Tiểu luận: Tình hình chung của giáo dục đại học, giáo dục đại học ngoài công lập. Hãy phân tích về: Chương trình – Giáo trình - Pdf 16

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA GIÁO DỤC

BỘ MÔN
GIÁO DỤC ĐẠI HỌC THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
 
ĐỀ TÀI: A. Tình hình chung của giáo dục đại học
B. Giáo dục đại học ngoài công lập
Hãy phân tích về: Chương trình – Giáo trình
GVHD: PGS.TS. Phạm Lan Hương
Thực hiện: Nhóm 09



1

LỜI MỞ ĐẦU
Đổi mới giáo trình và chương trình giáo dục đại học nhằm nâng cao chất
lượng đào tạo, đáp ứng nhu cầu của người học và của xã hội là một trong những vấn
đề cần được quan tâm không chỉ trong hệ thống giáo dục đào tạo của nước ta mà
còn là của thế giới. Vấn đề đặt ra đối với chương trình đào tạo của từng cơ sở đào
tạo là hướng đến nhu cầu của người học, của người tuyển dụng hay vì mục tiêu chủ
quan của từng cơ sở đào tạo? Vì không thể có mục tiêu chung chung là đáp ứng nhu
cầu của xã hội. Giáo dục và đào tạo phải gắn liền với thực tiễn và phải đáp ứng nhu
cầu của xã hội. Do đó mục tiêu, chương trình, giáo trình, giáo dục, đào tạo phải
được xác định rõ ràng và thiết thực, nếu không thì mọi vấn đề tranh cãi về đổi mới
chương trình phương pháp giáo dục nhằm nâng cao chất lượng đào tạo đều không
có điểm kết thúc.
Trong bài tiểu luận này, theo quan điểm của nhóm thực hiện, thì mục tiêu
chương trình đào tạo phải hướng đến nhu cầu của người học, cụ thể là phải đáp ứng
những kiến thức căn bản nền tảng tối thiểu và những kiến thức, kỹ năng thực tế, phù
hợp với yêu cầu của nghề nghiệp chuyên môn mà người học đã lựa chọn. Ngoài ra,
chương trình đào tạo cao đẳng, đại học còn phải phân ranh giới rõ ràng giữa đào tạo
“thợ” hay “thầy”, nếu là “thầy” thì “thầy phải là thầy của thợ” hoặc “thầy có thể làm
thợ khi chưa có điều kiện chưa trở thành thầy”. Yêu cầu này thiết nghĩ mọi người
đều đã và đang nghĩ tới, và có lẽ đây cũng là một hướng đi phù hợp với tâm lý
người học và thực trạng kinh tế- xã hội của nước ta trong giai đoạn hiện nay.

trình, giáo trình đào tạo đại học, đồng thời nâng cao hơn nữa việc xây dựng và áp
dụng chương trình và giáo trình, góp phần đưa nền giáo dục đại Việt Nam ngày
càng tiến lại gần hơn với nền giáo dục các nước trên thế giới. 3

