BÀI LUẬN ĐỀ TÀI: Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu rau quả Việt Nam sang thị trường Mỹ - Pdf 15

BÀI LUẬN

ĐỀ TÀI:

Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu rau quả Việt
Nam sang thị trường Mỹ
LỜI MỞ ĐẦU
Với ưu thế về điều kiện sinh thái và lao động, Việt Nam có tiềm năng lớn về
sản xuất các loại rau quả mà thị trường thế giới có nhu cầu như chuối, vải, dứa, xoài
nhãn, chôm chôm… và một số loại rau có giá trị kinh tế cao như dưa chuột, khoai tây,
cà chua, ngô rau… Những năm trước đây, khi còn thị trường Liên Xô và các nước
trong Hội đồng Tương trợ
Kinh tế (SEV), năm cao nhất Việt Nam đã xuất khẩu được
khối lượng rau quả tươi và rau quả chế biến trị giá 30 triệu Rúp chuyển nhượng. Từ
khi đất nước chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, do thị trường truyền thống bị thu hẹp,
thị trường mới còn đang trong giai đoạn thử nghiệm, chưa ổn định, hơn nữa chất

Do thời gian có hạn cùng với kiến thức và sự hi
ểu biết của nhóm về lĩnh vực xuất
nhập khẩu rộng lớn và phức tạp còn hạn chế, do vậy đề tài này không thể tránh khỏi
những khiếm khuyết. Nhóm rất mong nhận được sự đóng góp của cô để đề tài được
hoàn thiện hơn.
Nhóm xin chân thành cảm ơn cô! Chương I. Những vấn đề cơ bản về xuất khẩu rau quả ở Việt Nam và tầm quan
trọng của xuất khẩu sang thị trường Hoa kỳ.
I. Mối quan hệ thương mại Việt – Mỹ trong thời gian qua.
1. Những điều cơ bản về hiệp định thương mại Việt Mỹ
Hiệp Định thương mại Việt Mỹ được ký k
ết ngày 13/7/2000 là một sự kiện đánh dấu
bước phát triển tích cực của mối quan hệ song phương kể từ ngày hai quốc gia lập
quan hệ ngoại giao. Hiệp định dài gần 120 trang, gồm 7 chương với 72 điều và 9 phụ
lục, đề cập đến 4 nội dung chủ yếu:Thương mại hàng hoá, Thương mại dịch vụ, Sở
hữu trí tuệ và Quan hệ đầu tư.
Hiệp
định được xây dựng trên hai khái niệm quan trọng. Khái niệm “Tối huệ quốc”
(đồng nghĩa với Quan hệ Thương mại bình thường) mang ý nghĩa hai bên cam kết đối

từ 1/3 đến 1/2 ) đối với một loạt các sản phẩm được các nhà xuất khẩu Mỹ quan tâm
như các sản phẩm vệ sinh, phim, máy đ
iều hoà nhiệt độ, tủ lạnh, xe gắn máy, điện
thoại di động, video games, thịt cừu, bơ, khoai tây, cà chua, hành, tỏi, các loại rau
xanh khác, nho, táo và các loại hoa quả tươi khác, bột mỳ, đậu tương, dầu thực vật,
thịt và cá đã được chế biến, các loại nước hoa quả Việc cắt giảm thuế quan các mặt
hàng này được áp dụng dần dần trong giai đoạn 3 năm. Phía Mỹ thực hiệ
n cắt giảm
ngay theo quy định của Hiệp định song phương.
Những biện pháp phi quan thuế: Phía Mỹ, theo quy định của WTO sẽ không có những
rào cản phi quan thuế (trừ hạn ngạch đối với hàng dệt may); trong khi đó, Việt Nam
đồng ý loại bỏ tất cả các hạn chế về số lượng đối với một loạt các sản phẩm nông
nghiệp và công nghiệp (các linh kiện lắp ráp, thịt bò, các sản phẩm cam quýt ) trong
giai đoạn từ 3 -7 năm, phụ thuộc vào từng mặt hàng.
Cấp giấy phép nhập khẩu: Việt Nam sẽ loại bỏ tất cả các thủ tục cấp giấy phép một
cách tuỳ ý, và sẽ tuân thủ theo các quy định của Hiệp định WTO. Về việc định giá trị
đánh thuế hải quan và các khoản phí hải quan, Việt Nam cần tuân thủ các luật lệ của
WTO đối với việc định giá các giao dịch và định giá thuế hải quan, cũng như hạn chế
các khoản phí hải quan đánh vào các dịch vụ được thanh toán trong vòng 2 năm.Về
phía Mỹ, theo Luật Thương mại Mỹ, các công ty của Việt Nam và các nước khác đều
sẽ được cấp giấy phép hoạt động khi có yêu cầu.
Những thước đo về tiêu chuẩn kỹ thuật và vệ sinh an toàn thực phẩm: Hai bên cam kết
tuân th
ủ theo các tiêu chuẩn của WTO; các quy định về kỹ thuật, và những thước đo
về vệ sinh an toàn thực phẩm phải được áp dụng trên cơ sở đối xử quốc gia, và chỉ
được áp dụng trong chừng mực cần thiết để giải quyết những mục đích chính đáng
(bảo vệ con người, bảo vệ cuộc sống của động vật, sinh vật).
Mậu dịch qu
ốc doanh: Cần phải được thực thi theo các quy định của WTO (ví dụ, các
doanh nghiệp quốc doanh Việt Nam trước kia chỉ tiến hành các cuộc giao dịch theo

