Đề tài: Hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ của ngân hàng thương mại (nghiên cứu tại ngân hàng TMCP Quân đội) - Pdf 15



1

 LUẬN VĂN

Hoạt động thanh toán quốc tế theo
phương thức tín dụng chứng từ của
ngân hàng thương mại (nghiên cứu tại
ngân hàng TMCP Quân đội)

2



của ngân hàng TMCP Quân đội nói riêng đồng thời thúc đẩy hoạt động xuất
nhập khẩu phát triển.
Xuất phát từ lý do trên, trong thời gian thực tập tại ngân hàng TMCP
Quân đội, cùng với những kiến thức về TTQT đã được học tại trường đại học,
em đã lựa chọn đề tài: “Hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức
tín dụng chứng từ của ngân hàng thương mại (nghiên cứu tại ngân hàng
TMCP Quân đội)”. Trong phạm vi của bài viết chủ yếu tìm hiểu tình hình,
kinh nghiệm thực tế, những vấn đề còn tồn tại trong công tác TTQT theo
phương thức tín dụng chứng từ tại ngân hàng TMCP Quân đội. Và trên những
hiểu biết ban đầu về lĩnh vực đó, em xin đề xuất một số giải pháp nhằm phát
triển hoạt động TTQT theo phương thức tín dụng chứng từ tại ngân hàng
TMCP Quân đội.
Kết cấu của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín
dụng chứng từ của ngân hàng thương mại.
Chương 2: Thực trạng hoạt động thanh toán quốc tế theo phương
thức tín dụng chứng từ tại ngân hàng TMCP Quân đội.
Chương 3: Giải pháp phát triển hoạt động thanh toán quốc tế theo
phương thức tín dụng chứng từ tại ngân hàng TMCP Quân đội.

chương 1
hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ của
ngân hàng thương mại

chỉ khác là ở nguồn vốn. Thanh toán mậu dịch được thực hiện bằng vốn tự có,
còn thanh toán vay nợ hay viện trợ do nước ngoài cấp vốn. Ngày nay, hình
thức thanh toán này chiếm một tỷ trọng khá lớn nhất là ở các nước bắt đầu
phát triển hay các nước đang phát triển để thanh toán các khoản nợ, khoản
viện trợ tới kỳ hạn hoàn trả của quốc gia. 5

Về cơ bản TTQT phát sinh trên cơ sở hoạt động thương mại quốc tế.
Khi đề cập đến hoạt động thương mại quốc tế là đề cập đến quan hệ mua bán,
trao đổi hàng hoá giữa các nước. TTQT là khâu cuối cùng của một quá trình
sản xuất và lưu thông hàng hoá, do vậy nếu công tác thanh toán quốc tế được
tổ chức tốt thì giá trị hàng xuất khẩu mới được thực hiện, góp phần thúc đẩy
thương mại quốc tế phát triển. TTQT trở thành một yếu tố quan trọng để nâng
cao hiệu quả hoạt động đối ngoại.
Thanh toán quốc tế thực sự phức tạp, nhất là trong điều kiện hiện nay,
khi nền kinh tế thế giới có nhiều bất ổn, tỷ giá hối đoái biến động liên tục, vì
vậy yêu cầu đặt ra cho công tác thanh toán quốc tế là đảm bảo an toàn cho các
hợp đồng nhập khẩu, các khoản doanh thu hàng xuất khẩu thu về một cách
kịp thời, chính xác, an toàn.
1.2. Vai trò của hoạt động thanh toán quốc tế
Hoạt động thanh toán quốc tế ngày càng có vị trí quan trọng trong quá
trình phát triển kinh tế đất nước, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi chúng
ta đang tiến hành sự nghiệp xây dựng đất nước.Thông qua hoạt động TTQT ,
chúng ta có thể tận dụng được vốn, công nghệ nước ngoài để thực hiện công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, rút ngắn khoảng cách tụt hậu và đưa nền
kinh tế đất nước hoà nhập với nền kinh tế khu vực và trên thế giới.
Hoạt động TTQT là khâu quan trọng trong quá trình mua bán, trao đổi
hàng hoà dịch vụ giữa các tổ chức cá nhân thuộc các quốc gia khác nhau.

