LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận này là
trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ trong bất kỳ một khóa luận nào.
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận này đã được
cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong khóa luận đều được trích rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày 30 tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Mạnh Dương
i
LỜI CÁM ƠN
Trong thời gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp, ngoài sự cố gắng nỗ lực của
bản thân, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của các đoàn thể, cá nhân trong và
ngoài trường.
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô giáo trường Đại học Nông
nghiệp Hà Nội nói chung và các thầy cô giáo trong Khoa Kinh tế và phát triển nông
thôn nói riêng đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập.
Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới thầy giáo
PGS.TS Trần Đình Thao, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời
gian nghiên cứu và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình.
Tôi xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo và cán bộ nhân viên Phòng Kinh
doanh, phòng Kế hoạch tổng hợp của Công ty Cổ phần Thạch Bàn miền Bắc đã tạo
mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành tốt nội dung đề tài.
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới những người thân trong gia đình, bạn bè
đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài khóa luận tốt
nghiệp của mình.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, Ngày 30 tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Mạnh Dương
ii
TÓM TẮT KHÓA LUẬN
iii
Trong những năm vừa qua, sản phẩm Granite Thạch Bàn tiếp tục được khẳng
định tại thị trường trong khu vực. Chất lượng sản phẩm ổn định, tạo điều kiện thuận
lợi cho công tác tiệu thụ, nâng cao uy tín của thương hiệu trên thị trường. Nhờ có sự
chỉ đạo kịp thời của lãnh đạo công ty cũng như sự linh hoạt trong việc điều chỉnh cơ
chế giá bán nên một số vùng thị trường trống và yếu đã được tăng trưởng mạnh (Hải
Phòng, Hưng Yên…). Nhà nước đã có những chính sách hạn chế cũng như ra quyết
định về việc cấm nhập khẩu gạch từ trung quốc nên cũng hạn chế phần nào sự cạnh
tranh…Việc thay đổi mô hình hoạt động phân phối tại thị trường Miền Bắc, thu hẹp
đại lý nhằm hạn chế việc cạnh tranh đã phát huy hiệu quả.
Thị trường trong nước tập trung nhiều hãng sản xuất Gạch Granite, nên mức độ
cạnh tranh rất cao. Gạch nhập khẩu từ Trung quốc về nhiều tập trung chủ yếu là gạch
bóng kính KT:600x600mm, 800x800mm có mẫu mã đẹp, giá bán thấp, gây rất nhiều
khó khăn cho công tác tiêu thụ các sản phẩm trong nước. Thị trường gạch ốp lát nói
chung và gạch granite nói riêng, nguồn cung nhiều trong khi đó nhu cầu gạch ốp lát
giảm, do thị trường bất động sản và thị trường xây dựng đóng băng.