trong các liên doanh.
Các d
ịch vụ tư vấn quản lý: Chỉ thông qua các công ty liên doanh. 5 năm sau khi Hiệp
định có hiệu lực được phép lập các công ty 100% vốn Mỹ.
Các dịch vụ viễn thông: 1) Các dịch vụ viễn thông có giá trị gia tăng: liên doanh với
đối tác Việt Nam được phép kinh doanh dịch vụ viễn thông sau 2 năm (3 năm đối với
dịch vụ Internet), vốn của Mỹ không quá 50% vốn pháp định của liên doanh. 2) Các
dịch vụ viễn thông cơ bản (bao gồm mobile,cellular và vệ
tinh): liên doanh với đối tác
Việt Nam được phép kinh doanh dịch vụ viễn thông sau 4 năm, vốn đóng góp phía
Mỹ không quá 49% vốn pháp định của liên doanh. 3) Dịch vụ điện thoại cố định: liên
doanh với đối tác Việt Nam được phép kinh doanh dịch vụ viễn thông sau 6 năm, vốn
đóng góp của phía Mỹ không quá 49% vốn pháp định của liên doanh. Phía Việt Nam
có thể xem xét những yêu cầu tăng vốn đóng góp từ phía Mỹ khi Hiệp định này được
xem xét lại sau 3 năm.
Các dịch vụ nghe nhìn: Bao gồm các dịch vụ sản xuất và phân phối phim, các dịch vụ
chiếu phim. Liên doanh với đối tác Việt Nam được phép kinh doanh dịch vụ nghe
nhìn, vốn đóng góp phía Mỹ không quá 49% và sau 5 năm hạn chế về vốn này sẽ là
51%.
Các dịch vụ xây dựng và các dịch vụ kỹ thuật đồng bộ có liên quan: Cho phép công ty
100% vốn Mỹ. Có thể cung cấp các dịch vụ cho các công ty có vốn đầu tư nước ngoài
trong 3 năm đầu tiên, sau đó không hạn chế.
Các dịch vụ phân phối ( bán buôn và bán lẻ): Được phép lập liên doanh sau 3 năm
Hiệp định có hiệu lực, vốn đóng góp phía Mỹ
không quá 49%. Sau 6 năm Hiệp định
có hiệu lực hạn chế về vốn này sẽ được bãi bỏ.
Các dịch vụ giáo dục: Chỉ dưới các hình thức liên doanh, 7 năm sau khi Hiệp định có
hiệu lực sẽ được phép lập trường học với 100% vốn Mỹ.
Các dịch vụ tài chính: 1) Các dịch vụ bảo hiểm nhân thọ và các bảo hiểm không bắt
buộc: được phép lập liên doanh sau 3 năm Hiệp định có hiệ

