Kỹ thuật nuôi gà Isabrown thương phẩm từ 6-11 tuần - Pdf 15

Kỹ thuật nuôi gà
Isabrown thương phẩm
từ 6-11 tuần
Chăn nuôi gia cầm A Kỹ thuật nuôi gà Isabrown thương phẩm
từ 6-11 tuần tuổi
2 SVTH: Trần Nhựt Tiến
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Từ viết tắt
Nghĩa tiếng việt
Ash
Khoáng tổng số
Ca
Canxi
CF
Xơ thô
CP
Protein thô
DM
Vật chất khô
Kcal
Kilocalo
KPCS
Khẩu phần cơ sở
Max
Lớn nhất
ME
Năng lượng trao đổi

DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Gà đẻ trứng thương phẩm Isa Brown 6

Chăn nuôi gia cầm A Kỹ thuật nuôi gà Isabrown thương phẩm
từ 6-11 tuần tuổi
5 SVTH: Trần Nhựt Tiến
CHƢƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ

Ngày nay, chăn nuôi đóng một vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế nông

6 SVTH: Trần Nhựt Tiến
CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN

2.1. Giới thiệu chung về giống gà isa brown
Theo Võ Bá Thọ (1996) thì Isa Brown là giống gà chuyên trứng đẻ trứng nâu của
Viện chọn giống súc vật (Institut de selection animal) viết tắt là ISA của Pháp.
Năm 1986, xí nghiệp liên hợp giống gia cầm I, thuộc liên hiệp xí nghiệp gia cầm,
có nhận một số trứng gà Isa Brown do Việt kiều ở Pháp gởi về để ấp nuôi thử. Đàn
gà này được nhận xét tốt do có màu trứng đẹp, vỏ trứng dày, năng suất đẻ cao,
thích nghi với phương thức nuôi đơn giản ở Việt Nam.
Cuối năm 1990 và giữa năm 1991, Công ty gia cầm thành phố Hồ Chí Minh đã
nhập gà cha mẹ Isa Brown.
Gà cha có màu lông nâu đỏ, gà mẹ có màu lông trắng. Gà con thương phẩm tự
phân biệt giới tính qua màu lông: Con mái có màu nâu đỏ giống cha, con trống có
màu trắng giống mẹ.

Hình 2.1: Gà đẻ trứng thƣơng phẩm Isa Brown
2.1.1. Đặc tính sản xuất
Theo tài liệu kỹ thuật của ISA (1993) thì một số chỉ tiêu của gà đẻ thương phẩm
Isa Brown đạt như sau:
Tỉ lệ nuôi sống từ 1 ngày đến 20 tuần tuổi là 98% và từ 20 tuần tuổi đến 78 tuần
tuổi là 93,3%
Sản lượng trứng thay đổi qua các tuần tuổi từ 20-72 tuần tuổi là 303 quả/ năm và
từ 20-76 tuần tuổi là 320,6 quả/ năm
Trọng lượng trứng cũng thay đổi qua các tuần tuổi, vào tuần tuổi thứ 24 là
56g/quả, tuần tuổi thứ 35 là 62g/quả và 72 tuần tuổi: 65g/quả.
Trọng lượng gà mái lúc bắt đầu đẻ là 1, 7kg/con.
Gà bắt đầu rớt hột vào tuần tuổi thứ 19, đẻ 50% vào tuần thứ 21, tỷ lệ đạt đỉnh cao
(93%) tuần thứ 26 - 33, và tuần 76 còn lại 73% (Võ Bá Thọ, 1996).
Chăn nuôi gia cầm A Kỹ thuật nuôi gà Isabrown thương phẩm

290
28
567
6
450
38
1.064
8
620
48
1.701
10
795
58
2.485
2.700 Kcal ME/ kg TĂ
15 % CP
12
965
65
3.374
14
1.135
71

Tuần tuổi
Dinh dưỡng
Trọng lượng
(g)
Thức ăn bình quân
(g/con/ngày)
Lũy kế thức ăn
(g/con)
2.750 Kcal ME/ kgTĂ
18,5 % CP
2
147
19
217
4
290
31
609
6
460
41
1.148
8
620

