ĐỀ ÁN XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH CHUỖI CUNG CẤP THỰC PHẨM AN TOÀN TRÊN PHẠM VI TOÀN QUỐC doc - Pdf 15


1
BỘ NÔNG NGHIỆP
VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
–––––––––––––––––––––––– Dự thảo 2

ĐỀ ÁN
XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH
CHUỖI CUNG CẤP THỰC PHẨM AN TOÀN
TRÊN PHẠM VI TOÀN QUỐC

(Kèm theo Tờ trình số

/TTr-BNN ngày

tháng

năm 2012
của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn)


ĐỀ ÁN
XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH CHUỖI
CUNG CẤP THỰC PHẨM AN TOÀN TRÊN PHẠM VI TOÀN QUỐC
–––––––––––––––––––––

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Cơ sở và sự cần thiết xây dựng đề án.
1.1. Tình hình chung về sản xuất kinh doanh thực phẩm nông lâm thủy
sản trong thời gian qua.
Ở Việt Nam, sản xuất thực phẩm nông lâm thủy sản là một lĩnh vực hết
sức quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam. Hiện nay, dân số nông thôn
chiếm đến 60,7% dân số quốc gia, ngành nông lâm thủy sản giải quyết công
ăn việc làm cho 56,8% người trong độ tuổi lao động và đóng góp đến 20,9%
GDP quốc gia, thu lại lợi nhuận thông qua kim ngạch xuất khẩu và phát triển
nền sản xuất hàng hóa bền vững. Vì vậy, bất kỳ tác động nào của việc sản
xuất nông nghiệp và nông thôn đều gây ra những ảnh hưởng lớn lao và lâu
dài đến toàn bộ nền kinh tế.
Trong những năm qua, sản xuất nông nghiệp của Việt Nam đã phát
triển toàn diện và đạt được nhiều thành tựu quan trọng cả về năng suất và sản
lượng. Nhiều loại nông sản, thủy sản cũng đã phát triển nhanh và trở thành
những mặt hàng xuất khẩu như: thủy sản, cà phê, hồ tiêu, hạt điều, chè, cao
su, rau quả. Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu cà phê Robusta lớn thứ
nhất thế giới và hiện giờ cà phê là mặt hàng nông nghiệp xuất khẩu lớn thứ
hai của Việt Nam, thủy sản Việt Nam cũng đã có mặt ở trên 110 nước và
vùng lãnh thổ trên thế giới.
Sản xuất nông nghiệp tăng mạnh cung cấp nguồn hàng nhiều và đều
đặn cho thị trường trong nước và giúp cho người tiêu dùng trong nước có thể
tiếp cận thực phẩm đa dạng, nhiều và rẻ. Thành công vượt bậc trong ngành

(triệu
USD)
Sản xuất
(ngàn
tấn)
Kinh
ngạch
XK
(triệu
USD)
Sản
xuất
(ngàn
tấn)
Kinh
ngạch
XK
(triệu
USD)
Sản
xuất
(ngàn
tấn)
Kinh
ngạch
XK
(triệu
USD)
Sản phẩm nông
sản có nguồn

Trong những năm gần đây, bên cạnh việc phát triển và thúc đẩy nền
sản xuất hàng hóa nông lâm thủy sản như đã nêu ở trên thì cũng đã phát hiện
những vụ việc về thực phẩm không đảm bảo an toàn, ảnh hưởng đến sức
khỏe người tiêu dùng; việc lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y, hóa
chất trong sản xuất kinh doanh nông lâm thủy sản là một trong những nguyên
nhân dẫn đến bệnh ung thư, suy thận … thậm chí dẫn đến tử vong. Sản xuất
và sử dụng thực phẩm không an toàn ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe, khả
năng lao động, chất lượng cuộc sống của con người hàng ngày và lâu dài.
Không đảm bảo an toàn thực phẩm còn làm giảm khả năng tiếp cận thị
trường cho các mặt hàng nông sản có giá trị cao mà Việt Nam có tiềm năng.
Formatted: Font: 10 pt
Formatted: Font: 10 pt, Vietnamese
(Vietnam)
Formatted: Font: 11 pt, Vietnamese
(Vietnam)
Formatted: Vietnamese (Vietnam)
Formatted: Font: 10 pt, Vietnamese
(Vietnam)