Các chuyển khoản tài chính: Cho phép đối tác Mỹ được đem về nước các khoản lợi
nhuận và các chuy
ển khoản tài chính khác trên cơ sở đãi ngộ quốc gia.
Các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại (TRIMs): Phía Mỹ cam kết thực hiện
ngay từ đầu, Việt Nam sẽ huỷ bỏ dần các TRIMs không phù hợp với các biện pháp
đầu tư liên quan đến thương mại của WTO trong 5 năm như những quy định về tỷ lệ
số lượng hoặc giá trị sản xuất trong nước.
Đối xử qu
ốc gia: Việt Nam cam kết thực hiện chế độ Đối xử quốc gia với một số
ngoại lệ. Việc thẩm tra giám sát đầu tư sẽ được dần huỷ bỏ hoàn toàn đối với hầu hết
các khu vực trong giai đoạn 2, 6 hoặc 9 năm (tuỳ thuộc vào loại khu vực đầu tư, ví dụ,
đầu tư trong các Khu Công nghiệp hay trong khu vực sản xuất), tuy nhiên Việt Nam
duy trì quyền áp dụng th
ẩm tra giám sát trong những khu vực ngoại lệ nhất định.
Loại bỏ việc giới hạn đóng góp vốn trong các liên doanh: Quy định hiện nay đối với
phần góp vốn phía Mỹ trong các công ty liên doanh ít nhất phải 30% vốn pháp định;
loại bỏ những quy định bán cổ phần phía Mỹ trong liên doanh cho đối tác Việt Nam.
Phía Mỹ chưa được thành lập công ty cổ phần và chưa được phát hành cổ phiếu ra
công chúng, chưa được mua quá 30% vốn của m
ột công ty cổ phần. Những ràng buộc
này sẽ duy trì trong vòng 3 năm sau khi Hiệp định có hiệu lực.
Bộ máy nhân sự của liên doanh: Trong vòng 3 năm huỷ bỏ quy định về số thành viên
nhất định người Việt Nam trong Ban giám đốc; giới hạn mạnh mẽ các vấn đề trong đó
“sự nhất trí” của ban giám đốc phải đạt được (ví dụ, trong vấn đề đó các thành viên
Việt Nam có quyền phủ quyết); cho phép các nhà đầu tư Mỹ được phép tuyển chọn
nhân sự quản lý không phụ thuộc vào quốc tịch.
Phía Việt Nam cũng cam kết ngay sau khi Hiệp định có hiệu lực sẽ loại bỏ dần tất cả
các đối xử không công bằng về giá đối với các công ty và các cá nhân Mỹ như phí lắp
đặt điện thoại và các dịch vụ viễn thông khác, các phí vận tải, thuê mướn nhà xưởng,
trang thiết bị, giá nước và dịch vụ du lịch. Trong vòng 2 năm sẽ bỏ chế độ hai giá đối

ệ thương mại Việt Mỹ

 Giai đoạn chưa dở bỏ lệnh cấm vận:
Trước năm 1975.
Thời kỳ trước năm 1975 Mỹ có quan hệ kinh tế với chính quyền Sài Gòn cũ. Kim
ngạch buôn bán không lớn, chủ yếu là hàng nhập khẩu của Mỹ để phục vụ cuộc chiến
tranh xâm lược. Về xuất khẩu sang Mỹ có một số mặt hàng như
cao su, gỗ, hải sản, đồ
gốm v.v…với số lượng ít ỏi.
Từ tháng 5 năm 1964. Mỹ thực thi cấm vận miền Bắc nước ta và khi Việt Nam thống
nhất, Mỹ đã mở rộng cấm vận tới toàn bộ lãnh thổ Việt Nam trong tất cả các lĩnh vực
thương mại, tài chính, tín dụng ngân hàng… đồng thời Mỹ khống chế các nước đồng
minh và ngăn cản tổ
chức tiền tệ và tài chính quốc tế cho Việt Nam vay tiền.
Những năm đầu thập kỷ 90.
Bước sang thập kỷ 90 quan hệ ngoại giao cũng như quan hệ kinh tế thương mại giữa
hai nước Việt Nam và Mỹ đã có những bước tiến đáng kể, lỗ lực hướng tới các mối
quan hệ hữu nghị, hợp tác, bình đẳng cùng có lợi, vì lợi ích của mỗi nước c
ũng như
hoà bình và thịnh vượng chung trong khu vực Châu á - Thái Bình Dương và trên thế
giới.
Để đến được với lộ trình này, cả hai phía đã có những lỗ lực vượt bậc theo hướng cuả
"bản lộ trình" được đưa ra dưới thời cực tổng thống G.Bush, trong đó đưa ra các bước
tiến tới bình thường hoá quan hệ với Việt Nam
Năm 1993, ông B. Clinton lên nắm quyền, đã tán thành và cam kết tiếp tục "bản lộ
trình" của chính quyền ông G.Bush: ngày 2/7 tổng thống Clinton quyết định không
ngăn cản các tổ chức tài chính quốc tế nối lại viên trợ cho Việt Nam. Quyết định có ý
nghĩa hơn nhiều đối với doanh nghiệp Mỹ là ngày 14/9/1993 tổng thống Clinton cho
phép các công ty Mỹ tham gia đấu thầu các dự án phát triển ở Việt Nam do các tổ
chức tài chính quốc tế tài tr

