái Quốc khẳng định rằng, phương pháp cách mạng giữ vai trò hết sức quan
trọng. Đó là:
- Phải làm cho dân giác ngộ.
- Phải giảng giải lý luận và chủ nghĩa cho dân hiểu.
- Phải hiểu phong trào thế giới, phải bày sách lược cho dân.
- Phải đoàn kết toàn dân “Cách mệnh là việc chung cả dân chúng chứ không phải việc của
một hai người” “Đàn bà, trẻ con cũng giúp làm việc cách mệnh được nhiều. Dân khí
mạnh thì quân lính nào, súng ống nào cũng không chống lại”.
- Phải biết tổ chức dân chúng lại, tác giả nhấn mạnh vai trò của tổ chức: cách mạng phải
có tổ chức rất vững bền thì mới thành công. Tác giả đưa ra cách tổ chức quần chúng như
công hội, dân cày, hợp tác xã, thanh niên, phụ nữ, quốc tế cứu tế đỏ
- Phải giành chính quyền bằng bạo lực cách mạng của quần chúng, phải biết chọn thời cơ.
- Về lực lượng cách mạng:
Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cũng chỉ rõ: Đường cách mệnh nhấn mạnh tính chất và
nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam là cách mạng giải phóng dân tộc; lực lượng cách mạng
bao gồm “sỉ, nông, công, thương”, trong đó công nông là “chủ cách mệnh”, là “gốc cách
mệnh”, vì công nông bị áp bức nặng hơn, công nông là đông nhất cho nên sức mạnh hơn
hết, công nông là tay không chân rồi, nếu thua thì chỉ mất một cái kiếp khổ, nếu được thì
nhiệm, sự thống nhất của quan hệ này.
- Xác định rõ quan hệ cách mạng thuộc địa và cách mạng chính quốc là tác động qua
lại. Cách mạng thuộc địa không thụ động ngồi chờ cách mạng chính quốc.
Với những luận điểm trên, tác phẩm đã đặt nền tảng đúng đắn cho đường lối quốc tế
của đảng, và đặt cơ sở cho sự giúp đỡ của quốc tế trong thời kỳ thành lập Đảng.
Thấm nhuần tư tưởng trên của Hồ Chí Minh - qua tác phẩm Đường cách mệnh -
từ khi ra đời đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nêu cao vai trò tiên phong của mình,
luôn thể hiện là một đảng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của cả dân tộc
Việt Nam, luôn kiên định giữ vững lập trường của giai câp vô sản, lấy lý luận Mác - Lênin
làm nòng cốt.
III. Ý nghĩa của tác phẩm
1. Tác phẩm Đường cách mệnh có vai trò quan trọng trong việc chuẩn bị về tư tưởng,
chính trị, tổ chức cho sự thành lập chính Đảng cách mạng ở Việt Nam.
- Về tư tưởng: Tác phẩm có ý nghĩa giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ
Chí Minh cho cán bộ và đông đảo quần chúng nhân dân, nhằm xây dựng sự thống nhất
trong nhận thức tư tưởng, chuẩn bị thành lập Đảng.
Tác phẩm khắc phục tư tưởng sai lầm, ám sát cá nhân, chủ nghĩa cải lương, chủ nghĩa
quốc gia; xác lập hệ tư tưởng mới - tư tưởng của giai cấp công nhân.
- Về chính trị: Tác phẩm xây dựng lập trường, quan điểm của giai cấp công nhận cho
cán bộ và quần chúng công nông. Vạch ra được đường hướng cơ bản của cách mạng Việt
Nam, làm cơ sở cho việc xây dựng Cương lĩnh chính trị của Đảng.
Tác phẩm Đường cách mệnh ra đời đã chấm dứt cuộc khủng hoảng về đường lối của
cách mạng Việt Nam; thúc đẩy phong trào yêu nước, phong trào công nhân phát triển
mạnh mẽ .
- Về tổ chức: Đào tạo ra một lớp cán bộ cách mạng kiểu mới chuẩn bị cho việc thành
lập Đảng. Tác phẩm cũng đưa ra hệ thống tổ chức của Đảng và các tổ chức quần chúng