TIỂU LUẬN
TÍNH TỰ TRỊ CỦA LÀNG XÃ
VIỆT NAM
Mục lục
* Mở đầu
I. Một số vấn đề về tính tự trị của làng xã Việt Nam
1. Thế nào là tính tự trị của làng xã?
2. Nền tảng của tính tự trị của làng xã?
3. Cái gì nuôi dưỡng và củng cố tính tự trị của làng
xã?
II. Biểu hiện của tính tự trị của làng xã
1. Tính tự trị của làng xã thể hiện qua mối quan hệ
giữa làng với làng
2. Tính tự trị của làng xã thể hiện qua mối quan hệ
giữa làng với nước
2.1. Qua tính chất bộ máy quản lý
Qua tính tự trị của làng xã thể hiện qua hương
ước
III. Hai mặt của tính tự trị của làng xã
1. Tích cực
2. Tiêu cực
IV. Kết luận
* Tài liệu tham khảo *Mở đầu
Các nghiên cứu về nông thôn cho thấy làng là đơn vị xã hội tồn
tại lâu đời. Trước tiên làng là một công xã nông thôn, sau mới
chức xã hội nào cũng có cách quản lý của nó để nắm các thành
viên theo một quy chế thống nhất. Mỗi làng xã cũng vậy. Nó
cũng có cách tổ chức quản lý của riêng nó. Không có một cách
quản lý dùng chung cho mọi làng xã. Như vậy bản thân làng
xã có sự “độc lập tương đối” với các đơn vị xã hội khác, kể cả
nhà nước.
Thứ hai, Nhà nước ra đời trên cơ sở tập hợp các làng xã. Hay
nói cách khác nhà nước xuất hiện là tổ chức của nhiều làng.
Điều đó có nghĩa là trước khi Nhà nước ra đời, làng xã tồn tại
như một thực thể riêng biệt với các thành viên, bộ máy
quản lý, bộ phận bảo vệ an ninh, quy ước hành động… Có thể
nói làng xã như một “nhà nước con”. Nhà nước khó có thể
“xâm phạm” vào được. Thêm vào đó, sự tồn tại các phe phái,
các quan hệ chồng chéo trong làng làm nảy sinh những mâu
thuẫn ngầm trong nội bộ từng làng mà Nhà nước không thể
điều hoà nên đành “để mặc” cho làng xã tự giải quyết (trong
phạm vi cho phép là không làm tổn hại đến Nhà nước).
Thứ ba, Nhà nước để có sức người sức của dùng vào việc công
và quốc phòng cần phải có sự đóng góp của người dân. Nhưng
người dân lại chịu sự kiểm soát của làng xã về mọi mặt từ lâu
đời. Muốn đạt được mục đích Nhà nước phải đi đến người dân
thông qua làng xã. Nhà nước giao chỉ tiêu, làng xã trực tiếp
thực hiện từ việc thu thuế, bắt lính, huy động lao dịch…. Như
vậy, nhà nước chỉ biết đến làng xã mà không biết đến từng cá
nhân. Có thể nói, về mặt này, làng xã là công cụ khá lý tưởng
phục vụ cho Nhà nước. Đổi lại Nhà nước muốn làng xã làm lợi
cho mình thì đương nhiên phải tôn trọng quyền tự trị- quyền
“độc lập tương đối” của làng xã.
Những điểm này chính là nguồn gốc và thực chất của cái gọi là
“tự trị” của làng xã.
kéo dài tới 4 năm, thậm chí có làng 6 năm mới chia lại ruộng
công. Có năm nhà nước đề ra phép chia ruộng theo số dân.
Nhưng tới làng xã thì thực hiện lại khác.Vì ngoài việc chia
ruộng theo suất đinh, làng còn những loại ruộng khác cho
giáp, chùa, hội tư văn, cho các chức dịch từ xã trưởng đến
mõ…
Tính chất tự trị của làng xã tồn tại lâu đời là do nhiều nguồn
nuôi dưỡng nó, nhưng tôi cho rằng chính việc sử dụng quân
điền và cách phân chia ruộng công trong thời kỳ phong kiến là
nền tảng kinh tế vững chắc nhất cho tính chất độc lập của làng
xã được duy trì.
