báo cáo khoa học 'nghiên cứu xu hướng logistics toàn cầu và đề xuất giải pháp cho các công ty giao nhận vận tải việt nam' - Pdf 15


NGHIÊN CỨU XU HƯỚNG LOGISTICS TOÀN CẦU
VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP CHO CÁC CÔNG TY
GIAO NHẬN VẬN TẢI VIỆT NAM

ThS. NGUYỄN THỊ VÂN HÀ
Bộ môn Quản trị kinh doanh
Khoa Vận tải - Kinh tế
Trường Đại học Giao thông Vận tải

Tóm tắt: Ngày nay các công ty từ những công ty vận tải đường bộ đến các nhà giao
nhận, các hàng vận tải hàng không và bưu điện đều dùng từ “logistics” để mô tả những gì họ
đang cung cấp. Các công ty ngày nay đang ngày một quan tâm đến việc lên kế hoạch cho hệ
thống logistics của mình. Dưới những áp lực không ngừng về giảm chi phí và tăng doanh số
trên toàn cầu, các công ty đang có xu hướng thuê ngoài các hoạt động logistics đến các đối
tác bên ngoài những người có thể giúp điểu khiển các hoạt động này tốt hơn và rẻ hơn, và
chuyển các hoạt động sản xuất và dịch vụ đến các quốc gia có chi phí thấp. Toàn cầu hoá đòi
hỏi ngày càng gia tăng sự phối hợp các hoạt động vận tải bằng đường bộ, đường sắt, biển và
hàng không và ngày nay bằng một đường mới là internet. Điều này làm cho hệ thống logistics
thực sự phức tạp. Bài viết tập trung nghiên cứu xu hướng logistics toàn cầu, điểm qua những
nét chính về thực trạng hoạt động logistics của các công ty giao nhận vận tải Việt Nam và đề
xuất giải pháp phát triển dịch vụ logistics tại các công ty giao nhận vận tải Việt Nam.
Summary: Today, all companies from road transport companies to forwarding
companies, airline transport & post service providers have been using the term “logistics” in
order to describe what they are supplying. All companies have concerned much more to make
plan for their logistics system. Under the continous pressure of cutting cost and increasing
revenue in global economy, all companies have had trends to outsource logistics to
3PL/4PL/5PL providers who are able to conduct logistics cheaper and more effectively. The
collaboration between road, railway, seaway and airline transport have been increasing
dramatically in globalization economy, especially by new way of Internet. These things have
made logistics very complicated. The paper focused on global logistics trends, actual situation

Management, tác giả Ma Shuo, tài liệu giảng dạy của World Maritime University, 1999) [1].
Logistics không phải là một hoạt động đơn lẻ, mà là một chuỗi các hoạt động liên tục, có
liên quan mật thiết với nhau, tác động qua lại lẫn nhau, được thực hiện một cách khoa học và có
hệ thống qua các bước nghiên cứu, hoạch định, tổ chức, quản lý, thực hiện, kiểm tra, kiểm soát
và hoàn thiện. Vị trí của Logistics trong toàn bộ quá trình phân phối vật chất thực chất là sử
dụng công nghệ thông tin để tổ chức và quản lý quá trình lưu chuyển hàng hóa qua nhiều công
đoạn, chặng đường, phương tiện và địa điểm khác nhau. Các hoạt động này phải tuân thủ đặc
tính của dây chuyền: vận tải – lưu kho – phân phối và hơn thế nữa chúng phải đáp ứng yêu cầu
về tính kịp thời (JIT).
VTKT
Trong lĩnh vực giao nhận vận tải Logistics không phải là một dịch vụ đơn lẻ mà luôn luôn
là một chuỗi các dịch vụ về giao nhận hàng hoá, như: làm các thủ tục, giấy tờ, tổ chức vận tải,
bao bì đóng gói, ghi nhãn hiệu, lưu kho, lưu bãi, phân phát hàng hoá đi các địa điểm khác nhau,
chuẩn bị cho hàng hóa luôn luôn sẵn sàng ở trạng thái nếu có yêu cầu của khách hàng là đi ngay
được (Inventory level). Chính vì vậy khi nói tới Logistics bao giờ người ta cũng nói tới một
chuỗi hệ thống các dịch vụ (Logistics system chain). Với hệ thống chuỗi dịch vụ này người
cung cấp dịch vụ Logistics (Logistics service provider) sẽ giúp khách hàng có thể tiết kiệm
được chi phí của đầu vào trong các khâu vận chuyển, lưu kho, lưu bãi và phân phối hàng hoá
cũng như chi phí tương tự ở đầu ra bằng cách kết hợp tốt các khâu riêng lẻ qua hệ thống
Logistics nêu trên (theo Logistics Management, ESCAP, xuất bản năm 2000, tr. 2 - 4).
Như vậy, “Logistics là quá trình tối ưu hoá về địa điểm và thời điểm, tối ưu hoá việc lưu
chuyển và dự trữ nguồn tài nguyên từ đầu vào nguyên thủy cho đến tay người tiêu dùng cuối cùng, nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của người tiêu dùng với chi phí thích hợp, thông qua hàng
loạt các hoạt động kinh tế”. Logistics là quá trình tối ưu hoá mọi công việc, mọi thao tác từ khâu
cung ứng, sản xuất, phân phối và tiêu dùng sản phẩm. Logistics được áp dụng trong nhiều lĩnh
vực khác nhau của đời sống kinh tế - xã hội, như: quân sự, kinh tế, xã hội, Trong mỗi ngành,
lĩnh vực sẽ có những đặc thù riêng. Có thể nghiên cứu Logistics trên hai giác độ: vi mô và vĩ
mô. Ở tầm vi mô, Logistics là việc tối ưu hóa mọi thao tác, hoạt động trong quá trình sản xuất,