Để tiếp tục hoạt động kinh doanh có hiệu quả, cần thực hiện các giải pháp như
tăng cường công tác quản trị, quản lý tài chính, đề xuất tiết kiệm chi phí trên mọi mặt
hoạt động của công ty theo đúng qui định của pháp luật ; tiếp tục triển khai trang bị kệ,
bảng trưng bày mẫu đồng bộ biển hiệu cho hệ thống đại lý, cửa hàng trọng điểm trên
toàn khu vực ; tăng cường công tác quảng cáo nâng cao hình ảnh và thương hiệu
Thạch Bàn trên cả nước thông qua truyền thanh, truyền hình, biển quảng
cáo… Nghiên cứu chỉnh sửa qui chế bán hàng, để thúc đẩy đại lý bán hàng ; phân
công lại tuyến thị trường, sắp xếp lại nhân sự, khoán lương đến từng bộ phận; nâng
cao vai trò của nhân viên thị trường trong công tác hỗ trợ đại lý bán hàng, khai thác tối
ưu nhất tiềm năng các đại lý và các khu vực phân phối đặc biệt là các khu vực thị
trường trống hoặc thị trường phát triển nhưng chưa được phát huy hết khả năng như
Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Ninh Bình, Nam Định…
iv
MỤC LỤC
Reference source not found
(2011 – 2013) Error: Reference source not found
Bảng 4.13: Hiệu quả sử dụng nguồn vốn chủ sở hữu của Công ty CP Thạch Bàn
vi
miền Bắc (2011- 2013) Error: Reference source not found
Bảng 4.14: Hiệu quả sử dụng chi phí của Công ty qua 3 năm (2011 – 2013)
Error: Reference source not found
Bảng 4.15:Hiệu quả sử dụng lao động của Công ty trong 3 năm (2011 – 2013)Error:
Reference source not found
Bảng 4.16: Kích thước các dòng sản phẩm Error: Reference source not found
vii
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 3.1: Mô hình tổ chức Công ty Cổ phần Tập đoàn Thạch Bàn Error:
Reference source not found
Sơ đồ 4.1: Cấu trúc kênh phân phối sản phẩm của Công ty CP Thạch Bàn miền
Bắc Error: Reference source not found
DANH MỤC CÁC KÝ TỰ VIẾT TẮT
viii
CP
SXKD
TSCĐ
TSLĐ
VLĐ
CSH
DT
DH
LN
HĐQT
LĐ
BH
Lao động
Bán hàng
Cung cấp dịch vụ
Khoa học kỹ thuật
Thu nhập doanh nghiệp
Đại hội đồng cổ đông
VLXD : Vật liệu xây dựng
XDCB : Xây dựng cơ bản
SSX : Sức sản xuất
SSL
BHXH
VNĐ
VCSH
:
:
:
:
Sức sinh lợi
Bảo hiểm xã hội
Việt Nam đồng
Vốn chủ sở hữu
ix
PHẦN 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Sự cần thiết nghiên cứu đề tài
Từ năm 1986, nền kinh tế nước ta chuyển sang cơ chế thị trường thì các doanh
nghiệp phải tự chủ về mặt tài chính, tự xây dựng phương án kinh doanh, tự tìm đầu
vào và đầu ra cho sản phẩm, tự chịu trách nhiệm về hiệu quả hoạt động kinh doanh
của mình. Hơn thế nữa năm 2007, Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới
(WTO) đã mở ra vô số cơ hội kinh doanh nhưng cũng tiềm ẩn không ít nguy cơ đối
miền Bắc
- Đánh giá thực trạng, phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ
phần Thạch Bàn miền Bắc. Từ đó tìm nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất
kinh doanh của công ty.
- Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh tại Công ty
Cổ phần Thạch Bàn miền Bắc
1.3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quan đến hoạt động kinh doanh tại
Công ty Cổ phần Thạch Bàn miền Bắc.
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung:
+ Đánh giá thực trạng sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ phần Thạch Bàn
miền Bắc.
+ Tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến việc sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ
phần Thạch Bàn miền Bắc.
+ Đề xuất các biện phát nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ
phần Thạch Bàn miền Bắc.
- Phạm vi không gian: Công ty Cổ phần Thạch Bàn miền Bắc.
- Phạm vi thời gian: Số liệu liên quan đến tình hình tổ chức sản xuất, tổ chức
quản lý trong ba năm 2011-2013.
- Thời gian nghiên cứu đề tài : từ tháng 1 – 2014 đến tháng 5 – 2014.
PHẦN 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1. Cơ sở lý luận
2.1.1. Các khái niệm liên quan
a. Khái niệm hiệu quả hoạt động kinh doanh
2
Trong điều kiện sản xuất và kinh doanh theo cơ chế thị trường, để tồn tại và
phát triển đòi hỏi các doanh nghiệp kinh doanh phải có lãi. Do vậy, mọi doanh nghiệp
sánh một cách tương đối giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả
đó, nhưng chỉ xét đến phần kết quả chi phí bổ sung.