4
Nhiều thị trường xuất khẩu lớn đã bị bỏ lỡ và rủi ro cao trong việc nắm giữ
thị trường nội địa trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt.
Trước sự phát triển không ngừng của đời sống sản xuất; tốc độ gia tăng
dân số, đô thị hóa mạnh mẽ; và yêu cầu ngày càng cao về chất lượng sản
phẩm của người tiêu dùng và thị trường quốc tế thì vấn đề quản lý, kiểm soát
và đảm bảo an toàn thực phẩm cũng như an toàn thực phẩm nông sản càng
được đặt ra hết sức cấp bách, đòi hỏi phải có chiến lược đồng bộ, mang tính
định hướng chỉ đạo, tổ chức thực hiện các biện pháp nhằm kiểm soát hữu
hiệu hoạt động sản xuất nông sản thực phẩm đảm bảo an toàn vệ sinh, phù
hợp với chiến lược phát triển kinh tế ngành nông nghiệp, ngư nghiệp và diêm


5
động nhiều đến cộng đồng. Từ đó, không có được những kết quả mang tính
đột phá, nhận thức của người sản xuất, người tiêu dùng và doanh nghiệp đối
với chuỗi thực phẩm an toàn còn nhiều hạn chế.
Một trong những mô hình thí điểm triển khai có thể nêu đó là:
* Mô hình quản lý, kiểm soát ATTP theo chuỗi cung cấp thực phẩm
với 4 ngành hàng (rau, trái cây, thịt lợn, thịt gà) của Dự án Xây dựng và kiểm
soát chất lượng nông sản thực phẩm (FAPQDC) do Chính phủ Canada tài trợ.
Dự án triển khai trong thời gian 5 năm, từ 2008 - 2013. Triển khai các mô
hình thí điểm tại 3 miền Bắc (3 tỉnh), miền Trung (1 tỉnh) và miền Nam (4
tỉnh).
Một số kết quả đạt được thông qua triển khai mô hình thí điểm kiểm
soát an toàn thực phẩm theo chuỗi:
- Cơ bản hoàn thiện bộ tài liệu hướng dẫn kỹ thuật áp dụng quy phạm
thực hành sản xuất tốt trong sản xuất kinh doanh 04 nhóm ngành hàng;
- Đã có 3 mô hình thí điểm ngành hàng rau tại HCM và Lâm Đồng, 1
mô hình trái cây tại Tiền Giang đã được chứng nhận VietGAP. Trong năm
2012, 100% mô hình thí điểm rau, trái cây sẽ được chứng nhận VietGAP, ít
nhất 80% của tổng số 11 trại chăn nuôi lợn và 15 trại chăn nuôi gà sẽ được
chứng nhận VietGAHP/ SOPs, 3 cơ sở giết mổ heo và 3 cơ sở giết mổ gà sẽ
được chứng nhận GMPs hoặc đảm bảo điều kiện vệ sinh, an toàn thực phẩm
theo quy định của Bộ Nông nghiệp và PTNT;
- Bước đầu đã tạo được mối liên kết giữa người sản xuất, kinh doanh
và tiêu thụ sản phẩm (mô hình thí điểm đối với sản phẩm rau tại Lâm Đồng
và TP. Hồ Chí Minh);
- Các cơ sở, hợp tác xã, các bên tham gia mô hình thí điểm đã xây
dựng hệ thống quản lý chất lượng cơ sở với sự phân công trách nhiệm rõ ràng
tao điều kiện thuận lợi trong triển khai các hoạt động tập huấn, hướng dẫn áp
dụng GPPs, kiểm tra giám sát, lấy mẫu kiểm nghiệm;