20
1.640
90
7.805
22
1.780
100
9.470
(Tài liệu chăn nuôi gà đẻ trứng Isa Brown của CP Thái Lan, 1995)
Qua bảng trên ta thấy ở 10 tuần tuổi trọng lượng gà bình quân 0,785 kg, tiêu tốn
thức ăn là 2,590 kg. Chăn nuôi gia cầm A Kỹ thuật nuôi gà Isabrown thương phẩm
từ 6-11 tuần tuổi
9 SVTH: Trần Nhựt Tiến

Tại Việt Nam, gà Isa Brown được nuôi phổ biến ở Đồng Nai, Sông Bé, các tỉnh
ĐBSCL…Sự tăng trưởng và tiêu tốn thức ăn được trình bày ở bảng 2.3 như sau:
Bảng 2.3: Thể trọng và tiêu tốn thức ăn của gà Isa Brown nuôi tại Việt Nam
Tuần tuổi
Dinh dưỡng
Trọng lượng
(g)
Thức ăn bình quân
(g/con/ngày)
Lũy kế thức ăn
(g/con)
2.850 Kcal ME/ kgTĂ


15,5 % CP
12
1.000
67
3.584
14
1.170
73
4.585
16
1.350
79
5.670
18
1.530
86
6.846
20
1.650
89
8.092
22
1.750
100
9.464
(Tài liệu hướng dẫn chăn nuôi gà đẻ của proconco, 1997)
Qua bảng trên ta thấy ở 10 tuần tuổi trọng lượng gà bình quân 0, 820 kg, tiêu tốn

231
4
280
30
639
6
455
44
1.057
8
610
52
1.729
10
760
58
2.401
2.900 Kcal ME/ kg TĂ
17 % CP
12
915
67
3.227
14

Gà Isa Brown có thể nuôi theo 2 phương thức: Nuôi lồng và nuôi trên nền có lớp
độn chuồng:
 Nuôi lồng thì có lợi cho việc phòng trừ dịch bệnh và tăng được mật độ nuôi
cũng như tốc độ tăng trưởng, đỡ tốn nhân công, thao tác lượm trứng dễ và ít
bị bể, nhưng khuyết điểm là ngực gà có thể bị chai và chi phí xây dựng cao.
 Nuôi trên nền thì chi phí cơ sở thiết bị ít nhưng mật đô nuôi thấp hơn, dễ
đưa đến việc gà đè nhau gây chết khi hoảng sợ, dịch bệnh cũng dễ xay ra
hơn nhất là bệnh cầu trùng (Nguyễn Văn Quyên, 2000).

2.2. VAI TRÕ VÀ TÁC DỤNG CỦA THỨC ĂN TRONG CHĂN NUÔI
Thức ăn gia súc gồm 2 thành phần là phần nước và phần chất khô. Phần chất khô
có 2 loại là chất hữu cơ và tro (còn gọi là chất khoáng). Chất hữu cơ gồm có chất
đạm (protein), chất bột đường (carbohydrate), chất béo (lipid), chất xơ (cellulose)
và vitamin. Chất khoáng gồm các nguyên tố đa lượng có nhiều trong cơ thể như
canxi, phosphor và loại các nguyên tố vi lượng có rất ít trong cơ thể như sắt, đồng,
Iod.
Đối với cơ thể gia súc những chất dinh dưỡng trên có các nhiệm vụ khác nhau như
nhiệm vụ cung cấp năng lượng do chất bột đường và chất béo đảm nhiệm được
“đốt cháy” trong cơ thể sản sinh nhiệt, làm nóng cơ thể do đó cơ thể mới hoạt
động được hay chất đạm và chất khoáng giữ nhiệm vụ kiến tạo nên cơ thể, trong
đó thịt được cấu tạo chủ yếu từ chất đạm và bột xương được hình thành chủ yếu từ
chất khoáng. Bên cạnh đó những chất như vitamin, men, đóng vai trò điều hòa
mọi hoạt động sống (như tiêu hóa, hấp thu, bài tiết và vận động) của gia súc.
Như vậy, con vật có khoẻ mạnh, lớn lên, sinh đẻ và làm việc được thì thức ăn cần
có đầy đủ các loại dưỡng chất nêu trên, chỉ cần thiếu một loại là gây ảnh hưởng
đến loại chất khác làm ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của gia súc, thậm
chí có thể gây chết cho gia súc.
Trong chăn nuôi, người ta còn sử dụng một loại thức ăn gọi là thức ăn bổ sung.
Thức ăn bổ sung là những loại thức ăn chỉ dùng với số lượng nhỏ, nhưng có tác
dụng làm cho khẩu phần được cân đối. Nó chỉ có tác dụng bổ sung chứ không giữ