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM
Nền giáo dục đại học Việt Nam hiện nay đã cung cấp nguồn nhân lực cần thiết
cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đóng góp rất quan trọng vào thành tựu
của đất nước: vượt qua khủng hoảng kinh tế, thoát khỏi tình trạng nước nghèo, chủ
động hội nhập quốc tế ngày càng hiệu quả. Nâng cao được trình độ đào tạo, trình độ
và kỹ năng nghề nghiệp của người lao động. Công bằng xã hội trong tiếp cận giáo
dục có nhiều tiến bộ. Chất lượng giáo dục và đào tạo được nâng lên, góp phần đáp
ứng yêu cầu nhân lực phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội. Hệ thống giáo dục đại
học Việt Nam vận hành trong bối cảnh thay đổi nhanh chóng của thế giới việc làm.
Tuy nhiên, ở Việt Nam, chất lượng giáo dục đại trà, đặc biệt ở bậc đại học còn
thấp. phương pháp giáo dục còn lạc hậu và chậm đổi mới.Các điều kiện bảo đảm
phát triển giáo dục còn nhiều bất cập. Đội ngũ giáo viên vừa thiếu vừa thừa, chưa
đồng bộ, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của một bộ phận còn thấp. Cơ sở vật chất
rất thiếu và lạc hậu. Nguồn lực tài chính cho giáo dục chưa bảo đảm nhu cầu chi
thường xuyên, nhất là đối với các tỉnh khó khăn. Con em gia đình nghèo, gia đình
có thu nhập thấp (cận nghèo) và con em đồng bào dân tộc thiểu số còn gặp nhiều
khó khăn trong việc tiếp cận giáo dục, nhất là ở các bậc học cao.M ột số hiện tượng
tiêu cực trong giáo dục chậm được giải quyết. Tư duy giáo dục chậm được đổi mới,
chưa theo kịp yêu cầu phát triển của đất nước cũng như đòi hỏi của sự chuyển đổi
cơ chế quản lý kinh tế-xã hội và hội nhập quốc tế.Quản lý về giáo dục còn yếu kém
và bất cập.
Vì thế, Bộ giáo dục và đào tạo đã và đang thực hiện nhiều quyết sách và chiến
lược mang tính toàn diện theo Nghị quyết Trung ương XI với mục tiêu “Đổi mới

1.3. Yêu cầu của chương trình đào tạo.
- Các cách tiếp cận phát triển chương trình đào tạo, bao gồm:
+Tiếp cận nội dung ( Content Approach).
+ Tiếp cận mục tiêu ( Objective Approach).
+Cách tiếp cận phát triển: (Developmental Apporoach).

5

+Tiếp cận hệ thống.
- Quy trình phát triển chương trình đào tạo, bao gồm các bước:
+ Phân tích bối cảnh và nhu cầu đào tạo.
+ Thiết kế chương trình đào tạo.
+ Thử nghiệm và đánh giá chương trình đào tạo.
- Yêu cầu của chương trình đào tạo: mỗi cở sở đào tạo phải xây dựng chương
trình đào tạo riêng cho cở sở của mình. Chương trình đào tạo phải đảm bảo phù hợp
với sứ mệnh của cơ sở đào tạo, mục tiêu đào tạo, gắn với nhu cầu của xã hội, đảm
bảo năng lực của sinh viên khi ra trường đáp ứng được nhu cầu của nhà tuyển dụng.

2. Giáo trình đào tạo.
2.1. Khái niệm về giáo trình đào tạo.
Giáo trình cụ thể hóa yêu cầu về nội dung kiến thức, kỹ năng và thái độ quy
định trong chương trình đào tạo đối với mỗi môn học, ngành học, trình độ đào tạo
của giáo dục đại học, đáp ứng yêu cầu về phương pháp giáo dục đại học và kiểm
tra, đánh giá chất lượng đào tạo.
Giáo trình là tài liệu quan trọng phục vụ cho việc giảng dạy, chuẩn bị bài
giảng của giảng viên và là tài liệu học tập chính thức đối với môn học có trong
chương trình đào tạo.
2.2. Các loại giáo trình sử dụng trong các trường đại học.
- Giáo trình do cơ sở giáo dục đại học tổ chức biên soạn đối với trình độ cao
đẳng, đại học, thạc sĩ.

môn học.
+ Hình thức và cấu trúc của giáo trình phải đảm bảo tính đồng bộ và tuân thủ
các quy định cụ thể của cơ sở giáo dục đại học. 7