ngạch hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ chỉ đạt tương ứ
ng
5,91 tỷ USD và 7,83 tỷ USD thì đến năm 2007, tổng trị giá hàng hóa Việt Nam xuất
khẩu sang Hoa Kỳ đã vượt con số 10 tỷ USD. Năm 2008, tuy chịu ảnh hưởng nặng nề
của cuộc suy thoái kinh tế bắt đầu tại Hoa Kỳ vào tháng 12/2007 và tiếp đến là cuộc
khủng hoảng kinh tế toàn cầu từ giữa năm 2008, nhưng quan hệ thương mại giữa hai
nước vẫn có những dấu hiệu khả
quan. Tổng kim ngạch buôn bán hàng hóa hai chiều
trong năm 2008 đạt 14,5 tỷ USD, tăng 23% so với năm 2007. Sang đến năm 2009,
mặc dù tiếp tục gặp nhiều khó khăn do suy thoái kinh tế nhưng tổng kim ngạch xuất
khẩu của Việt Nam sang thị trường tiêu thụ hàng hóa lớn nhất thế giới này vẫn đạt
được 11,36 tỷ USD, giảm nhẹ 4,3% so với kết quả thực hiện của một năm trước
đó.
Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường nhập khẩu hàng hoá lớn nhất của các nhà xuất khẩu Việt
Nam.

Biểu đồ: Quan hệ thương mại hàng hóa Việt Nam - Hoa Kỳ giai đoạn năm 2005-
2009 và quý I/2010 Nếu duy trì đà tăng trưởng kim ngạch xuất nhập khẩu bình quân quý I/2010 thì tổng
kim ngạch trao đổi hàng hoá giữa Việt Nam và Hoa Kỳ trong năm 2010 ước có thể đạt
lên đến con số 19 tỷ USD, thậm chí con số này có thể lên đến 20 tỷ USD; trong đó
kim ngạch xuất khẩu hàng hóa có thể đạt hơn 14 tỷ USD và kim ngạch nhập khẩu
hàng hóa ước đạt hơn 5 tỷ USD.
Số liệu Thống kê Hải quan ghi nhận t
ừ năm 2003 đến nay, Hoa Kỳ luôn luôn là thị
trường giành vị trí quán quân về tiêu thụ hàng hóa có xuất xứ từ Việt Nam với tỷ trọng
trung bình giai đoạn 2005 - 2009 chiếm khoảng 20% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả
nước. Đồng thời, Hoa Kỳ cũng là một trong những thị trường chính (đứng ở vị trí thứ