sự gia tăng trọng lượng của gà mái không thể biết được mức độ thức ăn. Bởi lẽ
một phần rất lớn năng lượng tiêu thụ được dùng vào việc tăng cường sản sinh
nhiệt (North, 1984).
2.2.2. Vai trò của chất đạm
Protein là cơ sở của sự sống, chúng thực hiện vai trò tạo hình và cấu tạo nên tế
bào, hoormone, kháng thể. Protein là nguồn năng lượng duy trì trạng thái cân bằng
acid - bazơ điều hoà và trao đổi chất trong cơ thể (Melekhin và Grindin, 1997).
Giá trị sinh học của protein trong thức ăn được đánh giá bằng sự hiện diện của các
acid amin mà cơ thể không tự tổng hợp được hoặc có tổng hợp được cũng không
đáp ứng được yêu cầu của cơ thể. Trong các acid amine thiết yếu những acid amin
thường thiếu trong thức ăn là acid amine giới hạn và nó quyết định mức độ tổng
hợp protein trong cơ thể. Đối với gia cầm có các acid amine giới hạn là: lysine,
methionine, tryptophan và threonine. Nếu protein có chứa tất cả các acid amine
thiết yếu đáp ứng nhu cầu của cơ thể thì chúng là các protein có giá trị sinh học
cao và ngược lại.
Trong thức ăn chăn nuôi gia cầm cần chú ý các loại thực liệu có giá trị sinh học
cao để cân đối các thực liệu có giá trị sinh học thấp. Đồng thời bổ sung các acid
amin tổng hợp để có một khẩu phần cân đối hoàn chỉnh. Sản phẩm chăn nuôi gia
cầm là thịt trứng là các sản phẩm có giá trị sinh học cao. Để tạo ra các sản phẩm
này và đạt năng suất cao gia cầm phải có khẩu phần thức ăn tốt, cân bằng dinh
dưỡng đầy đủ về chất lượng cũng như số lượng. Nếu cung cấp protein thừa trong
Chăn nuôi gia cầm A Kỹ thuật nuôi gà Isabrown thương phẩm
từ 6-11 tuần tuổi
13 SVTH: Trần Nhựt Tiến
thức ăn sẽ lãng phí làm tăng giá thành sản phẩm. Mặt khác protein thừa không tiêu
hoá sẽ gây lên men thối ở ruột già và có thể dẫn đến tình trạng tiêu chảy. Đồng
thời sự dư thừa acid amine dẫn đến phản ứng về acid amine quá mạnh thải ra ure
và acid uric có hại cho gan thận. Sự dư thừa protein làm cho nồng độ acid amine
trong máu tăng, giảm tính thèm ăn của gia cầm, không cải thiện được tăng trọng
mà còn làm giảm trọng lượng và sự ngộ độc protein sẽ xảy ra khi khẩu phần có

béo chưa no, nên khi không được cung cấp đủ từ thức ăn thì các rối loạn sẽ xuất
hiện ở các cơ quan này trước tiên.
Các chất béo động vật và thực vật trong tự nhiên là các ester của glyxerin với các
acid chất béo. Đặc tính của chất béo là không hòa tan với nước, nhưng chúng có
khả năng hòa tan các chất khác như vitamin A, D, E, và K.
Chăn nuôi gia cầm A Kỹ thuật nuôi gà Isabrown thương phẩm
từ 6-11 tuần tuổi
14 SVTH: Trần Nhựt Tiến