CHƯƠ NG 3: THỰC TRẠNG VỀ CHƯƠNG TRÌNH VÀ
GIÁO TRÌNH ĐÀO TẠO
1. Thực trạng về chương trình đào tạo hiện nay.
- Thực trạng 1: Chương trình học ở Việt Nam quá dài.
+ Ví dụ: Thời gian học 4 năm ở lớp tại Việt Nam là 2183 giờ so với 1380 giờ ở
Mỹ. Như vậy chương trình ở Việt Nam dài hơn gần 60%.
Hoặc một trong những đặc trưng nổi bật của phương pháp giáo dục Mỹ là tôn trọng
thực tế, hiệu quả và "không nhồi nhét". Một học kỳ, thay vì học học 7-10 môn học
như ở Việt Nam, ở M ỹ, sinh viên Mỹ chỉ học 4 đến 5 môn, hiếm có sinh viên nào
chọn học 6 môn một học kỳ. Một năm học ở Mỹ trên lý thuyết là học 9 tháng nhưng
thời gian học thực tế chỉ thường khoảng 7 tháng vì sinh viên ở đây có rất nhiều kỳ
nghỉ xuyên suốt một năm học như đã nói ở trên.(theo Vũ Quang Việt - So sánh
chương trình giáo dục đại học ở Mỹ và Việt Nam)
Ngoài ra, M ột giảng viên đại học kinh tế tại thành phố Hồ Chí Minh cho biết là
số tiết của các môn Mác Lê Nin bậc đại học thuộc nhóm ngành kinh tế là 60 tiết ở 2
năm đại cương, 75 tiết khi vào năm 3 tức chuyên ngành, ở bậc cao học là 90 tiết,
nay chuẩn bị nâng lên 120 tiết. Ngoài ra còn có các môn Lịch sử đảng cộng sản Việt
Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đối với các sinh viên kinh tế, còn có một môn nữa là
Lịch sử các học thuyết kinh tế có 45 tiết học, nhưng trong đó có 30 tiết dành cho
kinh tế Mác Lê Nin. Và theo giảng viên ở Đại học kinh tế này thì số giờ dùng vào
các môn học này là quá nhiều.
+ Nguyên nhân: Điều này có thể là do thiếu sách vở nên thầy phải vào lớp đọc
cho trò chép hoặc là quán tính từ quá khứ để lại. Với thời gian ngồi lớp như vậy,

đòi hỏi tối thiểu là 480 giờ (tức là 1/3 chương trình đại học), như vậy đòi hỏi học
các môn kinh tế gấp 3 lần số giờ ở đại học Mỹ. Nhìn chương trình giảng dậy ở Đại
học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh ta thấy, sinh viên trong 4 năm phải học gần như
tất cả mọi thứ trên đời về kinh tế mà nhà trường có thể nghĩ ra được, từ các môn cơ
bản như kinh tế vi mô và vĩ mô, đến các môn như kinh tế lao động, quản trị xí
nghiệp, kế toán, địa lý kinh tế, luật kinh tế, dân số họ, chính sách thương mại, kinh
tế tài nguyên và môi trường, phân tích dự án kinh tế, thị trường chứng khoán, v.v.
Đây là những môn ít khi dạy ở cấp đại học 4 năm và có dạy thì chỉ là những môn để
học sinh có thể chọn lựa, và đây cũng là những môn mà trường đại học có thầy đã
và đang nghiên cứu chuyên sâu. Đòi hỏi mỗi thứ một tí, học sinh không có khả năng

9

hoặc thì giờ đi sâu vào bất cứ vấn đề gì và chắc chắn là thầy cũng chỉ đọc sách nói
lại mà không hiểu thầy có hiểu không nữa. Theo các tài liệu giáo khoa của trường
thì nội dung rất là rất nặng lý thuyết mà nhiều phần học sinh ở M ỹ chỉ học trong
chương trình sau cử nhân. Như vậy trường chỉ nhằm nhồi sọ kiến thức lý thuyết
kinh tế nhưng sự phân chia chi li các lớp học thì lại có vẻ thực dụng như dạy nghề.
(theo Vũ Quang Việt - So sánh chương trình giáo dục đại học ở Mỹ và Việt
Nam).
Ngoài ra, Theo số liệu dự báo của Bộ Thông tin và Truyền thông, đến năm
2018, Việt Nam sẽ có 50-60 triệu người sử dụng Internet, có khoảng 40 triệu người
sử dụng smartphone, và trên 1 triệu smart tivi tích hợp Internet. Để đón đầu xu
hướng đó, trong vài năm trở lại đây, các doanh nghiệp CNTT cũng tăng cường nhu
cầu tuyển dụng nhân lực. Riêng năm 2012 nhu cầu này đã tăng hơn 66% so với năm
2011, đặc biệt nhu cầu tuyển dụng nhân sự trình độ trung cấp, cao đẳng, đại học
chuyên ngành như lập trình viên, kỹ sư hệ thống mạng, kỹ sư phần cứng, tester,
nhân viên phát triển phần mềm, thiết kế lập trình web, lập trình mobile…
Đối lập với tương lai màu hồng đó, thị trường lao động năm 2012 cho thấy
nguồn cung nhân lực chỉ đáp ứng 70% nhu cầu tuyển dụng. Ngoài ra, nguồn cung