II. Biểu hiện của tính tự trị của làng xã
1. Tính tự trị của làng thể hiện trong mối quan hệ giữa
làng với làng
Làng xã là một thực thể thống nhất. Nó có đầy đủ các bộ phận
để hoạt động, để “sống” và tự bảo vệ mình khỏi xâm nhập từ
bên ngoài. Nguyễn Đổng Chi cho rằng “làng là một cơ thể trọn
vẹn, gần như một con người, nhưng lại là một con người phi
giai cấp. Trong cơ thể người trọn vẹn đó, không những có ẩn
giấu một linh hồn, một tâm lý ý thức cộng đồng, mà còn có
một cá tính riêng, nghĩa là một đặc sắc riêng về tính cách”.
Đúng vậy, mỗi làng không những có một địa vực riêng mà còn
có một tín ngưỡng riêng, luật lệ riêng, nhiều nét văn hoá khác
nhau…
1.1.Về địa vực
Mỗi làng đều có giới hạn phạm vi của làng rất rõ ràng. Nhiều
làng có mốc giới lãnh thổ, có cổng làng và điếm canh… Nếu vì
một lý do gì đó, cái ranh giới cũ bị thay đổi thì sự tranh giành
lãnh thổ sẽ diễn ra lâu dài và gay go thậm chí gây tổn thất rất
lớn cho hai bên và kéo dài tới nhiều thế hệ con cháu trong
thức tổ chức lễ hội phụ thuộc vào mỗi vị thánh làng thờ.
Mỗi làng xã có cá tính khác nhau. Thậm chí nhờ vào tính cách
đặc trưng đó của làng, người ta có thể nhận biết được làng.
Chúng ta đã từng nghe những câu tục ngữ như; “Trai Cầu
Vồng Yên Thế, gái Nội Duệ Cầu Lim”, “Văn chương Xuân Mỹ, lý
sự Thuỷ Khê”, “Chua ngoa là đất Kẻ Đình, dài váy Đốc Tín, cậy
mình Kẻ Siêu”…
1.3. Về lệ tục của làng: điều này thể hiện rõ nhất qua hương
ước làng. Làng nào cũng có hương ước riêng với những quy
định không giống nhau. Nhiều khi hương ước của làng này đề
cập đến một số vấn đề mà hương ước làng khác không có,
thậm chí có trường hợp hương ước làng này trái hẳn với hương
ước làng kia. Mặt khác, trải qua thời gian và tác động của
nhiều yếu tố, mỗi làng có sự biến đổi khác nhau, kéo theo đó
là sự thay đổi không giống nhau của hương ước mỗi làng. Vì
hương ước là để quản lý làng xã, nên khi làng xã có biến đổi,
hương ước cũng phải được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp.
Những lần sửa đổi này nhiều khi làng xã không trình báo lên
chính quyền phong kiến cấp trên. Những điều này càng làm
tăng tính khác biệt giữa hương ước của các làng xã.
2. Tính tự trị của làng xã thể hiện qua mối quan hệ giữa
làng với nước
2.1. Qua tính chất bộ máy quản lý làng xã
Mỗi làng xã có hai cơ quan quản lý. Đó là cơ quan của nhà
nước, đứng đầu là các xã quan (xã trưởng, sau này là các lý
dịch: lý trưởng, phó lý, hương thân, hương hào, khán thủ,
hương trưởng) và Hội đồng kỳ mục của làng xã đứng đầu là
các tiên thứ chỉ (thường là quan lại về hưu, người cao tuổi
trong làng…). Vậy, muốn xét tính chất độc lập của làng xã
trong mối quan hệ với nhà nước, ta có thể xét tầm quan trọng
nước chính thức thừa nhận. Qua cách thức này, chúng ta thấy
xã quan “xếp sau” bộ phận cai trị truyền thống của làng đó là
tiên thứ chỉ, hương chủ… và quan viên bô lão.