Trong thức ăn hổn hợp cho gà, thành phần chất béo không nhiều nhưng không thể
thiếu được. Hầu hết các lọai lipid động vật và thực đều có chứa tỷ lệ khác nhau hai
loại acid béo, là acid béo bảo hòa như: acid palmitic, acid srearic…. Trong các
acid béo chưa bảo hòa có các acid béo quan trọng như: acid linoleic, acid
linolenic, acid arachionic. Đó là những acid béo cần thiết cho cơ thể gà với tên
chung là”các acid béo không thay thế hay acid béo thiết yếu”. Cơ thể gà không
tổng hợp được các acid béo này, mà phải cho ăn cùng thức ăn ( Võ Bá Thọ, 1996).
2.2.4. Mối tƣơng quan giữa năng lƣợng và protein
Việc tổng hợp protein trong cơ thể cần một năng lượng và khi năng lượng trong
thức ăn thấp thì một phần protein trong thức ăn sẽ bị oxi hoá để tạo năng lượng.
Như vậy một phần protein không được sử dụng cho mục đích tạo ra sản phẩm mà
sử dụng cho mục đích tạo năng lượng (Trần Thị Kim Oanh, 1998).
Yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu protein và năng lượng của gia cầm: nhu cầu này
phụ thuộc vào trọng lượng của cơ thể và năng suất. Khi gà ở giai đoạn tăng trưởng
nhanh thì nhu cầu protein và năng lượng cao hơn so với giai đoạn tăng trưởng
thấp.
Bên cạnh đó nhiệt độ môi trường cũng ảnh hưởng đến nhu cầu năng lượng và
protein của gà, hàm lượng protein trong công thức thức ăn được điều chỉnh theo
lượng thức ăn tiêu thụ, khi nhiệt độ môi trường thấp gà cần năng lượng để tạo
nhiệt gà ăn nhiều thức ăn hơn nên tỉ lệ protein phải thấp. Khi nhiệt độ môi trường
tăng cao gà ăn ít thì tỉ lệ protein trong thức ăn phải cao giúp cho gà nhận được đủ

mái đẻ có tốc độ chuyển đổi calci rất mạnh. Nếu không cung cấp đủ calci gà mái
đẻ trứng có vỏ mỏng, dễ vỡ không đủ tiêu chuẩn trứng giống và thương phẩm.
Cần cung cấp đầy đủ calci cho cho gà mái để phục hồi lại kho dự trữ xương. Có
thể dự trữ calci dưới dạng carbonate calci (40% Ca), bột sò (30-35% Ca), bột
xương (23% Ca) (Nguyễn Thị Đào, 1999).
Muối ăn cần cho việc hình thành dịch vị tiêu hóa, duy trì pH ổn định, duy trì sự
cân bằng các dịch thể, áp lực thẩm thấu bên trong cơ thể.
Mangan cần cho cấu tạo xương, chống bệnh Perosis, tăng tỉ lệ ấp nở, tránh tình
trạng phôi dị dạng.
Iod cần cho tuyến giáp trạng tiết hoormone thyroxin, điều hòa trao đổi năng
lượng, thiếu iod gà còi cọc giảm đẻ.
Selen có quan hệ chặt chẽ đến trao đổi chất của vitamin E, dùng phòng bệnh thoái
hóa cơ, tích nước xoang bụng do thiếu vitamin E (Võ Bá Thọ, 1989).
2.2.6. Vai trò của vitamin
Vai trò của vitamin trong cơ thể là xúc tác nên chỉ cần lượng vitamin rất ít mà các
chuyển hóa trong cơ thể cũng đạt tốc độ phản ứng nhanh và hiệu quả sử dụng cao
(Vũ Duy Giảng, 1997).
Vitamin A cần cho việc bảo vệ niêm mạc, nội mạc của cơ thể chống lại sự xâm
nhập của mầm bệnh. Thiếu vitamin A gà có biểu hiện khô lông, khô da, viêm kết
mạc mắt, gà còi cọc, rối lọan thần kinh gà chết ồ ạt như bị dịch. Gà mái đẻ
giảm,trứng ấp nở kém.
Vitamin D cần thiết cho động vật hấp thụ và tích lũy canxi, là tác nhân chống còi
xương. Thiếu D
3
gà chậm lớn, xương bị biến dạng, gà giảm đẻ, vỏ trứng miềm, tỉ
lệ ấp nở giảm.
Vitamin E cần cho khả năng sinh sản. Thiếu vitamin E gà trống bị teo dịch hoàn,
gà mái bị thoái hóa buồng trứng khả năng thụ tinh ấp nở giảm hoặc mất hẳn.
Vitamin B
1