Phương thức thanh toán quốc tế là toàn bộ quá trình, cách thức trả tiền
hàng trong giao dịch mua bán ngoại thương giữa người xuất khẩu và người
nhập khẩu. Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng mở rộng và phát
triển, các phương thức thanh toán quốc tế cũng ngày càng đa dạng và phong
phú, nhằm đáp ứng tốt hơn các nhu cầu về thanh toán cho khách hàng. Mỗi
phương thức thanh toán có những ưu nhược điểm khác nhau, hiện nay một số
phương thức được sử dụng phổ biến trong thanh toán quốc tế gồm:
1.3.1. Phương thức chuyển tiền
Phương thức chuyển tiền là phương thức thanh toán quốc tế mà khách
hàng (người trả tiền) yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển một số tiền
nhất định cho người khác (người hưởng lợi) ở một địa điểm, trong một thời
gian nhất định bằng phương thức chuyển tiền theo yêu cầu khách hàng.
a/.Trường hợp áp dụng thanh toán chuyển tiền
- Hai bên có quan hệ lâu năm và tín nhiệm lẫn nhau 7

- Thanh toán trong phi mậu dịch, chuyển vốn ra nước ngoài đầu tư,
chuyển lợi nhuận về nước, chuyển kiều hối.
b/. Ưu nhược điểm
- Ưu điểm: Là phương tiện đơn giản, thuận tiện, thanh toán trực tiếp
giữa bên mua và bên bán, ngân hàng chỉ giữ vai trò trung gian.
- Nhược điểm: Việc thanh toán phụ thuộc vào thiện chí của người
mua, bên bán dễ bị chiếm dụng vốn trong thanh toán. Phương thức này
thường chỉ sử dụng trong lĩnh vực phi mậu dịch và thanh toán trong lĩnh vực
thương mại, các chi phí có liên quan đến xuất nhập khẩu hàng hoá (phí vận
chuyển, bảo hiểm…)
Quy trình thanh toán nghiệp vụ theo phương thức trả tiền


kh
ẩu

(1)

Ngân hàng chuyển
ti
ền

Ngân hàng
đ
ại lý

Người nhập
kh
ẩu

Người xuất
kh
ẩu

(1)

(4)

(2)(3
(5)

mua có thể nhận hàng và không trả tiền hoặc trả tiền chậm trễ.
- Đối với người mua: Khi áp dụng phương thức này cũng có điều bất
lợi, Vì nếu hối phiếu đến sớm hơn chứng từ, người mua phải trả tiền ngay
trong khi không biết việc giao hàng của người bán có đúng hợp đồng hay
không. 9
Quy trình thanh toán theo phương thức nhờ thu phiếu trơn
(1): Người xuất khẩu giao hàng và bộ chứng từ hàng hoá cho người
nhập khẩu.
(2): Người xuất khẩu lập hối phiếu và uỷ thác cho ngân hàng thu hộ
tiền ở người nhập khẩu bằng nhờ thu.
(3): Ngân hàng thu hộ gửi thư uỷ thác nhờ thu kèm hối phiếu cho ngân
hàng đại lý của mình ở nước nhập khẩu để yêu cầu thu tiền.
(4): Ngân hàng đại lý gửi hối phiếu cho người nhập khẩu để yêu cầu
thanh toán hay chấp nhận hối phiếu.
(5): Người nhập khẩu thông báo đồng ý chấp nhận thanh toán hoặc từ
chối.
(6): Ngân hàng đại lý chuyển tiền và gửi giấy báo có hoặc hối phiếu đã
chấp nhận thanh toán về ngân hàng thu nợ hoặc thông báo về sự từ chối thanh
10

