Tuyển tập Báo cáo “Hội nghị Sinh viên Nghiên cứu Khoa học” lần thứ 6 Đại học Đà Nẵng - 2008
87
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BAO THANH TOÁN
CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
SOLUTIONS OF DEVELOPING THE FACTORING SERVICE FOR
COMMERCIAL BANKS IN DANANG CITY
SVTH: HỨA THỊ DIỄM THUÝ
Lớp: 30K07.3, Trường: Đại học Kinh tế
GVHD: THS. HỒ HỮU TIẾN
Khoa: Tài chính – Ngân hàng, Trường Đại học Kinh tế
TÓM TẮT
Nhận thức được tầm quan trọng và lợi ích tất yếu phải phát triển dịch vụ bao thanh toán, một
số ngân hàng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đã bắt đầu nghiên cứu và thực hiện nghiệp vụ
này. Tuy nhiên, qua hơn 2 năm triển khai, nhìn từ thực trạng cung cấp dịch vụ bao thanh toán
của các ngân hàng thì bao thanh toán vẫn chưa thật sự phát triển tại Đà Nẵng. Vì vậy cần phải
tìm ra những nguyên nhân gây nên tình trạng trên để từ đó đưa ra các giải pháp khắc phục.
Bài báo này sẽ tìm ra và phân tích một số nguyên nhân chính và đề xuất một số giải pháp
nhằm phát triển dịch vụ bao thanh toán trên địa bàn.
SUMMARY
Realise the importance and benefits of developing the Factoring service, many banks in
Danang City have researched and operated such service. However, after 2 years, Factoring is
still not really a popular banking service in this market. Therefore, it is important to find out the
reasons of this matter and give some recommendations to solve this problem. This article will
show up and analise some major reasons and then, recommend some solutions of developing
the Factoring service in Danang City.
1. Mở đầu
Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, rất nhiều nước trên thế giới sử dụng bao thanh toán như một giải pháp tối ưu thúc
Để thấy được những tiện ích vượt trội của bao thanh toán đối với các doanh nghiệp, cần so
sánh bao thanh toán với một số sản phẩm dịch vụ Ngân hàng khác:
- So sánh bao thanh toán với các phương thức tài trợ và quản lý tín dụng thương mại khác
- So sánh bao thanh toán với các sản phẩm tín dụng thông thường
2.2. Thực trạng và nguyên nhân tình hình tài trợ bao thanh toán của các Ngân hàng trên
địa bàn thành phố Đà Nẵng
2.2.1. Kết quả tài trợ bao thanh toán của các Ngân hàng
Trong năm 2006 – năm mà các Ngân hàng ở Đà Nẵng bắt đầu triển khai dịch vụ bao thanh
toán, hầu như chưa ngân hàng nào có được khách hàng sử dụng bao thanh toán. Đến cuối năm
2006, sau cuộc hội thảo về bao thanh toán được tổ chức tại khách sạn Sài Gòn Tourance, Chi
nhánh Vietcombank Đà Nẵng đã có được khách hàng sử dụng bao thanh toán và trở thành
Ngân hàng đầu tiên có doanh thu về bao thanh toán tại Đà Nẵng.
Tính đến thời điểm hiện nay thì Vietcombank Chi nhánh Đà Nẵng có được 6 hợp đồng bao
thanh toán, Techcombank Đà Nẵng được 1 hợp đồng, ACB có được 1 hợp đồng, ngân hàng
Phương Đông Đà Nẵng cũng được 1 hợp đồng. Còn các ngân hàng khác như Sacombank Đà
Nẵng, Ngân hàng Hàng Hải, Ngân hàng Xuất nhập khẩu vẫn ở trong tình trạng chưa có
khách hàng.
Như vậy, có thể nói bao thanh toán vẫn chưa thật sự phát triển tại Đà Nẵng.
2.2.2. Phân tích nguyên nhân của thực trạng trên
a) Các Ngân hàng gặp khó khăn trong việc thẩm định người mua
Khác với các nghiệp vụ tín dụng truyền thống, rủi ro tín dụng của bao thanh toán sẽ chủ yếu
và trực tiếp phụ thuộc vào uy tín và năng lực tài chính của người mua hàng chứ không phải là
người bán hàng. Bởi vì, bên mua hàng mới là người chịu trách nhiệm trả nợ chính cho ngân
hàng. Nhưng vì họ không phải là người trực tiếp yêu cầu khoản tín dụng từ ngân hàng và do
đó họ không có nghĩa vụ phải cung cấp các thông tin và tài liệu liên quan đến khả năng tài
chính và tình hình hoạt động của mình cho ngân hàng. Chính vì vậy, khó khăn lớn nhất của
các ngân hàng trong khi thực hiện nghiệp vụ bao thanh toán là không thể thẩm định được bên
mua hàng.