bệnh và tránh tình trạng vỏ trứng bị mỏng (Võ Bá Thọ, 1996).
2.2.7. Vai trò của nƣớc
Nước là thành phần vô cùng quan trong đối với cơ thể động vật. Tuy nó không
cung cấp năng lượng nhưng có vai trò quan trọng trong đời sống động vật. Gà nếu
không được cung cấp đầy đủ nước sản lượng trứng sẽ giảm đi đáng kểu vài ngày.
Nước trong cơ thể động vật chiếm từ 60- 70%, tùy theo tuổi mà tỷ lệ này giảm dần
từ 80% lúc mới sinh và còn 45% lúc trưởng thành. Tỉ lệ cũng biến động theo thể
trạng và các mô khác nhau (Vũ Duy Giãng, 1997).
Nếu không có nước gia cầm sẽ bị chết nhanh hơn là bị đói hoàn toàn. Người ta
biết rằng thiếu thức ăn gia cầm có thể sống được hơn 12 ngày, không có nước gà
sẽ chết vào ngày thứ 3-4. Gia cầm càng non cơ thể càng chứa nhiều nước. Như
vậy nước tỉ lệ với khối lượng của cơ thể (Bùi Thị Kim Dung, 1996).
Nước cần cho việc phân giải protein, lipid, glucid. Nuớc tạo điều kiện để thấm hút
các chất khoáng, các vitamin và các sản phẩm phân giải khác. Nước là môi trường
cần thiết cho các quá trình lên men của trao đổi chất trong cơ thể cũng như đối với
sự thẩm thấu và khuếch tán các chất. Nó vận chuyển các chất dinh dưỡng và các
sản phẩm của trao đổi chất trong cơ thể (Melkhin và Gridin, 1977).
Yêu cầu về nước uống là phải sạch và đầy đủ. Tiêu chuẩn về nước uống cho gà có
thể áp dụng tiêu chuẩn nước uống cho người. Phải thường xuyên kiểm tra hệ thống
cung cấp nước. Nước uống và thức ăn tiêu thụ sẽ nói lên tình trạng sức khỏe của
con vật
Phương pháp cung cấp nước cho gà là cho chúng tiếp xúc trực tiếp với nguồn
nước để chúng được uống thỏa thích. Tuy nhiên cần chú ý đảm bảo những chỉ tiêu
vệ sinh nước uống, nồng độ chất hòa tan không vượt quá 15g/1l. Nước tốt chứa 2g
chất hòa tan/1l. Nacl không vượt quá 10g/1l, muối sulfat không quá 1g/1l. Muối
nitrat tối đa 50- 100ppm. Không cho vật nuôi uống nước bị nhiễm tác nhân gây
bệnh truyền nhiễm, kí sinh trùng hoặc hóa chất độc hại (Vũ Duy Giảng, 1997).

Chăn nuôi gia cầm A Kỹ thuật nuôi gà Isabrown thương phẩm
từ 6-11 tuần tuổi

này. Khi các chất dinh dưỡng khác có đủ lượng trong thức ăn thì khả năng tiêu thụ
thức ăn được xác định trước tiên dựa trên mức năng lượng của khẩu phần. Mức
tiêu thụ năng lượng của gia cầm hang ngày có thể đo bằng kilocalo năng lương
trao đổi thì chắc chắn sẽ ổn định hơn là tổng lượng thức ăn tiêu thụ, nếu trong
khẩu phần có chứa các mức năng lượng khác nhau.
2.3.1.2. Nhu cầu sinh trưởng
Trong hầu hết các trường hợp, nhu cầu năng lượng không được trình bày một cách
chính xác như các nhu cầu về acid amine, vitamin và khoáng. Tốc độ tăng trưởng
tốt có thể đạt được với một biên độ rộng của các mức năng lượng, bởi vì gia cầm
có khả năng điều chỉnh lượng thức ăn ăn vào để duy trì một mức tiêu thụ năng
Chăn nuôi gia cầm A Kỹ thuật nuôi gà Isabrown thương phẩm
từ 6-11 tuần tuổi
18 SVTH: Trần Nhựt Tiến
lượng khá ổn định. Nhìn chung tốc độ tăng trưởng tối đa sẽ không đạt được với
khẩu phần khởi động cho gà và gà tây con có mức năng lượng dưới 2640 kcal
ME/kg. Gà thịt thường được cho ăn mức năng lượng cao hơn gà hậu bị thay thế.
Trong sản xuất gà thịt, tốc độ tăng trọng tối đa là yêu cầu cần thiết để gà đạt trọng
lượng bán trong thời gian ngắn nhất, nhưng với những gà hậu bị thay thế thì tốc độ
tăng trưởng nhanh lại ít quan trọng hơn. Thực tế sản xuất cho thấy, khẩu phần khởi
động cho gà con làm gà hậu bị thay thế có từ 2750 đến 2970 kcal/kg, ngược lại
khẩu phần khởi động của gà thịt lại chứa mức năng lượng cao hơn, trong phạm vi
từ 3080 đến 3410 kcal/kg (Bùi Xuân Mến, 2007).
2.3.2. Nhu cầu protein
Theo Bùi Xuân Mến (2007) thì protein cần thiết cho duy trì tương đối thấp, vì thế
yêu cầu protein trước hết tùy thuộc vào lượng cần thiết cho mục đích sản xuất. Để
đáp ứng nhu cầu protein thì các acid amine thiết yếu phải được cung cấp đủ lượng
và tổng lượng nitơ trong khẩu phần phải đủ cao và ở dạng thích hợp để cho phép
tổng lượng acid amine không thiết yếu. Một khi lượng protein tối thiểu được yêu
cầu cung cấp cho sinh trưởng hoặc sản xuất trứng tối đa thì protein cần cộng thêm
do bị oxy hóa thành năng lượng cũng phải tính đến. Protein cũng không được dự