* Một số mô hình tổ chức triển khai theo chuỗi khác được triển khai
trong thời gian qua như:
- Mô hình tổ chức nông dân sản xuất, chế biến và thương mại gạo tám
xoan Hải Hậu trong khuôn khổ dự án “Xây dựng mô hình tổ chức nông dân
sản xuất, chế biến và thương mại gạo tám xoan Hải Hậu” do Trung tâm Phát
triển nông thôn - Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp
Nông thôn và Hiệp hội sản xuất, chế biến và thương mại gạo Tám xoan Hải
hậu triển khai năm 2009. Một trong những nội dung chính của việc triển khai
mô hình đó là xây dựng được một phương pháp triển khai hoạt động tổ chức
sản xuất với mục tiêu là đảm bảo chất lượng sản phẩm đến với người tiêu
dùng. Những vấn đề chủ yếu của nội dung quản lý sản xuất bao gồm: Quản lý
lãnh thổ, quản lý quy trình sản xuất bắt buộc trong sản xuất và chế biến, quản
lý thương mại sản phẩm
- Mô hình liên kết sản xuất và tiêu thụ cá tra, cá basa tại Đồng bằng
Sông Cửu Long (mô hình của Công ty Cổ phần Vĩnh Hoàn - Đồng Tháp, mô
hình của Công ty Cổ phẩn thủy sản An Giang …). Việc triển khai các mô
hình chủ yếu thông qua việc thực hiện các cam kết về sản xuất và tiêu thụ sản
phẩm, cam kết tuân thủ các quy định về đảm bảo chất lượng, an toàn thực
phẩm.

Đánh giá chung về một số bất cập, tồn tại về tổ chức sản xuất kinh
doanh gắn với quản lý ATTP trong toàn bộ quá trình (theo chuỗi) triển khai
trong thời gian qua đó là:
- Sản xuất các sản phẩm nông sản (rau quả, thịt lợn, thịt gà) còn manh
mún nhỏ lẻ, trình độ hạn chế nên rất khó áp dụng các quy định của thực hành
nông nghiệp tốt, khoa học công nghệ tiên tiến, hệ thống quản lý chất lượng
tiên tiến dẫn đến năng suất và chất lượng không được như mong muốn, đó là
những khó khăn mà người nông dân không dễ vượt qua.

7

nước được phân công cho nhiều đơn vị tham gia (cắt khúc).
Bên cạnh đó, những hạn chế, yếu kém trong công tác quản lý an toàn
thực phẩm thời gian qua làm giảm sút lòng tin người tiêu dùng. Các văn bản
quy phạm pháp luật, cơ chế chính sách để khuyến khích phát triển chuỗi thực
phẩm an toàn còn thiếu và chưa đồng bộ; nhất là chưa có cơ quan thống nhất
trong cả nước về quản lý, kiểm soát an toàn thực phẩm.
Trước tình hình thực tế nêu trên, thực trạng đáng báo động này đặt ra
yêu cầu cấp thiết cần xây dựng chuỗi thực phẩm an toàn nhằm giám sát, quản
lý chất lượng, có thể dễ dàng truy xuất tận gốc sản phẩm, tạo niềm tin với
người tiêu dùng, góp phần xây dựng thương hiệu nông sản Việt Nam. Tuy

8
nhiên, việc triển khai cần được thử nghiệm, sau đó tổng kết, đánh giá rút kinh
nghiệm và nhân rộng mô hình trên diện rộng.
1.4. Kinh nghiệm của quốc tế về tổ chức sản xuất kinh doanh gắn
với quản lý an toàn thực phẩm theo chuỗi.
Kiểm soát an toàn thực phẩm theo chuỗi giá trị nhiều nước đã được
triển khai ở nhiều nước có nền sản xuất nông nghiệp tiên tiến như Nhật Bản,
Úc, New Zealand, , Canada, Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Malaysia, Thái Lan ….
Nghiên cứu mô hình kiểm soát an toàn thực phẩm theo chuỗi của Nhật
Bản cho thấy:
Quản lý an toàn thực phẩm được chia thành 04 giai đoạn đánh dấu về
sự tiến bộ triển khai an toàn thực phẩm (trước chiến tranh thế giới thứ 2; giai
đoạn 1945 - 1984; giai đoạn 1984 - 2002 và giai đoạn từ 2003 đến nay). Giai
đoạn 1984 - 2002 là giai đoạn đánh dấu cột mốc cho sự tiếp cận mạnh mẽ
trong việc triển khai an toàn thực phẩm theo chuỗi và đến giai đoạn từ 2003
đến nay được xác định là đã cơ bản thực hiện kiểm soát an toàn thực phẩm
theo chuỗi đối với hầu hết các loại sản phẩm thực phẩm sản xuất và đưa ra
tiêu thụ ở Nhật Bản và xuất khẩu.
Việc kiểm soát an toàn thực phẩm theo chuỗi ở Nhật Bản được hình