đại học tốt hay không được hoàn toàn quyết định bởi toàn bộ quá trình phấn đấu của
học sinh ở trường trung học. Ngoài chuyện điểm học, điểm thi các kỳ thi bắt buộc
thì chuyện bạn năng động, tích cực trong môi trường trường học cũng là một yếu tố
quan trọng có tính chất quyết định trong việc bạn có được nhận vào đại học hay
không.( theo Phương pháp giáo dục tại các trường ở Mỹ - vnuitp.edu.vn).
+ Nguyên nhân: Do định hướng về dạy trong đào tạo chưa chuẩn mực, quá
nghiêng về số lượng, hình thức, chưa chú trọng chất lượng. Trong chất lượng lại
chưa coi trọng giáo dục phẩm cách, giáo dục tính chân thiện mỹ cho sinh viên mà
thường chú trọng chuyên môn, nhưng có nghịch lý là chuyên môn cũng chưa đạt
yêu cầu. (theo TS Bùi Thị An - Theo Tạp chí Giáo dục Thủ đô số 45 tháng 10/2013)
+ Giải pháp:Điểm mấu chốt của chương trình đào tạo nằm ở chỗ trong quá
trình đào tạo, các trường nghề đẩy mạnh công tác liên kết và hợp tác cùng các
doanh nghiệp để mang lại những cơ hội học tập tốt nhất cho sinh viên. Các bạn
thường xuyên được làm trên các dự án thật do doanh nghiệp cung cấp cũng như đến
thực tập trực tiếp tại công ty để có thể làm quen với môi trường công việc, rèn
luyện, nâng cao tay nghề và không bị bỡ ngỡ khi bắt tay vào công việc thực tế.

11

Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của chương trình giáo
dục (mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục) theo hướng phát triển phẩm chất và
năng lực người học.
Nội dung chương trình phải đổi mới từ phân hóa theo môn học thành tích hợp
theo mục tiêu đào tạo; giảm lý thuyết từng chương, tăng cường thực tế; đổi mới
mạnh mẽ từ nhà trường khép kín, gò bó sang giáo dục xã hội, mở rộng cửa trường
đưa nhà trường thâm nhập vào cuộc sống.
- Thực trạng 3:Các trường xây dựng chương trình đào tạo phải tuân theo
chương trình khung của Bộ giáo dục một cách cứng nhắc. Ở đại học Việt Nam
tất cả các môn có tính bắt buộc, học sinh không có quyền tự chọn, Sinh viên
phải học tất cả mọi thứ mà nhà trường đã quyết định sẵn (Chỉ được chọn môn

dục trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhiều cấp ủy Đảng, chính
quyền từ Trung ương đến địa phương còn lúng túng trong việc cụ thể hóa quan
điểm “giáo dục là quốc sách hàng đầu” và xử lý các vấn đề của giáo dục trong thực
tiễn; chưa thể chế hóa kịp thời, phù hợp các chủ trương, chính sách của Đảng về
giáo dục. Chưa có sự phối hợp tốt giữa các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội
trong việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ phát triển giáo dục. Việc xác định nhiều
mục tiêu phát triển giáo dục chưa tính toán đầy đủ đến các điều kiện thực hiện.
Thiếu quy hoạch phát triển nhân lực của đất nước, của ngành giáo dục. Không kịp
thời sơ kết, tổng kết, đánh giá các chính sách về giáo dục. Các chế độ, chính sách
đối với nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục chưa thỏa đáng.
+ Giải pháp: Bộ Giáo dục và Đào tạo không nên quy định các trường đại học
phải tuân theo chương trình khung một cách cứng nhắc mà hãy để các trường đại
học chủ động biên soạn chương trình. Chương trình khung của Bộ là chương trình
chuẩn để các trường dựa vào đó tự thiết kế chương trình cho mình, như thế mỗi
trường đại học sẽ có chương trình đặc thù mang thế mạnh riêng. Đối với những môn
chuyên ngành, trường sẽ giao cho khoa chủ động xây dựng chương trình. Như vậy
chương trình giảng dạy sẽ hữu dụng hơn vì dựa vào nhu cầu thực tế của xã hội và
trình độ của sinh viên, cơ sở đào tạo sẽ điều chỉnh và cải tiến chương trình học một
cách khoa học và kịp thời.
13