chính xác, đặc biệt đối với các vitamin và khoáng chất biết chắc chắn là bị thiếu
trong các khẩu phần sản xuất. Ngoại trừ một số ít các vitamin hoặc khoáng không
biết chắc chắn là thiếu dưới những điều kiện sản xuất, các mức trong khẩu phần
được khuyến cáo là sẽ cung cấp lượng đủ để cho phép gia cầm sản xuất hiệu quả.
Không như protein, các yếu tố vitamin và khoáng vi lượng luôn được cung cấp
vượt qua mức nhu cầu tối thiểu trong khẩu phần. Vì vậy, nhu cầu vitamin và
khoáng vi lượng thường không được chỉ dẫn theo tỷ lệ thức ăn tiêu thụ hoặc mức
năng lượng có trong thức ăn, từ đó số lượng đủ luôn trên mức nhu cầu tối thiểu
được tính trong các khẩu phần cho gia cầm (Bùi Xuân Mến, 2007).
2.3.4 Nhu cầu canxi cho gà mái đẻ trứng
Chất dinh dưỡng cần thiết chủ yếu trong khẩu phần của gia cầm mái đang đẻ là
canxi. Cho mỗi trứng lớn gà mái đẻ ra cần 2 g canxi để thành lập vỏ trứng. Một gà
mái đẻ 250 trứng một năm cần tích 500g canxi, chủ yếu ở dạng carbonate canxi
(tương đương với 1300g). Canxi không được sử dụng hiệu quả đối với gà mái đẻ,
có thể chỉ khoảng 50 – 60% lượng canxi ăn vào được giữ lại và chuyển vào trứng.
Như vậy, để đảm bảo sản xuất ra vỏ trứng theo yêu cầu thì gà mái này cần tiêu thụ
2600g carbonate canxi trong một năm đẻ. Đây là lượng khoáng vượt quá cả thể
trọng của gà mái. Qua sự đánh giá này cho thấy tầm quan trọng của sự trao đổi
canxi phải diễn ra liên tục trong một gà mái đang đẻ và quá trình trao đổi này cũng
lớn hơn bất kỳ loài vật nào khác.
Nhu cầu canxi đối với gia cầm mái đang đẻ khó xác định được chính xác, bởi vì
duy trì ở một tỷ lệ đẻ cao thì mức canxi trong thức ăn lại thấp hơn yêu cầu để tạo
ra một vỏ trứng vừa ý. Thị trường hiện đại và những điều kiện quản lý trứng yêu
cầu vỏ trứng bền, không bị nứt bể dễ dàng trong buôn bán. Khi gà mái đi vào kỳ
cuối của năm đẻ thường cho những trứng có vỏ mỏng và chất lượng kém hơn
trong thời kỳ đẻ đầu. Thời tiết nóng cũng làm cho gà đẻ trứng có vỏ mỏng hơn.
Chất lượng vỏ trứng cũng có thể bị ảnh hưởng bởi bệnh đường hô hấp, vì có thể
bệnh này đã làm ảnh hưởng đến ống dẫn trứng nên gà đẻ ra trứng có vỏ không
bình thường. Thực tế không phải tất cả các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng vỏ
trứng nêu trên có thể được sửa chữa bằng cách cho thêm canxi vào thức ăn.