thành công về vấn đề an toàn thực phẩm. Nhật Bản tổ chức thực hiện kiểm
soát an toàn thực phẩm trên cơ sở đánh giá rủi ro đối với từng chuỗi sản
phẩm, tức là đối với mỗi chuỗi sản xuất nhóm ngành hàng cụ thể đều nhận
diện ra hết tất cả các nguy cơ/ mối nguy về an toàn thực phẩm có thể hiện
diện và đưa ra những biện pháp/ giải pháp kiểm soát phù hợp, đủ để kiểm
soát.
- Việc phân công cơ quan quản lý về an toàn thực phẩm cũng quy về
đầu mối và phân công rõ ràng giữa các cơ quan. Hiện tại, việc phân công
quản lý ở cấp trung ương được giao cho Bộ Y tế, Lao động và phúc lợi và Bộ
Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Thủy sản với những phạm vi quản lý phân
công rõ ràng và có những cơ chế phối hợp để triển khai.
- Năm 2003, Nhật Bản đã thành lập Ủy ban an toàn thực phẩm, trong
đó thực hiện chức năng chính đó là tổ chức đánh giá rủi ro theo yêu cầu của
các Bộ quản lý chuyên ngành về an toàn thực phẩm. Các đánh giá rủi ro là
căn cứ để cơ quan quản lý quyết định ban hành các quy định áp dụng.
- Kiểm tra, giám sát an toàn thực phẩm cũng được thiết lập theo chuỗi.
Cơ quan quản lý theo phân công sẽ dựa trên nguy cơ về an toàn thực phẩm đã
được xác định trong chuỗi và dòng chảy của sản phẩm từ công đoạn sản xuất
đến tiêu thụ trên thị trường để xác định các điểm kiểm soát phù hợp nhằm
phát hiện các vấn đề về an toàn thực phẩm, đồng thời có biện pháp ngăn chặn
sản phẩm không đảm bảo yêu cầu được lưu thông trên thị trường, đến tay
người tiêu dùng.
Các tổ chức, hiệp hội tham gia tích cực vào kiểm soát an toàn thực
phẩm theo chuỗi ở Nhật Bản đó là: Hiệp hội an toàn thực phẩm, Ủy ban an
toàn thực phẩm, Ủy ban người tiêu dùng, Hiệp hội sản xuất các ngành hàng
thực phẩm. Các tổ chức, hiệp hội này phối hợp rất mật thiết với các cơ quan
chức năng quản lý nhà nước để thực thi tốt việc kiểm soát an toàn thực phẩm
theo chuỗi thông qua các liên kết dọc và liên kết ngang.
Việc triển khai quản lý an toàn thực phẩm theo mô hình chuỗi được
triển khai theo từng bước: đánh giá lựa chọn vùng, ngành hàng và làm thí

thúc đẩy sản xuất, nâng cao giá trị sản phẩm và tiêu thụ sản phẩm;
Một trong những nguyên tắc quản lý an toàn thực phẩm được quy định
Luật an toàn thực phẩm (Điều 3) đó là "quản lý an toàn thực phẩm phải được
thực hiện trong suốt quá trình sản xuất, kinh doanh thực phẩm trên cơ sở
phân tích nguy cơ đối với an toàn thực phẩm". Để tuân thủ nguyên tắc này
cần phải kiểm soát an toàn thực phẩm trong toàn bộ chuỗi sản xuất. Do đó,
việc xây dựng và phát triển các mô hình sản xuất theo chuỗi sẽ giúp cho việc
nâng cao hiệu lực, hiệu quả kiểm soát an toàn thực phẩm theo quy định trong
Luật An toàn thực phẩm.
Xây dựng và phát triển các chuỗi thực phẩm an toàn "từ trang trại đến
bàn ăn" là một giải pháp có tính đột phá và bền vững để quản lý tốt chất
lượng, an toàn thực phẩm, đồng thời đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng.
Tuy nhiên, để triển khai rộng rãi các mô hình quản lý an toàn thực phẩm theo
chuỗi, trước hết cần triển khai xây dựng thí điểm/ thử nghiệm, sau đó đánh
giá hiệu quả, tác động đến vấn đề kinh tê và xã hội rồi mới phát triển đồng bộ
trên phạm vi cả nước. Việc xây dựng và phát triển chuỗi an toàn thực phẩm
với lộ trình phù hợp trên một hệ thống quản lý đủ mạnh, có hiệu lực, sẽ tạo sự
tác động rõ rệt và toàn diện tới việc cải thiện an toàn thực phẩm, góp phần
bảo vệ sức khỏe của chính mình và cho cả cộng đồng