Nhóm thứ ba cho rằng: Hiệu quả kinh doanh là một đại lượng so sánh giữa kết
quả thu được và chi phí bỏ ra để thu được kết quả đó. Quan điểm này đã phản ánh
được mối liên hợp bản chất của hiệu quả kinh doanh, vì nó gắn được kết quả và chi
phí bỏ ra, coi hiệu quả kinh doanh là sự phản ánh trình độ sử dụng các chi phí. Tuy
nhiên, kết quả và chi phí đều luôn luôn vận động nên quan điểm này chưa biểu hiện
được tương quan về lượng và chất giữa kết quả và chi phí.
Nhóm thứ tư cho rằng: Hiệu quả kinh doanh phải thể hiện được mối quan hệ
giữa sự vận động của chi phí tạo ra kết quả đó, đồng thời phản ánh được trình độ sử
dụng các nguồn lực sản xuất. Quan điểm này đã chú ý đến sự so sánh tốc độ vận động
của hai yếu tố phản ánh hiệu quả kinh doanh, đó là tốc độ vận động của kết quả và tốc
độ vận động của chi phí. Mối quan hệ này phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực
sản xuất của doanh nghiệp.
Như vậy, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phản
ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất, trình độ tổ chức và quản lý của doanh
nghiệp để thực hiện cao nhất các mục tiêu kinh tế xã hội với chi phí thấp nhất. Hiệu
quả kinh doanh của doanh nghiệp gắn chặt với hiệu quả kinh tế của toàn xã hội, vì thế
nó cần được xem xét toàn diện cả về mặt định tính lẫn định lượng, không gian và thời
gian. Về mặt định tính, mức độ hiệu quả kinh doanh là những nỗ lực của doanh nghiệp
và phản ánh trình độ quản lý của doanh nghiệp đồng thời gắn với việc đáp ứng các
mục tiêu và các yêu cầu của doanh nghiệp và của toàn xã hội. Về mặt định lượng, hiệu
quả kinh doanh là biểu thị tương quan giữa kết quả mà doanh nghiệp thu được với chi
phí mà doanh nghiệp bỏ ra để thu được kết quả đó. Hiệu quả kinh doanh chỉ có được
khi kết quả cao hơn chi phí bỏ ra. Mức chênh lệch này càng lớn thì hiệu quả kinh
doanh càng cao và ngược lại. Cả hai mặt định tính và định lượng của hiệu quả kinh
doanh đều có quan hệ chặt chẽ với nhau, không tách rời nhau, trong đó hiệu quả về
lượng phải gắn với mục tiêu kinh tế, chính trị, xã hội, môi trường nhất định. Do vậy,
chúng ta không thể chấp nhận các nhà kinh tế tìm mọi cách để đạt được mục tiêu kinh
4
Các doanh nghiệp phải tự đưa ra các quyết định kinh doanh của mình, tự hạch
toán lỗ lãi, lãi nhiều hưởng nhiều, lãi ít hưởng ít. Lúc này mục tiêu lợi nhuận trở thành
mục tiêu quan trọng nhất mang tính sống còn của doanh nghiệp.
Mặt khác, trong nền kinh tế thị trường doanh nghiệp phải cạnh tranh để tồn tại
và phát triển. Môi trường cạnh tranh này khá gay gắt và có nhiều doanh nghiệp đã trụ
vững được nhưng cũng không ít doanh nghiệp bị thua lỗ, giải thể, phá sản. Để có thể
trụ vững trong cơ chế thị trường, doanh nghiệp luôn phải giảm chi phí kinh doanh một
cách tương đối nhằm tới mục tiêu lợi nhuận tối đa. Giai đoạn kinh tế phát triển theo
chiều rộng kết thúc nhường chỗ cho sự phát triển theo chiều sâu là nhờ vào sự nâng
cao hiệu quả kinh doanh. Như vậy, nâng cao hiệu quả kinh doanh là nâng cao khả
năng sử dụng nguồn lực sẵn có trong sản xuất kinh doanh. Nâng cao hiệu quả kinh
doanh và đạt được hiệu quả kinh doanh luôn là vấn đề được quan tâm của các doanh
nghiệp.