- Thực trạng 4:Không xây dựng tốt chuẩn đầu ra đối với chương trình đào
tạo.
+ Ví dụ: TS Nguyễn Đức Nghĩa, Phó Giám đốc ĐH Quốc gia TP HCM , cảnh
báo tại hội thảo “Giải pháp phát triển nghề nghiệp hướng đến ASEAN 2015” do ĐH
Quốc gia TP HCM tổ chức ngày 16-11: “Nếu các trường ĐH Việt Nam không nâng
được chất lượng đào tạo, không xây dựng chuẩn đầu ra ngang tầm khu vực thì

được kiểm định chất lượng nhưng vẫn được đưa vào hoạt động tại Việt Nam,
tư cách pháp nhân của nhiều đối tác nước ngoài không bảo đảm.
+ Ví dụ: Nguyên Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân đã nêu ra một thực tế giật
mình về việc liên kết đào tạo với nước ngoài: Trong số 200 chương trình liên kết
đào tạo với nước ngoài có những chương trình đào tạo liên kết triển khai tại ĐH
Quốc gia Hà Nội và TP.HCM chất lượng không tốt, không hiệu quả do không thẩm
định hồ sơ chặt chẽ. Bên cạnh đó có tới 40 chương trình liên kết chui, đào tạo không
cấp phép hoặc sai lệch với nội dung cấp phép chương trình(vietbao.vn).
Hay, Có thể chỉ ra Công ty TNHH Đào tạo công nghệ thông tin và Quản trị
kinh doanh Singapore có chức năng đào tạo nghề trình độ sơ cấp và đào tạo bồi
dưỡng ngoại ngữ trình độ A, B, C; tin học trình độ A, B, kỹ thuật viên; công ty
không được phép tổ chức hoạt động giáo dục theo chương trình giáo dục mầm non,
phổ thông, trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học, thạc sĩ và tiến sĩ trên lãnh
thổ Việt Nam.Nhưng thực tế, qua thanh tra công ty này đã tuyển sinh chương trình
cao đẳng và cử nhân khoa học, vi phạm Nghị định 49/2005/NĐ-CP và phải chịu xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục; Thanh tra Bộ GD&ĐT cũng đã
kiểm tra, phát hiện Công ty Melior Việt Nam vì hoạt động quảng cáo, tuyển sinh,
đào tạo trái phép các ngành quản trị kinh doanh, quản trị du lịch và khách sạn trình
độ cao đẳng và đại học trên lãnh thổ Việt Nam.(Thu Phương – Thanh Phong –
cand.com.vn)
+ Nguyên nhân:Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi
đồng cho rằng, công tác quản lý hoạt động liên kết đào tạo với nước ngoài trong
thời gian qua cũng còn nhiều hạn chế. Tiến độ soạn thảo văn bản quy phạm pháp
luật về liên kết đào tạo với nước ngoài còn quá chậm; nhiều vấn đề mới phát sinh,
nhiều nội dung không phù hợp kéo dài nhưng vẫn chậm được sửa đổi, bổ sung dẫn
tới những bất cập trong liên kết đào tạo tại một số cơ sở đào tạo trong thời gian qua.
Công tác thanh tra, kiểm tra trong liên kết đào tạo với nước ngoài chưa đủ rộng