11
2. Cơ sở pháp lý xây dựng đề án:
Trong các văn bản về chủ trương, định hướng, phát triển kinh tế xã hội
của Nhà nước và Chính phủ có liên quan đến sản xuất nông lâm thủy sản đều
đề cập đến vấn đề quản lý theo chuỗi, nhằm thúc đẩy sản xuất, phát triển bền
vững, đảm bảo an ninh lương thực và an toàn thực phẩm, bảo vệ sức khỏe
người tiêu dùng, cụ thể các văn bản liên quan dưới đây sẽ là căn cứ để xây
dựng đề án:
- Nghị quyết số 34/2009/QH12 ngày 19/6/2009 của Quốc hội khóa XII
về đẩy mạnh thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý chất lượng, ATTP;

12
Phạm vi của đề án giới hạn trong phạm vi quản lý nhà nước về an toàn
thực phẩm của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn theo Luật An toàn thực
phẩm số 55/2010/QH gồm: Quản lý an toàn thực phẩm trong suốt quá trình sản
xuất, thu gom, giết mổ, sơ chế, chế biến, bảo quản, vận chuyển, xuất khẩu,
nhập khẩu, kinh doanh đối với rau quản, thịt và thủy sản. Đồng thời để tránh
trùng lặp với các chiến lược, chương trình, đề án, dự án khác có liên quan
(Chiến lược quốc gia về an toàn thực phẩm, Chương trình Mục tiêu quốc gia
về ATTP và các chiến lược, chương trình, đề án tăng cường năng lực trong
các lĩnh vực thủy sản, chăn nuôi, trồng trọt, thú y, bảo vệ thực vật, các đề án
thực hiện Nghị quyết trung ương 7 Khóa X về Nông nghiệp - Nông dân -
Nông thôn) phạm vi của Đề án sẽ tập trung chủ yếu vào kiểm soát Chuỗi sản
phẩm nông lâm thủy sản chủ lực, có mức độ rủi ro cao và đang có nhiều bức xúc
trong dư luận xã hội trong thời gian qua và cần ưu tiên triển khai, đó là:
- Nhóm sản phẩm có nguồn gốc động vật trên cạn: Thịt lợn, thịt gà ;
- Nhóm sản phẩm có nguồn gốc thực vật: Rau, quả;
- Nhóm sản phẩm thủy sản: Cá tra, tôm nước lợ.

PHẦN I
MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP

1. Mục tiêu chung
Góp phần cải thiện an toàn thực phẩm nông lâm thủy sản thông qua
đổi mới tổ chức sản xuất và phương thức quản lý an toàn thực phẩm nông
lâm thủy sản theo Luật An toàn thực phẩm.

2. Mục tiêu cụ thể (đưa ra các chỉ số cụ thể)
- Các cơ chế chính sách, quy định về quản lý theo chuỗi đầy đủ và phù
hợp.
- 52 mô hình chuỗi cung cấp thực phẩm nông lâm thủy sản an toàn

- Đề xuất các nội dung và phương thức áp dụng vào quản lý an toàn
thực phẩm chuỗi sản xuất thực phẩm nông lâm thủy sản tại các mô hình thí
điểm.
3.3. Xây dựng và thử nghiệm các mô hình thí điểm.
- Đánh giá và lựa chọn các địa phương, vùng sản xuất có đủ điều kiện
tiên quyết và cam kết tham gia mô hình thí điểm;
- Thiết lập chương trình thử nghiệm;
- Phổ biến và tập huấn hướng dẫn triển khai mô hình thí điểm đến các
đơn vị, chuỗi cơ sở sản xuất kinh doanh liên quan;
- Áp dụng thử nghiệm kiểm soát theo chương trình;
- Hướng dẫn cơ sở sản xuất tự giám sát, kiểm tra việc triển khai
chương trình;
- Phân công giám sát cộng đồng trong toàn bộ chuỗi thử nghiệm; phân
công giám sát cơ quan chức năng;
- Đánh giá định kỳ triển khai chương trình thử nghiệm.
- Đăng ký chứng nhận hệ thống đảm bảo an toàn thực phẩm;
3.4. Hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật làm cơ sở phát triển mô
hình chuỗi cung cấp thực phẩm nông lâm thủy sản an toàn, tổ chức liên kết
chuỗi sản xuất kinh doanh gắn với quản lý an toàn thực phẩm.