nhận trả tiền hối phiếu thì ngân hàng mới trao bộ chứng từ gửi hàng cho
người mua để nhận hàng.
Trong nhờ thu kèm chứng từ, người bán uỷ thác cho cho ngân hàng
ngoài việc thu hộ tiền còn có việc nhờ ngân hàng khống chế chứng từ vận tải
đối với người mua. Đây là sự khác nhau cơ bản giữa nhờ thu kèm chứng từ và
nhờ thu phiếu trơn.
* Nhược điểm:
- Người bán thông qua ngân hàng mới khống chế được quyền định
đoạt hàng hoá của người mua, chứ chưa khống chế được việc trả tiền của
người mua. Người mua có thể kéo dài việc trả tiền bằng cách chưa nhận
chứng từ hoặc có thể không trả tiền cũng được khi thị trường bất lợi với họ.
- Việc trả tiền còn quá chậm chạp, từ lúc giao hàng đến lúc nhận được
tiền có khi kéo dài vài tháng hoặc nửa năm.
- Trong phương thức này ngân hàng chỉ đóng vai trò là người trung
gian thu tiền hộ, còn không có trách nhiệm đến việc trả tiền của người mua.
* Tuỳ theo thời hạn trả tiền phương thức này được chia ra làm:
+ Nhờ thu trả tiền đổi chứng từ (Documentary against payment- D/P):
phương thức này thường chỉ sử dụng trong trường hợp người bán trả tiền
ngay.
+ Nhờ thu chấp nhận đổi chứng từ (Documentary against acceptance-
D/A)
Phương thức này được sử dụng trong trường hợp mua chụi. Trình tự
tiến hành D/A cũng giống như D/P song một điểm khác là người mua chỉ phải
ký chấp nhận trả tiền vào hối phiếu thì sẽ được ngân hàng trao cho bộ chứng
từ gửi hàng để đi nhậnh hàng.
Quy trình thanh toán theo phương thức nhờ thu kèm chứng từ

)

(5
)

(6
)

(2
)
11

(1): Người xuất khẩu giao hàng sang nước nhập khẩu.
(2): Người nhập khẩu ký phát hối phiếu đòi tiền người nhập khẩu gửi
kèm theo bộ chứng từ hàng hoá đến ngân hàng phục vụ mình để nhờ thu hộ
tiền người nhập khẩu.
(3): Ngân hàng thu hộ gửi hối phiếu, chứng từ hàng hoá kèm theo thư
uỷ nhiệm sang ngân hàng đại lý nước nhập khẩu nhờ thu hộ tiền.
(4): Ngân hàng đại lý sau khi kiểm tra, giữ lại bộ chứng từ, gửi hối
phiếu đến người nhập khẩu yêu cầu trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền.
(5): Người nhập khẩu thông báo chấp nhận hoặc từ chối thanh toán.
(6): Ngân hàng đại lý chuyển giao chứng từ hàng hoá cho người nhập
khẩu để họ nhận hàng nếu người nhập khẩu đồng ý thanh toán.
(7): Ngân hàng đại lý thực hiện bút toán chuyển tiền và gửi giấy báo có

khi nhận được hàng. Như đã phân tích các phương thức thanh toán ở trên đều
không đảm bảo quyền lợi công bằng cho cả người bán và người mua. Một
phương thức thanh toán quốc tế có sự tham gia trực tiếp của ngân hàng trong
quá trình thanh toán đã giải quyết được vấn đề trên. Đó chính là phương thức
tín dụng chứng từ (TDCT).
Phương thức TDCT là một sự thoả thuận trong đó một ngân hàng (ngân
hàng mở thư tín dụng) theo yêu cầu của khách hàng (người mử thư tín dụng)
sẽ trả một số tiền nhất định cho người khác (người hưởng lợi) hoặc chấp nhận
hối phiếu do người này ký phát trong phạm vi số tiền và thời gian qui định
trong thư tín dụng.
Phương thức TDCT ra đời vào năm 1993, đáp ứng nhu cầu nâng cao
hiệu quả thanh toán quốc tế và từ đó đến nay nó trở thành phương thức thanh
toán quốc tế thông dụng nhất trong ngoại thương.
1.3.3.1. Các bên tham gia trong phương thức TDCT:
- Người xin mở thư tín dụng (Aplicant) là người mua, người nhập
khẩu hàng hoá, hoặc là người mua uỷ thác cho một người khác.
- Người hưởng lợi thư tín dụng (benificiary) là người bán, người xuất
khẩu hay bất cứ người nào khác mà người hưởng lợi chỉ định.
- Ngân hàng mở thư tín dụng (Issuing Bank) là ngân hàng phục vụ
người nhập khẩu, cấp tín dụng cho người nhập khẩu và đớng ra cam kết trả
tiền cho người hưởng lợi thư tín dụng khi người này xuất trình chứng từ phù
hợp với các điều kiện điều khoản của thư tín dụng. 13