Thực tế cho thấy, các lý dịch không bao giờ được nắm quyết
định tối hậu cho mọi việc trong làng. Xã trưởng hay lý trưởng
hoàn toàn không phải người đứng đầu một làng. Vai trò đó
thuộc về tiên chỉ, thứ chỉ hay hương chủ.
Trong sự sắp xếp ngôi thứ tại làng, các lý dịch chỉ xếp ở hàng
thứ ba thứ tư. Trong các kỳ hương ẩm, miếng ăn và chỗ ngồi
thể hiện rõ địa vị và ngôi thứ trong làng. Ở đình làng, gian
giữa là chỗ trọng nhất, đến gian tả, sau cùng là gian hữu. Lý
dịch và hương chức chỉ được ngồi gian hữu cùng với hạng vũ
biền. Gian tả dành cho các văn khoa. Gian chính giữa dành cho
các quan to, quan chức, bô lão. Về chia phần: thủ lợn dành
cho tiên chỉ, chức sắc; lý trưởng được một miếng thịt… Các
quyền lợi khác, lý dịch đều được hưởng kém phần so với các
chức sắc truyền thống của làng.
Về phẩm trật của lý dịch: xã quan từ được xếp hàm tứ ngũ lục
phẩm ở thế kỷ XIII, xuống tòng cửu phẩm đầu thế kỷ XIX-
phẩm cấp cuối cùng trong hàng quan lại. Đến đời Minh Mệnh,
xã quan không được ban phẩm hàm. Lý dịch hạ vai trò tới mức
thấp nhất, chỉ còn là một bộ phận nằm trong bộ máy quản lý
làng xã. Điều đó có nghĩa là sự can thiệp của nhà nước vào
làng xã (thông qua xã quan) bị suy yếu, đồng nghĩa với việc
làng xã tăng cường tính chất tự trị tự quản. Thêm vào đó là
quyền lực lý dịch được gia tăng trong đời sống xã thôn làm cho
tính tự trị của xã thôn tăng lên gấp bội.
Hội đồng chức dịch chỉ đóng vai trò là bộ phận trung gian giữa
làng xã và nhà nước. “Lý trưởng là người mối giới giữa chính
phủ với làng xã. Lý trưởng phải giữ các công văn địa bạ, các sở
trị của làng xã còn mạnh mẽ thì không thể xoá bỏ bộ máy
quản lý đó.
2.2. Qua hương ước
Chúng ta đã biết, làng xã từ xa xưa đã có các quy ước và quản
lý nông dân theo các quy ước đó. Đó chính là lệ làng. Hương
ước ra đời là văn bản hoá lệ làng. Đó là sự khẳng định thêm
một lần nữa tính tự quản của làng xã.
Nhà nước trung ương đã thấy rõ tính tự trị của nhà nước thể
hiện qua hương ước. Đồng thời còn thấy rõ sự phân tán quyền
lực do tính chất đó của làng xã-mối nguy hại tới chính quyền
trung ương tập quyền. Chính vì vậy, chính quyền đã khuyên
rằng “các làng xã không nên có khoán ước riêng”, mà nên thực
hiện theo luật nước. Sách Hồng Đức thiện chính thu có ghi
“nhà nước có điều luật để chiếu vào đó mà thi hành; dân an
nước thịnh không nên có khoán ước riêng, để trừ bỏ cái hại,
theo chính bỏ tà…”[3]. Nhà nước tỏ thái độ hai mặt đối với
hương ước là vừa ngăn cản, vừa lợi dụng hương ước để can
thiệp vào làng xã. Dùng hương ước để lệ làng hoá phép nước
“Nước có luật lệ của nước, làng có hương ước riêng” hay “Nhà
nước có pháp luật quy định, còn dân có những điều ước
riêng”…. Ngay từ phần mở đầu của hương ước đã khẳng định vị
trí độc lập tương đối của làng với nhà nước. Như chúng ta đã
biết, từ thế kỷ XV, nhà nước ngày càng can thiệp sâu vào đời
sống làng xã bằng cách đặt hệ thống xã quan song song với hệ
thống quản lý cổ truyền của làng xã. Vậy mà mỗi làng xã đều
khẳng định một cách dứt khoát “quyền tự trị” của mình bằng
lời “tuyên ngôn” mở đầu cho “bộ luật” của nó[4]. Làng xã công
khai tuyên bố quyền tự trị của mình với nhà nước và được nhà
nước thừa nhận. Bằng chứng là hương ước của tất cả làng xã,
xã, thậm chí ảnh hưởng cả về mặt tâm lý làng xã. Lợi ích của
họ gắn liền với lợi ích của làng xã. Bởi vậy, với nho sĩ nhiều khi
việc làng còn “to” hơn việc nước. Như vậy, đương nhiên hương
ước do họ soạn thảo cũng phải rất chú trọng tới lợi ích của làng
xã.
