Lời mở đầu
1. Tính cấp bách của đề tài:
Kể từ khi Pháp lệnh về Ngân hàng ra đời (năm 1990), hệ thống Ngân hàng
thương mại Việt nam đã đổi mới một cách căn bản về mô hình tổ chức và
hoạt động. Các nghiệp vụ và dịch vụ Ngân hàng thương mại hiện đại đã
được mở rộng và phát triển nhanh chóng, trong đó có nghiệp vụ Thanh toán
quốc tế.
Là một mắt xích không thể thiếu trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng
thương mại, hoạt động thanh toán quốc tế của các Ngân hàng ngày càng
chứng tỏ vị trí và vai trò quan trọng của mình. Hoạt động thanh toán quốc tế
không chỉ đơn giản là lựa chọn một phương thức thanh toán phù hợp hay sử
dụng một phương tiện thanh toán thông dụng nào đó. Yêu cầu đặt ra là hoạt
động thanh toán quốc tế phải được thực hiện nhanh chóng, an toàn, chính xác
và đạt hiệu quả đối với cả khách hàng và ngân hàng thương mại. Hoạt động
thanh toán quốc tế trực tiếp tác động vào việc rút ngắn thời gian chu chuyển
vốn, giảm thiểu rủi ro liên quan tới sự biến động tiền tệ, tới khả năng thanh
toán của khách hàng, tạo điều kiện cho việc mở rộng và phát triển hoạt động
ngoại thương của mỗi nước.
Phương thức tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán quốc tế phổ biến
nhất. Đó là phương thức giải quyết tốt nhất việc đảm bảo quyền lợi của cả hai
bên người mua và người bán, nhưng đồng thời cũng lại là phương thức xảy ra
nhiều sự tranh chấp nhất do mức độ phức tạp của nó. Tại Việt Nam, ngân
hàng Ngoại thương Việt Nam là ngân hàng đầu tiên thực hiện hoạt động thanh
toán quốc tế nói chung và theo phương thức tín dụng chứng từ nói riêng,
nhưng tại Sở Giao dịch Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam - một chi nhánh
1
cấp 1 hàng đầu trong hệ thống Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cũng vẫn
không tránh khỏi nhiều hạn chế về cả số lượng và chất lượng khi áp dụng
phương thức này. Một mặt do tại bản thân ngân hàng chưa đáp ứng được
những đòi hỏi ngày càng phức tạp của thực tế giao dịch xuất nhập khẩu và sự
phát triển của nghiệp vụ, mặt khác cũng do những nguyên nhân từ phía khách
Chương 2: Thực trạng áp dụng phương thức tín dụng chứng từ trong
thanh toán quốc tế tại Sở giao dịch Ngân hàng Ngoại thương.
Chương 3: Hoàn thiện hoạt động thanh toán quốc tế theo phương
thức tín dụng chứng từ tại Sở giao dịch Ngân hàng Ngoại thương.
CHƯƠNG 1: PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TRONG
THANH TOÁN QUỐC TẾ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1. TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ CỦA
CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Khái quát về ngân hàng thương mại
a. Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp được tổ chức, thành lập và hoạt
động dưới sự kiểm soát, quản lý, điều chỉnh của Ngân hàng Nhà nước, thực
hiện kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, với hoạt động chủ yếu và thường xuyên
là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả, sử dụng tiền gửi đó
để cho vay đầu tư và cung ứng các dịch vụ thanh toán khác nhằm thu lợi
nhuận trên cơ sở đảm bảo khả năng thanh khoản.
3
Ngân hàng thương mại là một tổ chức tài chính trung gian có vị trí quan trọng
nhất trong nền kinh tế, nó không trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất và
lưu thông hàng hóa như các doanh nghiệp thông thường khác, nhưng nó lại
tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình này được diễn ra một cách trôi chảy, liên
tục, góp phần phát triển kinh tế xã hội.
Hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thưong mại gắn với hoạt động kinh
doanh của các doanh nghiệp và tổ chức kinh tế. Thông qua các hoạt động của
mình, Ngân hàng thương mại thực hiện điều tiết vi mô đối với nền kinh tế
bằng cách tiếp nhận hoặc cung ứng tiền mặt cho nền kinh tế khi có nhu cầu,
đảm bảo cho nền kinh tế thường xuyên có một lượng tiền cung ứng hợp lý
đồng thời làm tăng khả năng thanh toán không dùng tiền mặt, giảm chi phí
lưu thông.