- Ngân hàng thông báo thư tín dụng (Advising Bank) là ngân hàng
thông báo trực tiếp về thư tín dụng và các giao dịch có liên quan đến thư tín
dụng cho người hưởng lợi thư tín dụng. Đây là ngân hàng chi nhánh hoặc
ngân hàng đại lý của ngân hàng phát hành và thường ở nước người xuất khẩu.

hàng mở thư tín dụng có nghĩa vụ trả tiền cho người hưởng lợi khi họ đưa ra
bộ chứng từ hợp lý ngay cả khi người hưởng lợi không có khả năng trả tiền.
- Ngân hàng thông báo và người được hưởng: Ngân hàng thông báo
chỉ thực hiện thông báo thư tín dụng mà không có một cam kết nào về thanh
toán đối với tín dụng chứng từ, vì ngân hàng thông báo và người hưởng lợi
không có ràng buộc về pháp lý, nhưng ngân hàng thông báo phải kiểm tra tính
xác thực của thư tín dụng và được hưởng phí dịch vụ từ người hưởng lợi.
- Ngân hàng xác nhận và người được hưởng lợi: Với việc xác nhận
thư TDCT ngân hàng xác nhận đã cùng chụi trách nhiệm với ngân hàng phát
hành trong việc hoàn trả tiền cho người hưởng lợi. Ngân hàng xác nhận phải
thanh toán hoặc chấp nhận hối phiếu do người hưởng lợi ký phát nếu chứng
từ hợp lệ được xuất trình tại ngân hàng hoặc ngân hàng chỉ định phù hợp với
điều khoản của thư tín dụng.
- Ngân hàng mở và ngân hàng xác nhận: việc một ngân hàng xác nhận
cho một ngân hàng mở thư tín dụng có nghĩa là ngân hàng xác nhận đã cấp tín
dụng cho ngân hàng mở, theo đó ngân hàng mở sẽ nhận nợ khi khoản tín
dụng đó được ngân hàng xác nhận thanh toán.
1.3.3.2. Nội dung của phương thức tín dụng chứng từ.
a/. Thư tín dụng trong phương thức TDCT
Thư tín dụng (Letter of Credit- L/C) là một văn bản do ngân hàng phát
hành theo yêu cầu của người xin mở thư tín dụng (người nhập khẩu), trong đó
ngân hàng phát hành cam kết trả tiền cho người được hưởng lợi (nhà xuất
khẩu) một số tiền nhất định trong một thời gian nhất định, với điều kiện người
này phải xuất trình một bộ chứng từ phù hợp với điều khoản qui định trong
văn bản đó.
Thư tín dụng có tính chất quan trọng, nó hình thành trên cơ sở hợp
đồng mua bán, nhưng sau khi được thiết lập, nó lại hoàn toàn độc lập với hợp
đồng mua bán.
 Chức năng của thư tín dụng:


L/C với người xuất khẩu, là ngày bắt đầu tính thời hạn hiệu lực của L/C và
cuối cùng là căn cứ để người xuất khẩu kiểm tra xem người nhập khẩu thực
hiện mở L/C có đúng hạn như đã qui định trong hợp đồng không. 16