Từ những vai trò kể trên của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh
nghiệp chúng ta có thể rút ra những ý nghĩa cụ thể của việc nâng cao hiệu quả hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp.
Như vậy, chúng ta cần phải nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh trong các
doanh nghiệp, đánh giá đúng hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp thực hiện trên cơ
sở phân tích từng phần, tổng hợp lại hướng vào mục tiêu chung của hiệu quả là lợi
nhuận của toàn bộ quá trình kinh doanh để phân tích. Trên cơ sở đó rút ra những nhận
định cơ bản và liên kết chúng lại với nhau để có những phương hướng đúng đắn.
Quan niệm về hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là các doanh
nghiệp cho rằng hoạt động kinh doanh phải vừa đạt được hiệu quả kinh tế lại vừa đạt
được hiệu quả xã hội. Có như vậy doanh nghiệp mới phát triển bền vững, ổn định.
2.1.2. Phân loại hiệu quả hoạt động kinh doanh
6
Trong thực tiễn có nhiều loại hiệu quả kinh doanh khác nhau. Để tiện cho việc
quản lý và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, người ta thường phân loại hiệu
quả kinh doanh theo các tiêu thức khác nhau. Sau đây là một số cách phân loại hiệu
quả kinh doanh trong doanh nghiệp:
phải xem xét thực hiện các hoạt động kinh doanh sao cho nó mang lại cả lợi ích trước
mắt cũng như lâu dài cho doanh nghiệp, kết hợp lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài,
không được vì lợi ích trước mắt mà quên đi lợi ích lâu dài hoặc thiệt hại đến lợi ích lâu
dài.
Hiệu quả kinh tế tài chính và hiệu quả kinh tế xã hội
Căn cứ vào khía cạnh khác nhau của hiệu quả, người ta phân ra làm hai loại:
a. Hiệu quả kinh tế tài chính
Hiệu quả kinh tế tài chính (hiệu quả kinh doanh cá biệt) của doanh nghiệp là
hiệu quả kinh doanh thu được từ các hoạt động thương mại của từng doanh nghiệp
kinh doanh. Biểu hiện chung của hiệu quả kinh tế tài chính là lợi nhuận mà mỗi doanh
nghiệp thu được.
b. Hiệu quả kinh tế xã hội
Hiệu quả kinh tế xã hội (hiệu quả kinh tế quốc dân) là sự đóng góp của chính
doanh nghiệp vào xã hội nghĩa là mang lại các lợi ích công cộng cho xã hội như: tạo
công ăn việc làm, tăng thu nhập cho ngân sách nhà nước, tăng tích luỹ ngoại tệ, tăng
năng suất lao động, phát triển sản xuất, thay đổi cơ cấu kinh tế
Giữa hiệu quả kinh doanh cá biệt và hiệu quả kinh tế xã hội có mối quan hệ
nhân quả với nhau và tác động qua lại với nhau. Hiệu quả kinh tế quốc dân chỉ có thể
đạt được trên cơ sở hoạt động có hiệu quả của các doanh nghiệp. Mỗi một doanh
nghiệp như một tế bào của nền kinh tế quốc dân, hoạt động có hiệu quả sẽ góp phần
vào hiệu quả chung của nền kinh tế. Ngược lại, tính hiệu quả của bộ máy kinh tế sẽ là
tiền đề tích cực, là khung cơ sở cho mọi hoạt động của doanh nghiệp đạt hiệu quả cao.
Đó chính là mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, giữa bộ phận và toàn bộ. Tính
hiệu quả của nền kinh tế xuất phát từ tính hiệu quả của mỗi doanh nghiệp và nền kinh
tế vận hành tốt là môi trường thuận lợi cho sự hoàn thiện của doanh nghiệp.