14
- Đề xuất các nội dung cần sửa đổi, bổ sung về cơ chế, chính sách, quy
định để kiểm soát, quản lý hiệu quả và nhân rộng mô hình chuỗi cung cấp
thực phẩm nông lâm thủy sản an toàn;
- Xây dựng dự thảo các văn bản quy định;
- Tổ chức lấy ý kiến của các bên có liên quan;
- Trình cấp có thẩm quyền phê duyệt, ban hành;
3.5. Tổng kết, đánh giá và phổ biến nhân rộng.
- Tổ chức đánh giá, tổng kết việc triển khai các mô hình thí điểm, đánh
giá kết quả đạt được, tồn tại, nguyên nhân, bài học kinh nghiệm và giải pháp

- Đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, truyền thông về ATTP nông lâm
thủy sản trên các phương tiện thông tin đại chúng để nâng cao nhận thức của
người sản xuất kinh doanh thực phẩm nông lâm thủy sản, thay đổi hành vi để
sản xuất thực phẩm an toàn;
- Tuyên truyền về cách lựa chọn sản phẩm an toàn, sản phẩm có nguồn
gốc xuất xứ được kiểm soát theo chuỗi để người tiêu dùng lựa chọn sản phẩm
an toàn, góp phần nâng cao giá trị sản phẩm được sản xuất trong điều kiện
đảm bảo an toàn, thúc đẩy việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm được sản xuất
theo chuỗi.
- Phổ biến các mô hình điểm hiệu quả sản xuất an toàn thực phẩm theo
chuỗi để phát triển và nhân rộng tại các địa phương khác;
- Tổ chức các hội thảo/ lớp tập huấn đào tạo hướng dẫn và chia sẻ xây
dựng chuỗi liên kết sản xuất, triển khai kiểm soát an toàn thực phẩm tại các
công đoạn sản xuất trong chuỗi trên cơ sở đánh giá nguy cơ về an toàn thực
phẩm.
4.4. Về tăng cường năng lực cơ quan quản lý.
a. Tăng cường nguồn lực
- Hoàn thiện hệ thống quản lý, đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, trang
thiết bị làm việc cho hệ thống cơ quan quản lý VSATTP nông sản từ trung
ương đến địa phương;
- Đào tạo nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý
VSATTP;
b. Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra
- Tăng cường phối hợp giữa các đơn vị thuộc Bộ NN&PTNT và giữa
Bộ NN&PTNT và các Bộ, ngành liên quan;
- Thành lập và triển khai hoạt động của hệ thống thanh tra VSATTP
trong nông nghiệp từ trung ương đến địa phương; tăng cường phối hợp
- Xây dựng hệ thống giám sát và cảnh báo về chất lượng, VSATTP;
thực hiện truy xuất nguyên nhân sản phẩm rau, quả, chè và thịt không đảm
bảo ATTP;

Đề xuất và kiến nghị Nhà nước cấp kinh phí đủ và kịp thời để triển
khai các chương trình, dự án về kiểm soát an toàn thực phẩm theo chuỗi giá
trị thông qua ngân sách cấp thường xuyên hàng năm, chương trình mục tiêu
quốc gia về an toàn thực phẩm cấp qua từng giai đoạn và hàng năm.
c. Đầu tư của doanh nghiệp
Các doanh nghiệp có trách nhiệm tự nâng cấp điều kiện cơ sở vật chất
trong sản xuất kinh doanh (nhà xưởng, trang thiết bị, áp dụng chương trình
quản lý chất lượng …) nhằm đáp ứng đầy đủ các yêu cầu quy định về an toàn
thực phẩm;
Xây dựng các mối liên kết ngang dọc trong quá trình sản xuất kinh
doanh chuỗi sản phẩm.
PHẦN II
CÁC DỰ ÁN THUỘC ĐỀ ÁN
1. Dự án 1: Xây dựng và phát triển mô hình chuỗi cung cấp thực
phẩm nông lâm thủy sản an toàn