sơ gà không tự bổ sung bằng cách ăn chất độn chuồng. Vì vậy cần bổ sung vào
khẩu phần đầy đủ chất. Mặt khác gà mái đẻ nhốt trong lồng chật nên ít vận động,
do đó dễ mập có hiện tượng ngán ăn nên ta cần giảm năng lượng thức ăn và tăng
mức protein cao hơn nuôi nền. Gà nuôi trên lồng tuy vỏ trứng sạch nhưng vỏ trứng
mỏng, dễ bể (Dương Thanh Liêm, 2002).
Nuôi nền cần ít năng lượng 2750kcal/kg thức ăn và mức đạm là 18% thì nuôi lồng
cần 2650kcal/kg thức ăn, mức protein là 19% (Phylaxia, 1978).
Chăn nuôi gia cầm A Kỹ thuật nuôi gà Isabrown thương phẩm
từ 6-11 tuần tuổi
21 SVTH: Trần Nhựt Tiến
2.4.3.2 Nuôi dƣỡng lệch pha
Giai đoạn hậu bị nuôi nền, giai đoạn đẻ trứng nuôi lồng. Ưu điểm của phương
pháp này là không tốn lồng để nuôi gà hậu bị, thể chất của gà nuôi nền tốt hơn
nuôi lồng, xương cứng, sứ c đề kháng bệnh tốt h ơn, bắp th ịt rắ n chắc và ít tích m
ỡ hơn, do đó khi gà mái đưa lên lồng để khai thác trứng, có sức chịu đựng tốt hơn
nuôi lồng từ đầu đến cuối (Dương Thanh Liêm, 2002).
2.5 TIÊU CHUẨN VỀ ĐIỀU KIỆN TIỂU KHÍ HẬU
2.5.1 Nhiệt độ
Nhiệt độ của chuồng nuôi là điều kiện tiểu khí hậu quan trọng nhất. Ảnh hưởng rất
lớn đến sức khỏe và năng suất của đàn gà. Nhiệt độ nóng hay lạnh đều tác động
trực tiếp đến cơ thể gà và khả năng hấp thu chất dinh dưỡng của chúng. Nhiệt độ lí
tưởng trong chuồng từ 20 - 25
0
C (Võ Bá Thọ, 1996).
Theo Dương Thanh Liêm (1999) thì nhiệt độ dưới đèn úm lý tưởng được trình bày
ở bảng 5.1 như sau:
Bảng 5.1: Nhiệt độ dƣới đèn úm lý tƣởng
Ngày tuổi
Nhiệt độ dưới đèn (
0

độ của không khí, sức đẻ trứng, thành phần thức ăn, phương pháp thu dọn phân, sự
cách li của tường và nền chuồng,…Do đó cần có hệ thống thông khí. Độ ẩm của
không khí tốt nhất trong chuồng nuôi từ 65-70%, độ ẩm không khí cao ảnh hưởng
đến sự cân bằng nhiệt, gián tiếp ảnh hưởng đến khả năng sản xuất của gà. Độ ẩm
thấp có hại cho gà vì bụi sinh ra nhiều làm hỏng màng nhầy, không khí khô làm
khô da, gây ra bệnh ngứa, đây là một trong những nguyên nhân gây mổ nhau, ăn
long (Hattenhauer, 1978).
Ẩm độ tương đối của không khí chuồng nuôi hoàn toàn phụ thuộc vào kĩ thuật
nuôi, mật độ nuôi, phương pháp cho uống và thể thức lưu thông khí của chuồng
nuôi. Khi ẩm độ cao gà có biểu hiện khó thở dễ mắc các bênh v ề đường hô hấp,
ảnh hưởng đến cơ chế điều tiết than nhiệt. Ẩm độ cao gây tác hại gián tiếp là điều
kiện thuận lợi cho sự tồn tại và phát triển ciủa các loại mầm bệng như vi khuẩn,
nấm mốc … đặc biệt là cầu trùng (Võ Bá Thọ, 1996).
Ẩm độ chuồng nuôi gà sinh sản thích hợp là 60-70% (Nguyễn Đức Hưng, 2006).
Ẩm độ khô nhu cầu về nước uống của gà tăng lên đồng thời nhu cầu về thức ăn sẽ
giảm, gà dễ bị mất nước, da khô, chuồng bụi,…Giữa nhiệt độ và độ ẩm tương đối
có mối tương quan nghịch với nhau. Theo Dương Thanh Liêm (1999) thì ẩm độ
tương đối trong chuồng nuôi gà được coi là lý tưởng như sau
- Giai đoạn gà con: 50 – 55%
- Giai đoạn gà giò: 60 – 65%
- Giai đoạn gà trưởng thành: 65 – 75%.
2.5.3 Chế độ chiếu sáng
Chế độ chiếu sáng giúp cho gà thuần thục giới tính đúng ngày giờ, đẻ sai và duy
trì năng suất đẻ. Thời gian chiếu sáng ở gà đẻ không dưới 14h/ngày đêm, tuần đẻ
thứ 16 trở đi tăng dần và đạt tối đa là 17h/ngày đêm. Cường độ chiếu sáng 3-4
W/m
2
nền. Ánh sáng màu đỏ có lợi cho gà đẻ (Nguyễn Đức Hưng, 2006).
Chăn nuôi gia cầm A Kỹ thuật nuôi gà Isabrown thương phẩm
từ 6-11 tuần tuổi