- Để giải quyết khó khăn này, Sacombank đã ban hành sẵn một danh mục các bên mua hàng
và theo đó, các Chi nhánh của Sacombank chỉ chấp nhận tài trợ bao thanh toán cho bên bán
Một điểm còn yếu trong hệ thống luật pháp của Việt Nam về hoạt động bao thanh toán
được ông Jeroen Kohnstamm – Tổng thư ký Hiệp hội bao thanh toán quốc tế FCI nêu ra trong
báo cáo của mình tại một cuộc hội thảo do FCI và các Ngân hàng Việt Nam tổ chức vào đầu
năm 2006 đó là: trong hoạt động bao thanh toán sẽ diễn ra một bước quan trọng: “chuyển giao
quyền đòi nợ” từ người bán hàng sang đơn vị bao thanh toán nhưng lại không thấy có quy
định liên quan nào xác lập mối quan hệ này, như vậy việc chuyển giao này có được thừa nhận
không, và trong trường hợp không được thừa nhận thì phải xử lý như thế nào. Chính vì quyền
đòi nợ không được quy định chặt, đã gây không ít trở ngại cho các ngân hàng trong việc thu
nợ từ người mua.
Bên cạnh đó, Việt Nam hiện nay chưa có Luật điều chỉnh việc chuyển nhượng các khoản
phải thu trong thương mại. Như vậy, Pháp luật Việt Nam vẫn chưa tạo được hành lang pháp lý
phù hợp cho các ngân hàng có thể thực hiện hiệu quả nghiệp vụ bao thanh toán
c) Một số nguyên nhân khác
- Công tác marketing, giới thiệu, quảng bá dịch vụ bao thanh toán tới khách hàng chưa
được các ngân hàng triển khai một cách mạnh mẽ, sâu rộng và có hiệu quả.
- Các Chi nhánh ngân hàng đang thiếu một bộ phận nhân viên chuyên trách để thực hiện tốt
việc triển khai, tư vấn phục vụ khách hàng và phát triển sản phẩm bao thanh toán, và đặc biệt
là trong việc thẩm định các hợp đồng thương mại giữa bên bán hàng và bên mua hàng
- Nhiều Ngân hàng chưa nhận thức được tầm quan trọng, lợi ích tất yếu phải phát triển bao
thanh toán
- Nghiệp vụ bao thanh toán của các Ngân hàng vẫn chưa thực sự tiện lợi cho khách hàng,
ngân hàng thường đòi hỏi cao đối với khách hàng
- Các ngân hàng chưa có bộ phận bao thanh toán độc lập nên chưa tạo ra một cơ chế hoạt
động độc lập và hiệu quả.
- Mức độ hiểu biết của các doanh nghiệp về dịch vụ bao thanh toán vẫn còn hạn chế
2.3. Một số giải pháp phát triển dịch vụ bao thanh toán của các Ngân hàng trên địa bàn
thành phố Đà Nẵng
2.3.1. Nhóm giải pháp đối với Ngân hàng
a) Thiết lập mối quan hệ giữa các Ngân hàng, các Ngân hàng nên làm đại lý bao thanh
toán cho nhau
ngân hàng có thể nắm được tình hình của con nợ để có biện pháp xử lý và thu nợ.
- Được người mua cung cấp danh sách các bên bán hàng mà họ đang có giao dịch mua
bán. Do đó, ngân hàng có thêm thông tin của bên bán để có chiến lược tiếp thị hiệu quả hơn.
- Người mua ký xác nhận thông báo về hợp đồng bao thanh toán mà ngân hàng đã ký
kết với bên bán hàng và việc chuyển giao quyền đòi nợ. Và đây sẽ là cơ sở quan trọng để ngân
hàng tiến hành giao khoản tiền ứng trước cho bên bán hàng.
c) Nâng cao hiệu quả khâu thẩm định chất lượng khoản phải thu và bên mua hàng, đặc
biệt cần nâng cao kỹ năng thẩm định hợp đồng thương mại
Đối với khoản phải thu:
- Trên cơ sở các số liệu và thông tin phân tích, ngân hàng có thể xây dựng được các chỉ số
an toàn phù hợp.