Hoa Kỳ (%)
0,6 0,3 0,8

Nguồn: Tổng cục Hải quan Việt Nam và Cơ quan Thống kê Hoa Kỳ.
Bảng số liệu trên cho thấy Hoa Kỳ là thị trường tiêu thụ hàng hoá lớn nhất của
Việt Nam và là thị trường cung cấp hàng hóa lớn thứ 7 sang thị trường Việt Nam.
Nhưng ở chiều ngược lại, trị giá buôn bán hai chiều giữa Việt Nam với thị trường này
chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng kim ngạch xu
ất nhập khẩu của Hoa Kỳ. Cụ thể, về
thứ hạng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam so với các khu vực thị trường xuất
nhập khẩu khác của Hoa Kỳ thì Việt Nam chỉ đứng ở vị trí thứ 30 với thị phần 0,6%.
Trong đó, Việt Nam là nhà xuất khẩu đứng thứ 45 sang Hoa Kỳ với tỷ trọng 0,3% và
là thị trường đứng thứ 26 nhậ
p khẩu hàng hóa từ Hoa Kỳ với tỷ trọng là 0,8%.
Trong nhiều năm qua, cán cân thương mại hàng hóa của Việt Nam luôn ở trạng thái
nhập siêu và mức nhập siêu ngày càng tăng nhưng ngược lại trong quan hệ thương
mại với Hoa Kỳ - cán cân thương mại hàng hóa của Việt Nam luôn duy trì
mức thặng dư. Cụ thể trong năm 2005, Việt Nam xuất siêu sang Hoa Kỳ 5,04 tỷ
USD; sang năm 2008 con số này là 9,23 tỷ USD; trong năm 2009, do chịu ảnh hưởng
của cuộc khủng hoảng kinh tế tại Hoa Kỳ và trên phạm vi toàn cầu, xuất khẩu của
Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ giảm so với một năm trước đó trong khi nhậ
p khẩu
từ thị trường này lại tăng nên xuất siêu của Việt Nam đạt 8,35 tỷ USD, tương đương
mức nhập siêu của năm 2007.
Bảng 2: Thống kê kim ngạch, tốc độ tăng/giảm kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu
và cán cân thương mại hàng hóa giữa Việt Nam – Hoa Kỳ giai đoạn 2005- 2009

Chỉ tiêu
Năm
2005

USD)
5.042 6.847 8.389 9.233 8.350
Cán cân thương mại hàng hóa với tất
cả các nước trên thế giới (XK-NK)
(triệu USD)
-
4.540
-5.065
-
14.121
-
18.029
-
12.853
Nguồn: Tổng cục Hải quan.

Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang Hoa Kỳ trong những năm qua
bao gồm hàng dệt may, gỗ & sản phẩm gỗ, giày dép các loại, dầu thô, hàng hải sản,
máy vi tính sản phẩm điện tử & linh kiện,
Hoa Kỳ cũng là một trong những thị trường lớn nhất về nhập khẩu một số mặt hàng
chính của nước ta giai đ
oạn 2005-2009 như sau: dệt may (chiếm 55% tổng kim ngạch
xuất khẩu mặt hàng này của cả nước); giày dép (chiếm 23%), gỗ và sản phẩm gỗ
(chiếm 33%),
Các mặt hàng nhập khẩu chính của Việt Nam từ Hoa Kỳ trong những năm qua bao
gồm máy móc thiết bị & dụng cụ phụ tùng, bông các loại, chất dẻo nguyên liệu, thức
ăn gia súc & nguyên liệu, nguyên phụ liệu dệt may da giày,
Trong giai đoạn 2005 - 2009, cơ cấu mặ
t hàng Việt Nam nhập khẩu từ Hoa Kỳ luôn
đứng đầu là nhóm hàng máy móc, thiết bị, dụng cụ & phụ tùng và chiếm tỷ trọng

0/
quý
I/2009
Máy móc, thiết
bị, dụng cụ,
phụ tùng khác
716

154 23,8 19,0 5,7 5,3 68,9 15,8
Ô tô các loại 268 22 8,9 2,7 21,3 13,9 4,9 14,6
Bông các loại 192 46 6,4 5,7 48,9 30,8 -1,5 69,0
Chất dẻo
nguyên liệu
147 32 4,9 4,0 5,2 4,2 -6,4 79,3
Thức ăn gia
súc và nguyên
liệu
176 139 5,9 17,2 10,0 22,6 25,5 631,7
Nguyên phụ
liệu dệt, may,
da, giày
77 30 2,6 3,7 4,0 5,8 -42,1 138,4
Máy vi tính,
sản phẩm điện
tử và linh kiện
89 27 3,0 3,3 2,3 2,7 -31,3 73,9
Gỗ và sản
phẩm gỗ
104 34 3,5 4,2 11,5 15,4 -15,7 103,0
Sữa và sản