hoạt động được thực hiện bởi một công ty bên ngoài thay mặt một chủ hàng và ít nhất cũng đảm
bảo thực hiện được việc quản lý nhiều hoạt động logistics [3, 5]. Các hoạt động này được cung
cấp theo hướng tích hợp chứ không phải là một loại riêng rẽ. Sự hợp tác giữa chủ hàng và công ty bên ngoài là một mối quan hệ liên tục có chủ định. Thị trường cho các 3PL người ta gọi là thị
trường 3PL hoặc thị trường contract logistics (chỉ các quan hệ hợp đồng dài hạn giữa 3PL và
khách hàng), để phân biệt với các thị trường chuyên biệt như thị trường giao nhận, thị trường
vận tải biển, vận tải đường bộ. 3PL là một quá trình tiến hóa từ các nhà vận tải, nhà giao nhận,
nhà cung cấp kho bãi, đồng thời cả những công ty tư vấn, cung cấp giải pháp công nghệ nữa.
Phần lớn các hãng tàu lớn đều mở thêm mảng dịch vụ logistics (3PL) như Maersk Logistics,
APL Logistics, MOL Logistics, DHL, FED EX,

Hình 1. Thị trường 3PL trên thế giới tiếp tục tăng trưởng mạnh mẽ,
phân bổ doanh thu từ 3PL trên thị trường Châu Á - Thái Bình Dương
Nguồn: Frost Sullivan, năm 2006
- Phát triển sự liên kết hợp tác trong quá trình thực hiện dịch vụ logistics toàn cầu. Ngày
nay xu hướng liên kết để phối hợp các hoạt động logistics trên toàn cầu ngày càng phát triển
mạnh mẽ. Sự hợp tác này sẽ giúp các nhà cung cấp dịch vụ logistics toàn cầu chia sẻ các nguồn
lực logistics chung ở các địa điểm khác nhau như các dịch vụ kho hàng, dịch vụ vận tải, v.v…
Sự liên kết này tạo ra những chuỗi cung ứng hoàn hảo đồng thời mang đến lợi ích cho các bên
về mặt thời gian và tiết giảm chi phí.
VTKT