3
không khí/giờ/kg thể trọng thì đàn gà đó
có nguy cơ mắc bệnh hô hấp và bệnh Newcastle cao hơn bình thường. Nếu gà
sống trong điều kiện có sự trao đổi thông khí tốt trên 5m
3
không khí/giờ/kg thể
trọng thì khả năng mắc bệnh rất thấp (Lã Thị Thu Minh, 1995).
Nhiệt độ của môi trường làm tăng tốc độ bài tiết ra khí cacbonic của gà. Sơ bộ có
thể tính được là một gà mái đẻ thải ra khoảng 1,4 lít khí cacbonic trên một kilogam
cơ thể. Hàm lượng cacbonic không thể là tiêu chuẩn để xét chất lượng không khí
Chăn nuôi gia cầm A Kỹ thuật nuôi gà Isabrown thương phẩm
từ 6-11 tuần tuổi
24 SVTH: Trần Nhựt Tiến
trong chuồng nuôi vì thiếu sự tương quan với các thành phần khác và các yếu tố
của tiểu khí hậu ( Hattenhauer, 1978).
2.5.6 Mật độ nuôi
Mật độ nuôi có liên quan đến sức khỏe và năng suất của gà. Tùy vào phương thức
nuôi, kiểu chuồng, tiểu khí hậu hoặc hệ thống điều hòa trong chuồng nuôi và tuổi
của gà mà bố trí mật độ nuôi thích hợp (Bùi Xuân Mến, 2007).
(Hattenhauer, 1978) khả năng sản xuất của gà phụ thuộc vào mật độ nuôi (số
lượng gà mái/1m
2
diện tích sản xuất của chuồng nuôi). Nuôi càng dầy thì sức đẻ
trứng của gà mái càng giảm xuống mặc dù số trứng tính trên một đơn vị diện tích
sản xuất của chuồng nuôi có thể tăng lên. Mật độ nuôi được biểu thị qua bảng 5.3
sau:
Bảng 5.3 : Mật độ nuôi gà chuyên trứng (con/m
2
)
Các giai đoạn tuổi

Nhỏ, màu nâu xanh
Chăn nuôi gia cầm A Kỹ thuật nuôi gà Isabrown thương phẩm
từ 6-11 tuần tuổi
25 SVTH: Trần Nhựt Tiến
Mỏ
Ngắn chắc, không vẹo mỏ
Dài, mảnh
Mào và
tích tai
Phát triển tốt, có nhiều mao mạch
Nhỏ, nhợt nhạt
Thân
Dài, sâu, rộng
Hẹp, ngắn, nông
Bụng
To, mềm, khoảng cách giữa cuối
xương lườn và xương háng rộng
Nhỏ, không mềm, khoảng cách
giữa cuối xương lườn và xương
háng hẹp
Chân
Màu vàng, bóng, ngón chân ngắn
Màu vàng, bóng, ngón chân ngắn
Lông
Mềm, sáng
Mềm, sáng
Tính tình
Ưa hoạt động
Ưa hoạt động
(Nguồn: http://www.cucchannuoi.gov.vn)



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status