m 2010, máy móc, thiết bị cơ khí và phụ tùng đạt
tốc độ tăng trưởng cao nhất (53%, lên mức 621,2 triệu USD). Xuất khẩu của Mỹ sang
Việt Nam trong năm 2010 tăng 7% so với năm 2009 do Việt Nam tăng nhập khẩu máy
móc, thiết bị cơ khí và phụ tùng (393,7 triệu USD); bông, sợi và vải dệt (254 triệu
USD).

3. Cơ hội và thách thức khi kí kết hợp đồng thương mại Việt Mỹ:
3.1. Cơ
hội.
Mỹ là nước lớn với dân số 295.734.000 người (ước tính 2005) và là một trong những
nước có thu nhập bình quân đầu người cao nhất. Thế giới xem Mỹ là thị trường khổng
lồ vì có sức mua lớn khoảng 7.000 tỷ USD/năm. Trên thế giới có 100 tập đoàn kinh tế
làm ăn có hiệu quả nhất thì có 61 tập đoàn là của Mỹ.
Việc ký kết Hiệp định thương mại Việt- Mỹ tạo c
ơ hội cho hàng hoá Việt Nam thâm
nhập thị trường Mỹ, đặc biệt là các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, từ đó
góp phần nâng kim ngạch xuất khẩu, cải thiện cán cân xuất nhập khẩu trong quan hệ
thương mại với Mỹ.
Hàng nông sản:
Khi Hiệp định thương mại Việt- Mỹ có hiệu lực, ta sẽ thuận lợi hơn trong việc mở
rộ
ng thị trường tiêu thụ nông sản. Mặt hàng rau tươi xuất sang Mỹ chênh lệch giữa có
MFN và phi MFN là 10% và 50% nên khi có MFN, nước ta có thể xuất khẩu hàng
chục triệu USD rau quả tươi sang Mỹ, nếu đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng, an toàn vệ
sinh thực phẩm nghiêm ngặt của Mỹ (Thuế suất của rau quả giảm từ 22 cent/kg xuống
còn 1 cent/kg và quả tươi giảm từ 10 cent/kg xuống 0,4 cent/kg, chè xanh từ 20%
xuống 7%). Hiện nay mỗi n
ăm Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ 30 triệu USD hạt điều.
Các chuyên gia Bộ Thương mại dự đoán kim ngạch xuất khẩu hạt điều có thể tăng lên
gấp đôi (60 triệu USD) nếu các doanh nghiệp sản xuất và chế biến mặt hàng này đáp