Vì vậy, trong hoạt động kinh doanh của mình các doanh nghiệp phải thường
xuyên quan tâm đến hiệu quả kinh tế xã hội, bảo đảm lợi ích riêng hài hoà với lợi ích
chung. Về phía cơ quan quản lý với vai trò định hướng cho sự phát triển của nền kinh
8
tế cần tạo mọi điều kiện để doanh nghiệp có thể hoạt động đạt hiệu quả cao nhất trong
của nền kinh tế là quy luật giá trị: hàng hoá được thị trường thừa nhận tại mức chi phí
trung bình xã hội cần thiết để tạo ra hàng hóa đó. Quy luật giá trị đã đặt các doanh
nghiệp với mức chi phí cá biệt khác nhau trên một mặt bằng trao đổi chung – giá cả
thị trường.
Suy cho cùng, chi phí bỏ ra là chi phí lao động xã hội nhưng đối với mỗi doanh
nghiệp mà ta đánh giá hiệu quả kinh doanh thì chi phí lao động xã hội đó được thể
hiện dưới dạng chi phí khác nhau: Giá thành sản xuất, chi phí sản xuất, chi phí ngoài
sản xuất Bản thân mỗi loại chi phí này lại có thể được phân chia một cách chi tiết
hơn. Vì vậy, khi đánh giá hiệu quả kinh doanh không chỉ đánh giá hiệu quả tổng hợp
của các loại chi phí trên, mà đồng thời còn phải đánh giá hiệu quả của từng loại chi phí
đó.
Tóm lại: Trong quản lý quá trình kinh doanh, phạm trù hiệu quả kinh doanh
được biểu hiện ở các loại khác nhau. Việc phân loại hiệu quả kinh doanh là cơ sở để
xác định các chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh, phân tích hiệu quả kinh doanh và xác định
các biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh.
2.1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp
Kinh doanh là hoạt động nhằm mục đích sinh lời của các chủ thể kinh doanh
trên thị trường. Điều đó có nghĩa là các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh luôn phụ
thuộc vào thị trường, mà thị trường lại phải tuân theo các quy định của pháp luật cũng
như các quy luật của thị trường. Do vậy, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh chịu
ảnh hưởng của rất nhiều các yếu tố khách quan cũng như chủ quan. Vấn đề đặt ra là
các doanh nghiệp phải có biện pháp tác động trở lại yếu tố chủ quan một cách hợp lý,
có hiệu quả làm cho doanh nghiệp ngày càng phát triển hơn, nâng cao hiệu quả hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp. Thông thường có hai nhóm nhân tố ảnh hưởng:
nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan.
10
2.1.3.1. Nhân tố khách quan
Bất cứ doanh nghiệp nào hoạt động trong lĩnh vực gì, dù to hay nhỏ thì suy cho
cùng đều chỉ là một trong những phần tử cấu thành nên nền kinh tế quốc dân, hay trên
phương diện rộng hơn trong hoàn cảnh quốc tế đang phát triển mạnh mẽ thì doanh
thị trường. Ngày nay, trình độ khoa học công nghệ ngày càng phát triển, những công
nghệ mới ra đời và được áp dụng trong thực tế cho phép các doanh nghiệp sản xuất
được những sản phẩm với chất lượng cao hơn trong khi nguyên vật liệu lại tiêu tốn ít
hơn, hiệu suất của máy móc được nâng cao dẫn đến giá thành hạ, chi phí sản xuất
thấp, tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm của mình trên thị trường, tăng hiệu quả
kinh doanh của doanh nghiệp. Bởi vậy, công nghệ là yếu tố then chốt để nâng cao hiệu
quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
2.1.3.2. Nhân tố chủ quan
Lực lượng lao động và năng suất lao động
Trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, lực lượng lao động của doanh
nghiệp quyết định quy mô kết quả sản xuất, tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh
của doanh nghiệp. Điều này được thể hiện ở :
- Trình độ lao động tương ứng thì sẽ góp phần vận hành có hiệu quả các yếu tố
vật chất trong quá trình kinh doanh.