- Loại L/C áp dụng: tuỳ theo tính chất của hợp đồng mua bán, trong
đơn đề nghị mở thư tín dụng phải nêu rõ loại thư tín dụng cần mở. Dựa trên
cơ sở này ngân hàng sẽ phát hành đúng loại thư tín dụng đó, có thể lựa chọn
L/C huỷ ngang, L/C không huỷ ngang, L/C xác nhận.
- Số tiền của thư tín dụng: số tiền của thư tín dụng phải được ghi rõ
bằng số và bằng chữ và phải thống nhất với nhau trên đơn vị tiền tệ rõ ràng.
- Tên, địa chỉ của những người và ngân hàng có liên quan như: người
yêu cầu mở thư tín dụng; người thụ hưởng; ngân hàng phát hành; ngân hàng
thông báo; ngân hàng thanh toán; ngân hàng xác nhận (nếu có).
- Ngày hết hạn hiệu lực của L/C: từ ngày mở L/C đến ngày hết hạn
L/C là thời hạn mà ngân hàng mở L/C cam kết trả tiền cho người xuất khẩu
nếu họ trình bộ chứng từ phù hợp với L/C trong thời hạn đó.
- Thời hạn trả tiền của L/C: thời hạn trả tiền liên quan đến việc trả
ngay hay trả chậm. Thời hạn trả tiền có thể nằm ngay trong thời hạn hiệu lực
của thư tín dụng (trả tiền ngay), hoặc nằm ngoài thời hạn hiệu lực của thư tín
dụng (trả tiền chậm). Trong trường hợp thanh toán chậm thì qui định bao
nhiêu ngày kể từ ngày nhận được bộ chứng từ hoàn chỉnh.
- Thời hạn giao hàng: là thời hạn người xuất khẩu phải chuyển giao
hàng cho người nhập khẩu, thời hạn giao hàng có quan hệ chặt chẽ với thời
gian hiệu lực của L/C.
- Ngân hàng mở L/C: do hai bên thoả thuận qui định trong hợp đồng
hoặc do người nhập khẩu chọn.
- Ngân hàng thông báo: thường là đại lý của ngân hàng mở L/C ở

lúc nào mà không cần báo trước cho người được hưởng lợi. Loại thư tín dụng
này ít được sử dụng vì đây chỉ là lời hứa trả tiền chứ không phải là cam kết trả
tiền cho người hưởng lợi.
- Thư tín dụng không thể huỷ ngang (irrevocable L/C): là loại thư tín
dụng sau khi đã mở ra và người xuất khẩu thừa nhận thì ngân hàng mở L/C
không được sửa đổi, bổ sung hoặc huỷ bỏ trong thời hạn hiệu lực của nó, trừ
khi có sự thoả thuận khác của các bên tham gia. Loại này thường được áp
dụng rộng rãi nhất trong TTQT vì nó đảm bảo quyền lợi của nhà xuất khẩu.
- Thư tín dụng không thể huỷ ngang có xác nhận (Confirmed
irrevocable L/C): là loại thư tín dụng không thể huỷ bỏ, được một ngân hàng 18

khác xác nhận đảm bảo việc trả tiền của thư tín dụng cùng với ngân hàng mở
L/C. Loại này được áp dụng rộng rãi trong TTQT vì nó đảm bảo quyền lợi
cho nhà xuất khẩu. Loại thư này được sử dụng khi người xuất khẩu không tin
tưởng vào ngân hàng mở L/C hoặc do tình hình kinh tế chính trị ở nước người
nhập khẩu không ổn định.
- Thư tín dụng huỷ ngang, miễn truy đòi (irrevocable Without
Recourse L/C): là loại thư tín dụng không huỷ ngang mà trong đó qui định
sau khi trả tiền cho người xuất khẩu ngân hàng mở L/C không có quyền đòi
lại tiền trong bất kỳ trường hợp nào. Khi sử dụng loại này, người xuất khẩu
phải ghi trên hối phiếu: “Miễn truy đòi người ký phát”(Without recourse to
drawers). Đồng thời trong thư tín dụng cũng phải ghi như vậy. Loại này cũng
được sử dụng rộng rãi trong TTQT .
- Thư tín dụng chuyển nhượng (Transfering L/C): là loại thư tín dụng
không thể huỷ ngang, trong đó qui định người hưởng lợi thứ nhất yêu cầu
ngân hàng chuyển nhượng một phần hay toàn bộ quyền thực hiện L/C cho
một hay nhiều người khác. L/C chuyển nhượng chỉ được phép chuyển nhượng