17
Hợp phần 1. Xây dựng và phát triển mô hình chuỗi cung cấp thực
phẩm sản phẩm có nguồn gốc động vật trên cạn (gà, lợn);
Hợp phần 2. Xây dựng và phát triển mô hình chuỗi cung cấp thực
phẩm sản phẩm có nguồn gốc thực vật (rau, quả);
Hợp phần 3. Xây dựng và phát triển mô hình chuỗi cung cấp thực
phẩm sản phẩm thủy sản (tôm nước lợ, cá tra).
1.1. Giai đoạn 1 (2012-2015): Xây dựng áp dụng thí điểm, kiểm
chứng hoàn thiện mô hình
a. Nội dung giai đoạn 1 (theo từng hợp phần)
- Khảo sát, đánh giá hiện trạng về tổ chức sản xuất kinh doanh, liên kết
dọc, ngang; hiện trạng, phương thức quản lý an toàn thực phẩm.
- Đánh giá các mô hình liên kết chuỗi sản xuất kinh doanh gắn với
quản lý an toàn thực phẩm đã được triển khai trong thời gian qua.

- Hợp phần 3: 63 tỷ

1.3. Phân công thực hiện
Hợp phần 1.
- Chủ trì: Cục Thú y
- Phối hợp: Cục QLCL NLS&TS; Cục Chăn nuôi; Cục Chế biến,
Thương mại Nông Lâm thủy sản và Nghề muối, Sở NN&PTNT các tỉnh/
thành phố, Hiệp hội ngành hàng liên quan.
Hợp phần 2
- Chủ trì: Cục BVTV
- Phối hợp: Cục QLCL NLS&TS; Cục Trồng trọt; Cục Chế biến,
Thương mại Nông Lâm thủy sản và Nghề muối, Sở NN&PTNT các tỉnh/
thành phố.
Hợp phần 3:
- Chủ trì: Cục QLCL NLS&TS
- Phối hợp: Tổng cục Thủy sản; Cục Thú y; Cục Chế biến, Thương mại
Nông Lâm thủy sản và Nghề muối, Sở NN&PTNT các tỉnh/ thành phố,Hiệp
hội ngành hàng liên quan.
2. Dự án 2: Hoàn thiện cơ chế chính sách, pháp luật làm cơ sở phát
triển mô hình chuỗi cung cấp thực phẩm nông lâm thủy sản an toàn;
a. Nội dung Dự án:
- Rà soát, đánh giá hiện trạng các văn bản quy định về cơ chế, chính
sách, quy định về tổ chức sản xuất, kinh doanh theo chuỗi gắn với quản lý
ATTP theo chuỗi nông lâm thủy sản;
- Tổ chức đi học hỏi kinh nghiệm các nước có điều kiện tương đồng
với Việt Nam về tổ chức sản xuất kinh doanh theo chuỗi gắn với quản lý
ATTP nông lâm thủy sản;
- Đề xuất sửa đổi, bổ sung các cơ chế, chính sách, quy định về quản lý
ATTP theo chuỗi cung cấp thực phẩm nông lâm thủy sản;


sở vật chất kỹ thuật, các trang thiết bị, công nghệ của các phòng kiểm
nghiệm, kiểm chứng phục vụ việc quản lý và giám sát rủi ro quá trình sản
xuất của các cơ quan quản lý ở Trung ương và các địa phương; xây dựng hệ
thống thông tin quản lý và cơ sở dữ liệu quản lý chất lượng nông lâm thủy
sản; nghiên cứu xây dựng và hoàn thiện cơ chế chính sách; biên soạn tiêu
chuẩn, quy trình kỹ thuật; kiện toàn bộ máy, đào tạo, nâng cao chuyên môn,
nghiệp vụ cho các đối tượng công chức, viên chức ở Trung ương và địa
phương;