Thường thì hương ước được thi hành theo đúng nguyên tắc
không trái với luật nhà nước. Nhưng đôi khi vẫn xảy ra trường
hợp lệ làng được coi trọng hơn phép vua luật nước. Hương ước
của làng nào cũng ngăn cản và “trừng phạt” những người
“vượt làng” đi kiện cáo lên quan trên. Người phạm tội, nhà
nước xử theo luật nước, làng xử theo lệ làng. Có những hình
phạt trong luật nước không có mà hương ước làng lại có như:
trừng phạt bằng cách tẩy chay đám tang,… Thêm vào đó là
trong xã hội nông thôn truyền thống, đa số người nông dân
sống khép kín, cả đời chẳng mấy khi bước chân ra khỏi làng. Vì
vậy họ thường sống theo lệ làng mà ít biết đến, ít tuân thủ luật
pháp nhà nước. Tính tuỳ tiện, không tuân thủ luật pháp của
nông dân đến nay vẫn còn nặng nề.
Hương ước ra đời là kết quả của sự thoả hiệp giữa tính tự trị
của làng xã và tính áp chế của chính quyền nhà nước. Có thể
nói nó thể hiện rất rõ tính tự trị của làng xã đối với nhà nước.
Hầu hết làng xã truyền thống ở Bắc và Trung Bộ đều có hương
ước để quản lý làng mình thật chặt chẽ. Làng xã thay đổi thì
hương ước sẽ được sửa đổi, bổ sung sao cho phù hợp với
tình hình mới. Nếu vì một lý do nào đó làng mất hương ước thì
sau đó sẽ nhanh chóng được lập lại.
III. Hai mặt của tính tự trị của làng xã Việt Nam
1. Tích cực
Có thể thấy tác dụng tích cực nhất của tính tự trị làng xã là
làm cho nội bộ làng xã có một sự cố kết chặt chẽ mà khó có
thống nước Nam. Truyền thống đó được gìn giữ lâu đời và vô
cùng vững chắc nhờ làng xã, văn hoá ngoại lai khó có thể xâm
nhập.