15



16

nước ngoài. Mới đây, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 73/2012/NĐ-CP ngày
26/9/2012 quy định về hợp tác, đầu tư của nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục (thay
thế và khắc phục một số bất cập về pháp lý cũng như nhiều nội dung không còn phù
hợp của các quy định liên quan đến hợp tác, liên kết đào tạo của Nghị định
06/2000/NĐ-CP Nghị định số 18/2001/NĐ-CP của Chính phủ). Đồng thời, Bộ GD-
ĐT thời gian qua đã có nhiều văn bản chỉ đạo, yêu cầu tăng cường công tác thanh
tra, kiểm tra, giám sát hoạt động liên kết đào tạo với nước ngoài cũng như tăng
cường đảm bảo thực hiện tốt công tác thẩm định và cấp phép các chương trình liên
kết đào tạo với nước ngoài như không cấp phép những chương trình liên kết đào tạo
với những đối tác nước ngoài nếu chưa được công nhận chất lượng đào tạo tại nước
sở tại.
Bộ GD-ĐT đã tiến hành kiểm tra hoạt động liên kết đào tạo với nước ngoài tại
27 cơ sở giáo dục ĐH và thanh tra 12 đơn vị khác đang tổ chức hoạt động đào tạo
có yếu tố nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam, qua đó đã kịp thời phát hiện những bất
cập và chỉ đạo chấn chỉnh hoạt động liên kết đào tạo với nước ngoài của các cơ sở
như yêu cầu lập hồ sơ xin phép liên kết đào tạo theo đúng quy định; đình chỉ một số
chương trình liên kết đào tạo và xử phạt vi phạm hành chính 10/12 đơn vị, buộc
dừng hoạt động tuyển sinh và tổ chức đào tạo trái phép trên lãnh thổ Việt Nam, đảm
bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người học.

2. Thực trạng về giáo trình đào tạo hiện nay.
- Thực trạng 1: Giáo trình thiếu tính cập nhật kiến thức quốc tế, thiếu tính
mới, thiếu tính ứng dụng thực tế, nhiều trường phải sử dụng giáo trình của
trường khác để giảng dạy, còn quá nặng về lý thuyết, dẫn đến tình trạng sinh
viên có thói quen học một cách thụ động.
+ Ví dụ: TS Nguyễn Văn Đệ cho rằng, mục tiêu đảm bảo các chương trình đào
tạo đều có đủ giáo trình không khó, khó ở chỗ các trường cần phải có một bộ giáo

sách dường như viết để cho các nhà chuyên môn về CNTT, có sách viết miên man
trên trời dưới bể và có sách lại viết về những gì mà ngoài thị trường bán đầy rẫy” -
Một chuyên gia tham gia thẩm định nhận xét.
Khách quan mà nói, vẫn theo chuyên gia này, có không ít cuốn viết đạt chất
lượng cao như Giáo trình Sử dụng, Quản trị & Lập trình UNIX/LINUX và Giáo
trình Nhập môn Ngôn ngữ XML Có những cuốn khá thiết thực cho địa phương và

18

cơ sở như Tài liệu hướng dẫn vận hành hệ thống thông tin tổng hợp kinh tế xã hội
phục vụ điều hành trên địa bàn huyện.
Nhưng nhìn chung, phần lớn các cuốn đều nặng về lý thuyết, quá cao so với yêu
cầu đặt ra đối với học viên. Mỗi cuốn viết cho thời gian học chính thức 40 - 60 tiết.
“Tập huấn kéo dài như thế vừa không phù hợp về tâm sinh lý vừa không cần thiết
với học viên là công chức để thực thi hệ thống máy tính hiện hành”. Có những cuốn
viết về các phần mềm cơ bản như Word, Excel mà bất cứ ai nhập môn máy tính đều
có thể mua sách ngoài chợ và thậm chí tự học. “Viết những sách như thế là thừa,
lãng phí vô cùng - Chuyên gia nhận xét - Nếu thực sự cầu thị, Ban Điều hành 112
chỉ cần yêu cầu địa phương tự tổ chức đào tạo những vấn đề cơ bản đó và họ hoàn
toàn đủ sức mua sách ngoài chợ để có thể chọn những cuốn tốt nhất”.
Thậm chí có những cuốn như Quản lý Văn bản & Hồ sơ Công việc ấn hành vào
năm 2005 để hướng dẫn cho phần mềm dùng chung quản lý hồ sơ công việc mang
mã số 112.HS.002.P1.
Cuốn này được đánh giá là in ra mà không ai đọc, được dạy rất ít và nhất là,
không biết tác dụng của nó thế nào. Đơn giản là vì, đến thời điểm năm 2005, cả ba
phần mềm dùng chung đều bộc lộ sự kém hiệu quả, hầu như không dùng chung
được. “Vậy thì viết về cái thấy mười mươi không dùng được nữa để làm gì”. (Giáo
trinh đào tạo của Đề án 112 xa thực tiễn – www.tienphong.vn).
+ Nguyên nhân: Do sự thiếu sót trong việc gắn kết, đi sâu vào những nội
dung “gần gũi đối với thực tế” trong giáo trình, hầu hết các cơ sở đào tạo đều nhận