- Cơ cấu lao động phù hợp trước hết nó sẽ góp phần sử dụng có hiệu quả bản
thân yếu tố lao động trong sản xuất kinh doanh, mặt khác nó sẽ góp phần tạo lập và
thường xuyên điều chỉnh mối quan hệ tỷ lệ hợp lý giữa các yếu tố vật chất trong quá
trình kinh doanh.
- Ý thức, tinh thần trách nhiệm, kỷ luật lao động là yếu tố quan trọng, yếu tố
cơ bản để phát triển và phát huy nguồn lực lao động trong quá trình kinh doanh. Vì
vậy, chúng ta chỉ có thể đạt được hiệu quả kinh doanh cao trong các doanh nghiệp
chừng nào có được một đội ngũ lao động có kỷ luật, kỹ thuật, trách nhiệm và năng
suất lao động cao.
Trình độ phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật và công nghệ
Đây là yếu tố vật chất phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp, có tác động rất lớn đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Sự phát triển
của cơ sở vật chất kỹ thuật sẽ tạo ra những cơ hội để nắm bắt thông tin trong quá trình
hoạch định kinh doanh cũng như trong quá trình điều chỉnh, định hướng hoặc chuyển
hướng kinh doanh. Kỹ thuật và công nghệ sẽ tác động tới việc tiết kiệm chi phí vật
chất trong quá trình sản xuất kinh doanh, nó giúp cho các doanh nghiệp sử dụng một
lý lao động trong doanh nghiệp sát sao, điều hành doanh nghiệp có hiệu quả. Quản trị
doanh nghiệp đề ra các chính sách cụ thể để phát triển sản xuất, lập kế hoạch sản xuất
kinh doanh chi tiết, từ đó có kế hoạch phân bổ các nguồn nhân tài, vật lực để thực hiện
kế hoạch đã đề ra. Ngoài ra, quản trị doanh nghiệp còn trợ giúp rất nhiều cho công tác
Marketing, tiêu thụ sản phẩm, mở rộng tiêu thụ.
13
Nhà quản trị kinh doanh, đặc biệt là người lãnh đạo doanh nghiệp phải có kiến
thức, trình độ, năng lực, năng động. Trong việc tổ chức phân công lao động trong
doanh nghiệp phải sử dụng đúng người, đúng việc để tận dụng được năng lực sở
trường của đội ngũ cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp. Ngoài ra, người lãnh
đạo phải xây dựng được một tập thể đoàn kết, năng động, có trình độ, có chuyên môn,
từ đó hoàn thành mục tiêu mà doanh nghiệp đã đề ra.