- Kiểm tra cẩn thận các khoản phải thu với nhiều hình thức, trên các hợp đồng và các sổ
phụ, trên các hoá đơn chứng từ và các tài khoản tại các NHTM khác.
- Phân tích có dự báo tình hình các đối tác, tình hình thị trường có ảnh hưởng đến mặt hàng
liên quan đến khoản phải thu.
- Tận dụng tối đa các kênh thông tin khác như C.I.C. các Chi nhánh NHTM khác, thông tin
qua các khách hàng là bạn hàng của nhau để phòng ngừa rủi ro đạo đức.
- Tính toán lịch thu nợ, trả nợ liên quan đến các khoản phải thu trên cơ sở cân đối dòng tiền
phải trả cho ngân hàng và cho khách hàng.
Tuyển tập Báo cáo “Hội nghị Sinh viên Nghiên cứu Khoa học” lần thứ 6 Đại học Đà Nẵng - 2008
91
Ngoài ra, hoá đơn bán hàng là chứng từ người bán phát hành để đòi tiền người mua thanh
toán những khoản nợ phát sinh từ việc mua bán hàng giữa hai bên. Do đó, ngân hàng nên quy
định rõ những điều kiện của hoá đơn của các sản phẩm có thể bao thanh toán được.
Đối với người mua hàng
Cần sử dụng nhiều nguồn thông tin chính thống và phi chính thống để tìm hiểu uy tín, tư
cách và lịch sử tín dụng của bên mua. Quan trọng nhất là nguồn thông tin từ các ngân hàng đại
lý – ngân hàng mà người mua có quan hệ giao dịch thường xuyên; hoặc từ những thông tin do
chính người mua cung cấp theo như những cam kết mà họ đã ký với ngân hàng trong hợp
- Mở rộng hơn nữa quan hệ ngân hàng đại lý trong và ngoài nước
- Hoàn thiện chính sách bao thanh toán.
3. Kết luận
Nguyên nhân chính làm cho dịch vụ bao thanh toán vẫn chưa có điều kiện để phát triển là:
- Ngân hàng gặp nhiều khó khăn trong công tác thẩm định người mua do thiếu thông tin
- Môi trường pháp lý về bao thanh toán chưa hoàn thiện, cụ thể là chưa có quy định cụ thể
về việc chuyển nhượng nợ và những quy định về quyền đòi nợ của ngân hàng với người mua
chưa chặt chẽ.
Những giải pháp đưa ra cơ bản đã giải quyết được hai khó khăn này cho các Ngân hàng.
Tuyển tập Báo cáo “Hội nghị Sinh viên Nghiên cứu Khoa học” lần thứ 6 Đại học Đà Nẵng - 2008 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] TH.S. Nguyễn Thị Minh Hiền (1999), “Marketing dịch vụ tài chính”, NXB Thống kê,
Tr.262-284
[2] Th.S. Nguyễn Quỳnh Lan (2006), “Về nghiệp vụ bao thanh toán – factoring”, NXB
Chính Trị, Tr.61-83
[3] PGS.TS. Nguyễn Văn Tiến (2005), “Thanh toán quốc tế tài trợ ngoại thương”, NXB
Thống Kê, Tr.723 - 730
[4] Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN ngày 06 tháng 09
năm 2004 Ban hành Quy chế bao thanh toán của các tổ chức tín dụng.
[5] Quy chế bao thanh toán nội địa của Ngân hàng Sài Gòn – Thương Tín.
[6] Trần Thị Kim Thanh (2007), bài viết “Giải pháp nào cho việc mở rộng Bao thanh toán tại
Việt Nam” trên tạp chí Ngân hàng số 11 tháng 6 năm 2007, trang 35-39
[7] Nguyễn Xuân Trường (2007), Bài viết “Bao thanh toán - Một dịch vụ tài chính đầy triển
vọng cho các doanh nghiệp Việt Nam” trên Tạp chí Ngân hàng số 7 năm 2006
[8] PGS.TS Trần Hoàng Ngân + Nguyễn Thị Thuỳ Linh, bài viết “Bao thanh toán –