thời lượng dành cho phần kiến thức đại cương và kiến thức giáo dục chuyên nghiệp
để dành nhiều thời gian hơn cho kiến thức chuyên ngành, hướng tới việc kiến thức
chuyên ngành chiếm từ 50% thời gian đào tạo trở lên”.
Đặc biệt là nên biên soạn bổ sung “giáo trình thực tiễn” có thể được xem là lựa
chọn tốt nhất để khắc phục một số khiếm khuyết của thực trạng giáo trình hiện nay
như đã nêu ở phần trên. “giáo trình thực tiễn”có thể được xem là một tài liệu kiểm
nghiệm những kiến thức mà người học đang tiếp nhận từ “giáo trình hàn lâm”, là
kiểm nghiệm của người học với thực tế mà họ đang tiếp xúc, là những kinh nghiệm
mà người học có thể học ngay trên giảng đường, và có lẽ đó chính là sự kiểm định
rõ ràng nhất đối với khả năng “đứng lớp” của từng giảng viên đại học. Một số kiến
nghị tác giả xin được phép đề cập để xúc tiến đẩy mạnh biên soạn “giáo trình thực
tiễn”.

20

Ngoài ra, Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của chương
trình giáo dục (mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục) theo hướng phát triển
phẩm chất và năng lực người học
Xác định mục tiêu giáo dục con người vừa đáp ứng yêu cầu xã hội vừa phát
triển cao nhất tiềm năng của mỗi cá nhân. Phát triển năng lực và phẩm chất người
học, hài hòa đức, trí, thể, mỹ thay vì chỉ chú trọng trang bị kiến thức; kết hợp hài
hòa dạy người, dạy chữ và dạy nghề;
Chuyển từ chủ yếu thực hiện chương trình giáo dục trên lớp học sang tổ chức đa
dạng các hình thức thực hiện chương trình giáo dục, tăng cường các hoạt động xã
hội, nghiên cứu khoa học của người học. Coi trọng sự phối hợp chặt chẽ giáo dục
nhà trường, giáo dục gia đình và giáo dục xã hội. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ
thông tin và truyền thông trong dạy và học, tăng cường áp dụng hình thức giáo dục
từ xa có chất lượng.
Nội dung giáo dục đổi mới theo hướng tinh giản, cơ bản, hiện đại, giảm tính
hàn lâm, tăng tính thực hành và vận dụng kiến thức, kỹ năng vào thực tiễn. Thiết kế

chốt chính là tăng khả năng thích ứng của người học với môi trường thực tế, đó
cũng là một giải pháp cụ thể hóa phương châm giáo dục theo tư tưởng Hồ Chí
Minh: “học đi đôi với hành”, “lý thuyết gắn liền với thực tế.
- Thực trạng 2: Ở Việt Nam chính sách tài chính về viết giáo trình và
NCKH chưa hợp lý. Vì vậy giảng viên không nhiệt tình với việc viết giáo trình
và NCKH.
+ Ví dụ: PGS.TS Nguyễn Văn Nhã – Nguyên Trưởng Ban đào tạo ĐHQG Hà
Nội, hiện là Hiệu trưởng Trường ĐH Nguyễn Trãi đưa ra 4 cái khó: M ột là, có
những thầy giỏi không muốn “cho người khác học, lộ bài”. Hai là, có thầy lại quan
niệm ĐH, CĐ không phải phổ thông cấp 4 nên không có giáo trình mà chỉ có một số
sách tham khảo. Ba là, kinh phí đầu tư cho viết giáo trình quá thấp, rất thấp nên
chưa khuyến khích và tạo động lực để các thầy viết giáo trình. Bốn là, không phải
thầy cô nào dạy ĐH, CĐ cũng viết được giáo trình.
Hay, Trong Chương trình “Dân hỏi-Bộ trưởng trả lời” vừa diễn ra, Bộ trưởng
Bộ Khoa học và Công nghệ (KHCN) Nguyễn Quân cho biết một trong những
nguyên nhân gây chậm trễ trong cấp phát kinh phí nghiên cứu KHCN thời gian qua
là do hành chính hóa việc phê duyệt các nhiệm vụ nghiên cứu KHCN như các dự án
đầu tư xây dựng cơ bản.“Ví dụ kinh phí dành cho các nhiệm vụ nghiên cứu khoa