2.1.4. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh
Để tiến hành bất kì một hoạt động sản xuất kinh doanh nào cũng đều phải tập hợp
các phương tiên vật chât cũng như con người và thực hiện sự kết hợp lao động với các yêu
tố vật chất để tạo ra kết quả phù hợp với ý đồ của doanh nghiệp. Mục tiêu lâu dài và bao
trùm của mọi doanh nghiệp là tạo ra lợi nhuận và tối đa hoá lợi nhuận trên cơ sở nguồn lực
sẵn có, để đạt được mục tiêu này quản trị doanh nghiệp phải sử dụng nhiều phương pháp
khác nhau, hiệu quả kinh doanh là một trong các công cụ để các nhà quản trị thực hiện các
chức năng quản trị của mình. Việc xem xét và tính toán hiệu quả kinh doanh không những
chỉ cho biết việc sản xuất đạt ở trình độ nào mà còn cho phép các nhà quản trị phân tích, tìm
ra các nhân tố để đưa ra các biện pháp thích hợp trên cả hai phương diện tăng kết quả và
giảm chi phí kinh doanh, nhằm nâg cao hiệu quả. Bản chất của phạm trù hiệu quả đã chỉ rõ
trình độ lợi dụng các nguồn lực sản xuất: trình độ lợi dụng các nguồn lực sản xuất càng cao
doanh nghiệp có khả năng tạo ra kết quả cao trong cùng một nguồn lực đầu vào hoặc tốc độ
tăng kết quả lớn hơn so với tốc độ tăng việc sử dụng các nguồn lực đầu vào. Do đó, xét trên
phương tiện lí luận thực tiễn phạm trù hiệu quả sản xuất kinh doanh đóng một vai trò quan
trọng trong việc đánh giá, so sánh, phân tích kinh tế nhằm tìm ra một giải pháp tối ưu nhất,
đưa ra phương pháp đúng đắn nhất để đạt mục tiêu lợi nhuận tối đa. Với tư cách là một
công cụ đánh giá và phân tích kinh tế, phạm trù hiệu quả không chỉ được sử dụng ở giác độ
của mình theo sự chỉ đạo của nàh nước. Vì thế, mục tiêu cao nhất của xí nghiệp là
hoàn thành kế hoạch nhà nước giao các xí nghiệp quan tâm tâm tới hiệu quả hoạt động
sản xuất kinh doanh của mình
Mặt khác trong nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp phải cạnh tranh để tồn
tại và phát triển, doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển trong điều kiện bình thường
đòi hỏi các hoạt động sản xuất kinh doanh phải tạo ra thu nhập về tiêu thụ hàng hoá và
dịch vụ, đủ bù đắp chi phí đã chi ra để sản xuất hàng hoá dịch vụ đó, còn muốn phát
15
triển doanh nghiệp phải đảm bảo quá trình tái sản xuất mở rộng. Đồng thời môi trường
cạnh tranh trông nền kinh tế khá gay gắt, trong cuộc cạnh tranh đó có doanh nghiệp trụ
vững và phát triển đi lên nhưng cũng có doanh nghiệp thua lỗ và phá sản. Để có thể trụ
lại trong cơ chế thị trường, các doanh nghiệp phải luôn nâng cao chất lượng hàng hoá,
giảm chi phí sản xuất, nâng cao uy tín vv nhằm đạt tới mục tiêu lợi nhuận tối đa, do
vậy đạt hiệu quả kinh doanh và nâng cao hiệu quả kinh doanh luôn là vấnđề quan tâm
của mọi doanh nghiệp và trở thành vấn đề sống còn để doanh nghiệp tồn tại và phát
triển trong nền kinh tế thị trường.
2.1.5. Hệ thống các chỉ tiêu về hiệu quả kinh doanh
Phân biệt các loại hiệu quả
Trong quản lí kinh doanh, phạm trù hiệu quả kinh tế được biểu hiện ở những
dạng khác nhau việc phân loại hiệu quả kinh tế là cơ sở để xác định các chỉ tiêu hiệu
quả kinh tế và xác định những biện pháp nâng cao hiệu quả kinh tế. Tuy nhiên để hiểu
rõ bản chất hiệu quả kinh tế cần phân biết các loại hiệu quả.
2.1.5.1. Hiệu quả xã hội, hiệu quả kinh tế, hiệu quả kinh tế- xã hội và hiệu quả kinh
doanh
Hiệu quả xã hội là phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực sản xuất
xã hội nhằm đạt đưọc các mục tiêu xã hội nhất định như giải quyết công ăn việc làm,
xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng, nâg cao phóc lợi xã hội, nâng cao đời sống vật chất
tinh thần cho người lao động
Hiệu quả kinh tế phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt các mục tiêu
kinh tế của một thơì kỳ nào đó nhưng kết quả của một nền kinh tế đạt được trong mỗi