Tại Việt Nam, có trên 20 công ty giao nhận hàng đầu thế giới đã có mặt dưới những hình
thức đầu tư khác nhau và cung cấp dịch vụ Logistics toàn cầu. Trong khi đó các công ty giao
nhận VN dù là những tổng công ty lớn mạnh nhất cũng chưa có một công ty nào hoạt động
trong lĩnh vực Logistics theo đúng nghĩa của nó. Theo từng bước của tiến trình hội nhập, các
hàng rào bảo hộ dần dần được dỡ bỏ, thị trường giao nhận vận tải vốn đã cạnh tranh gay gắt sẽ
ngày càng cạnh tranh gay gắt hơn. Các công ty Logistics nước ngoài với công nghệ vượt trội
chắc chắn sẽ chiếm ưu thế hơn so với hoạt động giao nhận truyền thống của các công ty trong
nước. Nếu không có sự thay đổi trong hoạt động giao nhận, các công ty giao nhận VN sẽ thất
thế ngay trên thị trường của chính mình [2].
VTKT
Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, tại VN hiện đã có khoảng từ 800 DN hoạt động trong
lĩnh vực cung cấp logistics. Có một hiện tượng đang nổi lên là “nhà nhà làm logistics và người
người làm logistics”… cách làm đại trà như vậy là đúng nhưng thực chất các đơn vị này chỉ là
đơn vị cung cấp dịch vụ logistics thứ hai, nghĩa là chỉ làm thuê cho các DN nước ngoài và cung
cấp các dịch vụ logistics cơ bản như khai quan, vận tải,… Một số ít DN lớn cũng mới chỉ đạt
đến mức độ đơn vị cung cấp dịch vụ logistics thứ 3, tức cung cấp dịch vụ làm cầu nối giữa nhà
cung cấp và người sử dụng. Nói cách khác, chúng ta còn thiếu những nhà cung cấp dịch vụ
logistics trọn gói “Door to Door” (dịch vụ logistics thứ 4 – thứ bậc cao nhất) cho hàng hóa xuất
nhập khẩu. Nguồn lợi lớn từ dịch vụ logistic hiện không nằm trong tay các DN Việt Nam mà
đang chảy về túi các công ty dịch vụ logistics nước ngoài. Một nguồn lợi lớn trên sân nhà chưa
được các DN Việt Nam tận dụng mà họ đang là những người làm thuê cho các tập đoàn nước
ngoài. Các DN Việt Nam mới chỉ có một phần rất nhỏ trong miếng bánh khổng lồ và đang ngày
càng phình to của thị trường dịch vụ logistics. Theo tính toán mới nhất của Cục Hàng hải Việt
Nam, lĩnh vực quan trọng nhất trong logistics là vận tải biển thì DN trong nước mới chỉ đáp ứng
chuyên chở được trên 23% tổng lượng hàng hóa xuất nhập khẩu, phần còn lại đang bị chi phối
bởi các DN nước ngoài. Điều này thực sự là một thua thiệt lớn cho DN Việt Nam khi có đến
90% hàng hóa xuất nhập khẩu được vận chuyển bằng đường biển [1]. Thực trạng trên bắt nguồn từ việc dịch vụ logistics của các doanh nghiệp Việt Nam mới

hạn việc thiết kế hệ thống ngược. Nhất là những mặt hàng triển lãm, hội chợ, tạm nhập tái
xuất…, đây là những mặt hàng nếu có hệ thống Logistics thì sẽ thuận lợi hơn rất nhiều. Một vấn
đề nữa trong hoạt động logistics, đó là chưa có sự liên minh, liên kết giữa các DN trong ngành.
Nguồn nhân lực cung cấp cho các DN trong ngành đang trở nên thiếu hụt trầm trọng.
VTKT
Việt Nam có nhiều cơ hội để phát triển ngành dịch vụ logistics. Thứ nhất, chính sách hội
nhập, VN đang đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế thông qua những cải cách về cơ chế, chính
sách, thủ tục hành chính, xây dựng hệ thống pháp luật kinh tế và tài chính phù hợp với thông lệ
quốc tế. Việc trở thành thành viên chính thức của WTO sẽ đưa VN thành một quốc gia mở cửa về
thương mại hàng hóa, dịch vụ và đầu tư. Thứ hai, lợi thế về khu vực, VN có vị trí địa lý rất thuận
lợi cho vận tải quốc tế, nằm ở khu vực chiến lược trong vùng Đông Nam Á. Bờ biển trải dài
khoảng 3.000 km, có nhiều cảng nước sâu, các sân bay quốc tế, hệ thống đường sắt xuyên quốc
gia và mạng lưới giao thông là tiền đề khả quan để phát triển logistics. Thứ ba, vốn đầu tư nước ngoài, cụ thể là nguốn vốn ODA nhằm phát triển cơ sở hạ tầng và các nguồn vốn từ các tổ chức
phi chính phủ hỗ trợ cho Việt Nam ngày càng tăng. Thứ tư, lĩnh vực dịch vụ đang được quan tâm
phát triển, hoạt động logistics đã bắt đầu thu hút sự chú ý của các cấp quản lý Nhà nước cũng như
của các DN trong và ngoài nước. Đây chính là một trong những điều kiện tiên quyết để ngành
công nghiệp logistics Việt Nam phát triển, đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. Tuy nhiên,
để tận dụng được các cơ hội trên, cần có một chuỗi các giải pháp để xuất để giúp cho các công ty
giao nhận vận tải Việt Nam có thể phát triển được. Thứ năm, Việt Nam có một doanh số khổng lồ
và hứa hẹn tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ trong kinh doanh dịch vụ logistics.
IV. ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP ĐỂ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ LOGISTICS TẠI CÁC CÔNG TY GIAO
NHẬN VIỆT NAM
Với bối cảnh một thị trường logistics manh mún, phân tán, yếu kém về năng lực cạnh tranh
của các công ty logistics Việt Nam và nguy cơ bị thống trị bởi các công ty logistics toàn cầu, đề
xuất các giải pháp tận dụng các cơ hội hiện có và nâng cao năng lực logistics của các doanh
nghiệp giao nhận vận tải là điều hết sức cần thiết.
Trước tiên, cần chú trọng đến nâng cao nội lực bản thân của mỗi công ty thông qua thực