đầu đóng vai trò trung gian giữa người mua cuối cùng và người cung cấp
hàng thực sự. Khi áp dụng loại này cần chú ý:
+ Giá trị L/C giáp lưng phải nhỏ hơn L/C gốc, người trung gian được
hưởng phần chênh lệch.
+ Thời hạn giao hàng của L/C giáp lưng phải sớm hơn L/C gốc.
+ Thư tín dụng giáp lưng được áp dụng trong các trường hợp: L/C gốc
không được chuyển nhượng, hoặc buôn bán giữa các nước qua trung gian và
người trung gian không muốn tiết lộ người cung cấp hàng hoá cho người mua
cuối cùng.
- Thư tín dụng đối ứng (Reciprocal L/C): là loại thư tín dụng chỉ bắt
đầu có hiệu lực khi thư tín dụng đối ứng với nó được mở ra. Nghĩa là, L/C
này chỉ có giá trị khi người hưởng lợi đã mở một L/C đối ứngvới nó để cho
người mở L/C này được hưởng. Thư tín dụng đối ứng thường được sử dụng
trong phương thức mua bán hàng đổi hàng và có thể áp dụng trong phương
thức gia công. Khi đó L/C nhập thành phẩm là L/C trả ngay còn L/C nhập
nguyên liệu thành L/C trả chậm.
- Thư tín dụng dự phòng (Stand by L/C): là loại thư tín dụng không
thể huỷ ngang do ngân hàng người xuất khẩu phát hành trong đó ngân hàng sẽ 20

cam kết với người nhập khẩu thanh toán cho họ khi xuất trình giấy tờ chứng
minh người nhập khẩu hoàn thành nghĩa vụ theo L/C đề ra. Khi tiến hành giao
dịch thương mại quốc tế, người nhập khẩu có thể cấp các khoản tín dụng cho
người xuất khẩu như tiền đặt cọc, tiền ứng trước, và phải bỏ ra chi phí mở
L/C. Loại này thông thường áp dụng trong trường hợp hợp đồng thương mại
có giá trị lớn và khách hàng mới giao dịch lần đầu.
c/. Qui trình nghiệp vụ thanh toán L/C



(4
(6
(5
(2
(3(1
(8
(721

(6) : Ngân hàng mở L/C kiểm tra toàn bộ chứng từ nếu thấy phù hợp với
L/C thì sẽ trả tiền cho người xuất khẩu, nếu không thấy phù hợp sẽ từ chối
thanh toán và gửi lại chứng từ cho người nhập khẩu
(7) : Ngân hàng mở L/C đòi tiền người nhập khẩu và chuyển toàn bộ
chứng từ cho người nhập khẩu nếu người nhập khẩu trả tiền hoặc chấp nhận
trả tiền
(8) : Người nhập khẩu kiểm tra chứng từ, nếu thấy phù hợp với L/C thì
chấp nhận trả tiền hoặc từ chối không trả tiền
d/.Vai trò của phương thức tín dụng trong TTQT
TTQT ngày càng mở rộng và phát triển không ngừng trong hoạt động
thương mại quốc tế. TTQT theo phương thức TDCT đóng một vai trò quan
trọng không thể thiếu trong hoạt động TTQT. Nhận thức về vấn đề đó, trong
hoạt động TTQT, các ngân hàng không ngừng phát triển nhằm nâng cao chất
lượng phục cho khách hàng ngày một tốt hơn. Phương thức TDCT được sử
dụng phổ biến do có ưu điểm sau:

ngoại tệ khách hàng thu được trong tài khoản tại ngân hàng.
- Thực hiện TTQT đòi hỏi ngân hàng phải có cơ sở vật chất nhất định,
đội ngũ nhân viên có trình độ, mạng lưới ngân hàng rộng khắp. Qua đó nâng
cao uy tín, chất lượng ngân hàng.
Tuy nhiên phương thức tín dụng chứng từ không phải là một phương
thức hoàn hảo, có nhược điểm sau:
+ Đối với người xuất khẩu: do tính chặt chẽ của bộ chứng từ và người
nhập khẩu không có thiện chí với người xuất khẩu, họ có thể vì một lỗi nhỏ
trên chứng từ có thể bị từ chối thanh toán mặc dù hàng hoá được giao theo
đúng hợp đồng.
+ Đối với người nhập khẩu: Ngân hàng chỉ giao dịch trên cơ sở chứng
từ, khâu thanh toán tách rời hàng hoá nên người nhập khẩu vẫn có thể gặp rủi
ro do giả mạo chứng từ hoặc chứng từ không đúng với hợp đồng hàng hoá.
+ Đối với ngân hàng: gặp rủi ro về tỷ giá; rủi ro do người nhập khẩu
mất khẳ năng thanh toán; tính phức tạp và chính xác khi cung ứng dịch vụ.
Tuy nhiên phải khẳng định TTQT theo phương thức TDCT hiện nay
được sử dụng nhiều nhất chiếm 80-90% trong các phương thức TTQT, nó
thúc đẩy quá trình TTQT và hoạt động thương mại quốc tế.
1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động TTQT theo phương
thức TDCT . 23