Với tính tự trị tự quản của mình, làng xã là nơi bảo lưu tốt
nhất những giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp, đáng quý để
cho con cháu đời sau noi gương học tập như: truyền thống yêu
nước chống giặc ngoại xâm, truyền thống giữ đạo hiếu, nhân
nghĩa, truyền thống học tập…
2. Tiêu cực
2.1. Làng xã là công cụ của chính quyền trung ương nhằm bóc
lột nông dân. Trong thời kỳ phong kiến, nhà nước luôn dựa vào
làng xã để thu cống phú, thuế má, binh dịch. Đến thời Pháp,
khi mới đặt nền đô hộ trên đất nước ta, chúng đã có ý thức lợi
dụng bộ máy và cơ chế quản lý cũ của làng xã để vơ vét tiền
của của nhân dân. Toàn quyền P.Doumer cũng giống như nhà
nước phong kiến đều cho rằng: “Nhờ cơ cấu vững chắc của
làng xã An Nam…trước mắt chúng ta không phải là hàng triệu
cá nhân mà chỉ có vài ngàn tập thể tổ chức chặt chẽ và có kỷ
luật, liên hệ với chúng ta theo từng đơn vị khối mà chúng ta
chỉ biết có hội đồng kỳ mục mà thôi”
2.2. Tính tự trị của làng xã luôn có xu hướng làm cho làng xã
hoạt động độc lập hoàn toàn, xa rời quỹ đạo quản lý của nhà
nước. Trong thời kỳ phong kiến, như trên đã nói, khi có giặc
ngoại xâm, sự cố kết các làng xã là cao nhất đê cùng nhau
chống giặc, bảo vệ đất nước. Nhưng kết thúc chiến tranh, sự
phân rã vô cùng lớn hơn lúc nào hết. Có thể nói, trong thời
bình, sự cố kết giữa các làng xã rất lỏng lẻo, mà khi đó chính
quyền trung ương tập quyền lại suy yếu, không đủ sức kiểm
soát nổi làng xã thì điều tất yếu là trong nước sẽ sinh biến
loạn. Ví dụ như cuối thời Trần (cuối thế kỷ 13-14), xã hội có
như các làng đều khai man số ruộng để trốn thuế, khai man số
đinh để trốn phu dịch. Nhà nước có biết đìêu đó, cũng đành lấy
diện tích và dân số cố định của làng vào năm điều tra để làm
chuẩn. Nhiều làng còn phản đối nhà nước bằng cách “giải toả”
làng, dân đi phiêu tán. Đến khi nhà nước chấp nhận số thuế và
số đinh theo yêu cầu của họ thì họ mới trở về lập lại làng. Tuy
trường hợp này không phổ biến rộng nhưng cũng không phải là
ít xảy ra. Tình trạng khai man này làm nảy sinh “tệ điêu hào”
rất phổ biến trong làng xã. Đó là các chức sắc trong làng khai
man để thu lợi vào túi mình. Chúng rất lộng hành, hành động
tuỳ tiện, không tuân theo pháp luật, gây ra nhiều nhũng nhiễu
trong làng xã.
2.4. Làng xã với tính tự trị của nó bảo lưu rất tốt các giá trị
truyền thống nhưng đồng thời nó cũng lưu giữ những hủ tục
“thâm căn cố đế”, không dễ dàng xoá bỏ vì nhà nước có muốn
can thiệp vào cũng không đơn giản. Như những hủ tục về khao
vọng, cưới xin, ma chay cỗ bàn đình đám, trọng nam khinh nữ,
đông con nhiều của… mà đến ngày nay chúng ta vẫn chưa xoá
bỏ được hết, thậm chí để xoá bỏ được một vài hủ tục cũng rất
khó khăn và mất một thời gian không phải là ngắn.
IV. Kết luận
1. Tính tự trị của làng xã dù có mặt tích cực hay tiêu cực
thì cũng tồn tại một cách tất yếu. Xã thôn còn thì tính tự trị
vẫn còn. Thời phong kiến, trong làng ngoài bộ phận tự trị có
thêm bộ phận chính quyền nhà nước chồng xếp lên nhau tạo
nên một kết cấu quyền lực kép. Đến năm 1945, kết cấu này bị
bãi bỏ vì cấp xã lúc này là một đơn vị chính quyền liên làng
(khoản 5-6 làng). Bộ phận tự trị của làng bị giải thể. Nhưng từ
đầu thập kỷ 90 của thế kỷ 20 về sau, làng thôn được tái lập.
4. Bùi Xuân Đính, Hương ước và quản lý làng xã, NXB
KHXH, Hà nội, 1998.
5. Bùi Xuân Đính, Lệ làng phép nước, NXB Pháp lý, Hà nội,
1985
6. Lê Doãn Tá, Đinh Xuân Lâm (cb), Một số chuyên đề về
lịch sử Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà nội, 1997
7. Viện sử học, Nông thôn Việt Nam trong lịch sử TII, NXB
KHXH, Hn.1978
8. Diệp Đình Hoa (cb), Tìm hiểu làng Việt, NXB KHXH,
H.1990
9. Làng văn hoá cổ truyền Việt Nam, NXB Thanh Niên, Hà
nội, 2000