Trong giai đoạn đầu tiên áp dụng công nghệ thông tin cần hoàn thiện hệ thống thông tin nội bộ
(Intranet), hệ thống thông tin trong từng bộ phận chức năng (Logistics, kỹ thuật, kế toán,
marketing,…), hệ thống thông tin ở từng khâu trong dây chuyền cung ứng (kho tàng, bến bãi,
vận tải,…) và sự kết nối thông tin giữa các tổ chức, bộ phận, công đoạn nêu trên. Áp dụng tin
học hoá trong các hoạt động của công ty, lắp đặt các phầm mềm phục vụ cho hoạt động của
công ty, chuẩn hóa các cơ sở dữ liệu… tạo cơ sở nền tảng trong hệ thống thông tin Logistics. Ở
giai đoạn thứ tiếp theo phải kết nối hệ thống thông tin nội bộ với bên ngoài theo hai phương
thức: sử dụng Internet và hệ thống trao đổi dữ liệu điện tử (Electronic data interchange – EDI).
Hệ thống này cho phép trao đổi thông tin dữ liệu từ máy tính qua máy tính của các bộ phận
trong hệ thống với nhau. EDI đầu tư khá tốn kém tuy nhiên rất tiện ích và đạt độ an toàn cao.
EDI thực sự hữu ích cho những khách hàng lớn của công ty và trao đổi dữ liệu giữa các chi
nhánh, đại lý trong hệ thống Logistics toàn cầu [1].
Cần có giải pháp đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ cho hoạt
động Logistics. Phát triển nguồn nhân lực có trình độ và chuyên môn cao là nhân tố quan trọng
quyết định sự sống còn và thành công trong hoạt động Logistics – một hoạt động mang tính chất
toàn cầu.
Việc mở rộng và củng cố hệ thống đại lý, xây dựng các đại lý độc quyền, tiến tới đặt văn
phòng đại diện và chi nhánh ở các nước là rất cần thiết. Đặc biệt cần chú trọng vào xây dựng
các trung tâm phân phối hiện đại để da dạng các dịch vụ giá trị gia tăng trong hoạt động kho
CFS và kho ngoại quan; xây dựng các trung tâm phân phối (DC – Distribution Center) của riêng
các công ty giao nhận, hoặc những trung tâm phân phối, kho đa năng (Cross – docking) hiện đại
để kinh doanh cho thuê. Hướng tới việc xây dựng các trung tâm phân phối và kho đa năng của
VN tại thị trường nước ngoài.
VTKT
V. KẾT LUẬN
Việc áp dụng Logistics trong hoạt động giao nhận vận tải đòi hỏi phải đầu tư mọi mặt, và
đặc biệt phải có quyết tâm lớn từ phía doanh nghiệp và Nhà nước. Qua phân tích cho thấy rằng
các công ty giao nhận Việt Nam nhận thức được Logistics sẽ chiếm ưu thế trong tương lai. Thế
nhưng phần lớn vẫn chưa có đủ vốn, năng lực, kinh nghiệm quản lý và đặc biệt là chưa có một
hệ thống cơ sở hạ tầng tốt để chuẩn bị nền tảng cho hoạt động này, trong khi đó Logistics đang


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status