22

học công nghệ cấp nhà nước năm 2011 đến tháng 2/2012 mới được giao, kinh phí
nghiên cứu năm 2012 thì đến tháng 10/2012 mới được giao và kinh phí năm 2013
thì vừa mới có”, Bộ trưởng Nguyễn Quân cho biết thêm.
Ngoài ra, PGS-TS Mai Hồng Quỳ cho biết:“Chúng tôi đang hối thúc tất cả các
khoa tiến hành làm giáo trình để sinh viên có tài liệu học tập, tuy nhiên, việc làm
giáo trình vô cùng khó khăn do các giảng viên bận đi giảng dạy hoặc đi học tại nước
ngoài”. Tuy nhiên, một lý do khiến cho giảng viên không tha thiết trong việc viết
giáo trình chính là thù lao quá thấp. Và Bà cho biết hiện mỗi giảng viên trình độ
thạc sĩ trở lên tham gia viết sách chỉ được trả thù lao 60.000 đồng/trang. Trong khi

người yếu kém. Cơ chế, chính sách đãi ngộ chưa tương xứng, vẫn dựa chủ yếu vào
khối lượng giảng dạy và thâm niên công tác mà không căn cứ vào thành tích và khả
năng nghiên cứu của cá nhân, chưa bảo đảm cho giảng viên có cuộc sống đủ để có
thể toàn tâm, toàn ý cho việc bảo đảm chất lượng hoạt động giảng dạy và NCKH.
Nguyên nhân gây chậm trễ trong cấp phát kinh phí nghiên cứu thời gian qua là
do hành chính hóa việc phê duyệt các nhiệm vụ nghiên cứu Khoa học và Công
nghệ.
M ột nguyên nhân nữa là xuất phát từ những quy định thiếu hợp lý từ Bộ giáo
dục: “Trường nào có sai phạm về việc biên soạn giáo trình thì trường đó phải chịu
trách nhiệm trước pháp luật vì nước ta đã có Luật”.Gọi chung là Bộ lại “trói”
trường: Đó là ý kiến của nhiều giảng viên về dự thảo thông tư quy định việc biên
soạn, lựa chọn, thẩm định, duyệt và sử dụng giáo trình giáo dục đại học của Bộ GD-
ĐT.
+ Giải pháp: Tăng cường cơ sở vật chất và kinh phí cho hoạt động nghiên cứu
và viết giáo trình trong đội ngũ giảng viên: Chính sách này cần thực hiện đồng bộ ở
tất cả các cấp, từ việc tăng thêm ngân sách hàng năm của N hà nước đến việc tăng tỉ
lệ ngân sách dành cho hoạt động nghiên cứu khoa học ở từng trường, tăng kinh phí
cho các đề tài nghiên cứu và đầu tư thêm cho các phòng thí nghiệm phục vụ nghiên
cứu. Tất nhiên, không phải tăng kinh phí một cách “bình quân chủ nghĩa” mà nên
đầu tư “có trọng điểm” đối với các đề tài thực sự cần thiết và chắc chắn mang lại
hiệu quả nếu được thực hiện tốt. Có như vậy mới khuyến khích được người đảm
nhiệm đề tài, nhưng bên cạnh đó, chủ nhiệm đề tài cũng phải là những người có
“tâm” và đủ “tầm”.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status