20
c. Vốn của các tổ chức, cá nhân: Các tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng
các phòng kiểm nghiệm, cung ứng các dịch vụ tư vấn, đào tạo, chứng nhận về
đảm bảo chất lượng, an toàn thực phẩm nông, lâm, thủy sản và muối trong
quá trình sản xuất, kinh doanh; tham gia xây dựng lực lượng kiểm soát hoạt
động theo hướng xã hội hoá; đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp
vụ cho người làm việc của các doanh nghiệp, của lực lượng kiểm soát xã hội
hoá;
2. Tổng hợp nhu cầu kinh phí:
Tổng kinh phí triển khai các nội dung đề án: 278 tỷ, trong đó:
- Hỗ trợ của quốc tế: chiếm 30%;
- Ngân sách nhà nước cấp: chiếm 50%
- Vốn của địa phương/ tổ chức, cá nhân: chiếm 20%

PHẦN IV
TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1. Thời gian thực hiện
Đề án được triển khai thực hiện từ năm 2012 đến 2020 tại cấp trung
ương và tại các địa phương trong cả nước.
2. Địa điểm triển khai:

dự án đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất kỹ thuật, đào tạo nguồn nhân lực; bố trí
mặt bằng xây dựng trụ sở và các công trình của hệ thống quản lý chất lượng,
an toàn thực phẩm nông lâm thủy sản và muối của trung ương và địa phương;
xây dựng ban hành cơ chế chính sách khuyến khích, hỗ trợ các tổ chức, cá
nhân đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật, tổ chức lực lượng nhằm tăng cường kiểm
soát trong quá trình sản xuất bảo đảm chất lượng, an toàn thực phẩm.
3. 6. Hiệp hội, ngành hàng liên quan: Vận động các hội viên tích cực
tham gia mô hình thí điểm kiểm soát an toàn thực phẩm theo chuỗi giá trị
ngành hàng; tuyên truyền và phổ biến đến các hội viên chấp hành tốt các quy
định về đảm bảo an toàn thực phẩm trong toàn bộ chuỗi; giữ vai trò quan
trọng trong việc giám sát cộng đồng về an toàn thực phẩm trong toàn bộ
chuỗi giá trị ngành hàng.

3.7. Các cơ sở sản xuất kinh doanh thực phẩm nông lâm thủy sản: Chịu
trách nhiệm về an toàn đối với thực phẩm do mình sản xuất, kinh doanh; chấp
hành tốt các quy định về an toàn thực phẩm trong toàn bộ quá trình sản xuất
của cơ sở, xây dựng mối liên kết chặt chẽ về trách nhiệm an toàn thực phẩm
của cơ sở theo nguyên tắc 01 bước trước và 01 bước sau, có trách nhiệm
giám sát lẫn nhau về an toàn thực phẩm, thông tin đầy đủ và chính xác về các
vấn đề an toàn thực phẩm được phát hiện trong toàn bộ chuỗi sản xuất kinh
doanh thực phẩm. 1

ự án
Quốc tế
D
ự án 1: Xây dựng và phát triển mô hình chuỗi cung cấp thực phẩm nông lâm thủy sản an toàn

1
Giai đoạn 1: Thử nghiệm 1.1
Hợp phần 1. Xây dựng mô
hình chuỗi cung cấp thực
phẩm sản phẩm có nguồn gốc
động vật trên cạn (gà, lợn);
- Khảo sát, đánh giá hiện trạng
- Thiết lập các mô hình thí điểm
chuỗi cung cấp thực phẩm nông
lâm thủy sản an toàn;
- Triển khai áp dụng thử nghiệm
kiểm chứng, hoàn thiện mô hình;
- Tổ chức các hội nghị đánh giá
giữa kỳ, tổng kết đánh giá mô
hình;

2013 - 2015 28

14


5,6

8,4

2
Giai đo
ạn 2:
Phát triển/ nhân
rộng
2.1

Hợp phần 1. Xây dựng mô
hình chuỗi cung cấp thực
phẩm sản phẩm có nguồn gốc
động vật trên cạn (gà, lợn);
- Tuyên truyền, phổ biến, giáo
dục, đào tạo, tập huấn
- Kiểm tra, giám sát, hỗ trợ kỹ
thuật, chuyển giao công nghệ,
2016 - 2020

63


2016 - 2020

63

31,5

12,6

18,9

2.
3

Hợp phần 3. Xây dựng mô
hình chuỗi cung cấp thực
phẩm sản phẩm thủy sản (tôm
nước lợ, cá tra).
2016
-

2020

63

31,5

12,6

18,9




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status