1.4.1. Các nhân tố chủ quan
a/. Uy tín của ngân hàng thương mại trong nước và trên trường quốc tế
Hoạt động của một ngân hàng nói chung và hoạt động TTQT nói riêng
có thể được mở rộng hay không là tuỳ thuộc rất nhiều vào uy tín của ngân
hàng đó trong nước và trên thế giới. Điều này quyết định lượng khách hàng
mà ngân hàng thu hút được.

dụng (Credit line) hay các dịch vụ đầu tư…Hạn mức tín dụng giúp cho ngân
hàng không bị ứ đọng vốn ký quỹ trong trường hợp yêu cầu ngân hàng bạn
xác nhận thư tín dụng.
Với một mạng lưới ngân hàng hạn chế, các NHTM rất khó có thể thực
hiện được các nghiệp vụ TTQT của mình một cách thông suốt bởi vì các ngân
hàng nước ngoài có thể từ chối thực hiện các giao dịch đối với ngân hàng
không có quan hệ đại lý, hoặc có quan hệ đại lý không tốt. Chất lượng thực
hiện các nghiệp vụ ngân hàng nước ngoài uỷ thác cũng là một tiêu chuẩn đánh
giá xếp hạng ngân hàng đại lý. Số lượng và mức độ uỷ thác thực hiện các
nghiệp vụ của ngân hàng nước ngoài tuỳ thuộc rất lớn vào mức xếp hạng ngân
hàng đại lý.
c/. Hoạt động tài trợ ngoại thương của ngân hàng
Để tiến hành bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào điều kiện đầu
tiên bao giờ cũng là vốn. Đặc biệt hoạt động xuất nhập khẩu là hoạt động với
khối lượng lớn, các mặt hàng đa dạng, thị trường quốc tế phức tạp tiềm ẩn
nhiều rủi ro đòi hỏi phải có một quy mô vốn tương xứng. Trong khi đó thực
lực về vốn của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt nam còn thấp, bởi vậy
nhu cầu được tài trợ về vốn từ ngân hàng là lớn. Ngân hàng phải có khả năng
tư vấn, cung cấp các thông tin nhằm đưa đến việc ký kết các hợp đồng và thực
hiện tài trợ cần thiết.
 Tài trợ nhập khẩu:
Ngân hàng có thể cho người nhập khẩu vay với mục đích là thanh toán
tiền hàng cho người xuất khẩu. Khách hàng có thể lập phương án sản xuất
kinh doanh mang tính khả thi cao cho lô hàng nhập khẩu về, lên kế hoạch tài
chính xác định khả năng thanh toán, xác định khoản cần tài trợ. Trên cơ sở đó
ngân hàng sẽ ra quyết định tài trợ và xác định mức ngân hàng chấp nhận tài
trợ. Trong trường hợp người nhập khẩu không thanh toán hoặc không tập
trung đủ tiền để thanh toán bộ chứng từ giao hàng, ngân hàng sẽ cho vay trên
giá trị tiền hàng còn thiếu để thanh toán đúng hạn cho ngân hàng nước ngoài.
Ngân hàng cũng có thể cho vay kí quỹ khi khách hàng đề nghị ngân hàng phát

xuất trình. Ngân hàng có thể áp dụng hìnhd thức chiết khấu miễn truy đòi
hoặc chiết khấu có truy đòi. Việc áp dụng các hạn mức tài trợ và hình thức
chiết khấu khác nhau tạo điều kiện cho người xuất khẩu đảm bảo quyền lợi
trong hoạt động ngoại
d/. ứng dụng Marketing

Trích đoạn Các nhân tố khách quan Thanh toán L/C hàng xuất khẩu Mở rộng hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu theo phương thức Kiến nghị với ngân hàng Nhà nước
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status