ậy, thị trường Mỹ cũng không khó
tính, nếu đã vào được thì khả năng trụ lại là không quá khó khăn.
Nhận xét về khả năng tăng tốc của ngành Da Giày Việt Nam , một chuyên gia của
Viện Nghiên cứu Thương mại (Bộ Thương mại) khẳng định, với Hiệp định thương
mại Việt- Mỹ, thuế suất thuế nhập khẩu từ mức 35% trước đây sẽ
chỉ còn 20% đối với
mặt hàng giày dép của Việt Nam sang Mỹ. Trước thời điểm Hiệp định thương mại
Việt- Mỹ có hiệu lực, sản phẩm giày dép Việt Nam xuất khẩu tới hơn 40 nước, trong
đó thị trường chủ yếu là các nuớc EU, Mỹ, Nhật. Việt Nam được đánh giá là một
trong 5 nước có số lượng giày dép tiêu thụ nhiều nhất ở EU, do lợi thế giá rẻ
, chất
lượng và mẫu mã chấp nhận được với loại sản phẩm chủ yếu là giày thể thao.
Hàng thuỷ - hải sản:
Thời gian qua, Mỹ luôn luôn là một trong những thị trường lớn nhất nhập khẩu các
mặt hàng thuỷ, hải sản của Việt Nam như tôm sú, điệp, nghêu, cá tra, cá đồng, cá basa
đông lạnh và chỉ đứng thứ 2 sau Nhật trong danh sách 10 thị trường có thị phần cao
nhất của hàng thuỷ, hải sản Việt Nam .
Kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của nước ta sang Mỹ tăng nhanh trong những năm gần
đây: từ 39 triệu USD năm 1997 lên 80 triệu USD năm1998 và 129 triệu USD năm
1999. Trong 8 tháng đầu năm nay, lượng thuỷ sản của ta xuất khẩu sang Mỹ đạt trị giá
206,6 triệu USD. Ướ
c tính, tổng giá trị xuất khẩu thuỷ sản sang thị trường này trong
cả năm nay sẽ đạt trên 250 triệu USD.
3.2. Thách thức
 Những qui định của Mỹ về hàng nhập khẩu:
Luật pháp nước Mỹ quy định, tất cả mọi vấn đề có liên quan đến việc nhập khẩu hàng
hoá từ nước ngoài vào đều thuộc thẩm quyền của chính phủ Liên bang. Bộ Thương
mại, V
ăn phòng đại diện thương mại, Uỷ ban thương mại quốc tế và cụ thể nhất là Hải
quan Mỹ là những cơ quan có trách nhiệm đối với vấn đề này. Các giấy tờ cần xuất

tin còn yếu nên nhiều khi chương trình xúc ti
ến không nhằm đúng đối tượng, lĩnh vực
kinh doanh làm cho hiệu quả thấp.
¾ Do không được hỗ trợ về mặt kinh tế nên đa số các tổ chức xúc tiến thương mại hoạt
động theo nguyên tắc “ lấy thu bù chi”, do vậy họ hướng vào lợi nhuận hơn là hướng
vào lợi ích của quốc gia, lợi ích của các doanh nghiệp.

4. Thị trường tiêu thụ mỹ đối với m
ặt hàng rau quả.
1. Môi trường vĩ mô
1. Kinh tế.
1.1. GDP & Tốc độ tăng trưởng GDP của Mỹ
Nền kinh tế Hoa Kỳ là một trong những nền kinh tế có quy mô lớn của thế giới với
nền công nghiệp hùng mạnh, nông nghiệp hiện đại và là trung tâm thương mại, tài
chính của thế giới. Nền kinh tế Hoa Kỳ là nền kinh tế hổn hợp tư bản chủ nghĩ
a được
kích thích bởi tài nguyên thiên nhiên phong phú, một cơ sở hạ tầng phát triển tốt, và
hiệu suất cao Thứ bậc của kinh tế Mỹ trong vòng 6 năm qua. Số liệu: IMF

Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế, tổng sản phẩm nội địa của Hoa Kỳ hơn 13 ngàn tỉ đô la
năm 2007 chiếm 20 phần trăm tổng sản phẩm thế giới. Đây là tổng sản phẩm nội địa
lớn nhất thế giới, lớn hơn một chút so với tổng s
ản phẩm nội địa kết hợp của Liên hiệp
châu Âu ở sức mua tương đương năm 2006. Hoa Kỳ đứng hạng 8 thế giới về tổng sản
lượng nội địa trên đầu người và hạng tư về tổng sản phẩm nội địa trên đầu người theo
sức mua tương đương.
GDP năm 2010 của Mỹ là 14.700 tỷ USD, cao hơn 2 lần so với mức 5.800 tỷ USD

quân đầu người của Mỹ cao gấp 11 lần so với người Trung Quốc)
Thu nhập bình quân đầu người của Mỹ ở mức cao, mức sống của người dân Mỹ ngày
càng tăng dẫn đến nhu cầu tiêu dùng của người dân Mỹ cũng tăng theo.
1.3. Kim ngạch xuất nhập khẩu

Trích đoạn Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển và hoạt động của ngành rau quả Tình hình xuất khẩu rau quả Việt Nam sang Mỹ Năng lực cạnh tranh của hàng rau quả Việt Nam trên thị trường Hoa Kì Chiến lược xuất khẩu rau quả trong thời gian tớ Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu rau quả sang thị trường Hoa Kì
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status