Ngày nay, hoạt động của Ngân hàng thương mại rất phong phú và đa dạng,
Cũng giống như trường hợp đi vay các tổ chức tín dụng khác, Ngân hàng
thương mại cũng chỉ vay Ngân hàng Nhà nước để đáp ứng nhu cầu thanh
khoản, để giải quyết những vấn đề cấp bách nảy sinh trong hoạt động ngân
hàng chứ không phải đi vay để cho vay. Vì vậy có thể nói “Ngân hàng Nhà
nước là cứu cánh của Ngân hàng thương mại”. Ngân hàng thương mại vay
Ngân hàng Nhà nước bằng cách chiết khấu hay tái chiết khấu thương phiếu,
quy mô vay bị tác động bởi lãi suất chiết khấu và lãi suất chiết khấu cao hay
thấp lại phụ thuộc vào chính sách tiền tệ mà Ngân hàng Nhà nước đang áp
dụng là thắt chặt hay nới lỏng.
Trên đây là các hình thức huy động vốn của Ngân hàng thương mại. Nếu như
các hoạt động huy động vốn làm ngân hàng phải mất chi phí thì các hoạt động
sử dụng vốn sau đây sẽ đem lại doanh thu cho Ngân hàng.
11 LuËt c¸c tæ chøc tÝn dông sè 07/1997/QHX
5
+ Các hoạt động sử dụng vốn.
Ngân hàng có các hình thức sử dụng vốn sau:
Một là: hoạt động ngân quỹ.
Hoạt động ngân quỹ là hoạt động liên quan đến chi trả hàng ngày cho khách
hàng. Ngân hàng luôn phải giữ lại một khoản tiền nhất định (gọi là tiền tại
quỹ) để chi trả, và ngân hàng cũng có thể thanh toán với khách hàng bằng tiền
gửi ở Ngân hàng Nhà nước là tiền dự trữ bắt buộc hay tiền gửi thanh toán.
Các khoản này kém sinh lời nhất, thậm chí không sinh lời, chỉ nhằm đáp ứng
tính thanh khoản mà thôi.
Hai là: hoạt động tín dụng.
Đây là một nghiệp vụ quan trọng của Ngân hàng thương mại. Hầu hết vốn của
ngân hàng đều được sử dụng vào hoạt động tín dụng. Hoạt động tín dụng
ngoài hình thức cho vay còn có các hình thức khác như bảo lãnh hay chiết
khấu.
Ba là: hoạt động đầu tư.
Trong trường hợp cho vay không hết, ngân hàng có thể chủ động tìm nơi đầu
các đối tác ở các nước khác nhau ngày càng nhiều. Trong hoạt động xuất nhập
khẩu, ngoài việc hỗ trợ cấp tín dụng cho các doanh nghiệp, ngân hàng còn
đứng ra làm trung gian thanh toán cho các doanh nghiệp. Việc thanh toán giữa
hai bên được thực hiện qua hệ thống ngân hàng bằng các phương thức được
thỏa thuận thuận tiện nhất cho khách hàng, đảm bảo quyền lợi của cả hai bên
xuất nhập khẩu, góp phần mở rộng quan hệ ngoại thương giữa các nước.
22 LuËt c¸c tæ chøc tÝn dông sè 07/1997/QHX
7
Trên đây là ba hoạt động không thể thiếu của bất cứ một Ngân hàng thương
mại nào. Ngoài ra, để tăng tính cạnh tranh, Ngân hàng thương mại còn có một
số hoạt động khác.
+ Các hoạt động khác.
Hầu hết các Ngân hàng thương mại hiện nay đều thực hiện nghiệp vụ liên
quan tới chứng khoán như môi giới, tư vấn đầu tư, tự doanh, bảo lãnh cam kết
phát hành chứng khoán, lưu trữ, thanh toán chứng khoán… Ngoài ra, theo
Luật các tổ chức tín dụng, Ngân hàng thương mại còn được thực hiện một số
hoạt động như góp vốn mua cổ phần, cho thuê tài chính, kinh doanh ngoại
hối, vàng và các giấy tờ có giá, nhận ủy thác, làm đại lý trong các lĩnh vực
liên quan đến hoạt động ngân hàng, cung cấp các dịch vụ bảo hiểm, tư vấn,
bảo quản…
Các hoạt động của Ngân hàng thương mại có quan hệ bổ sung hỗ trợ lẫn
nhau, trong đó hoạt động huy động vốn là cơ sở để thực hiện hoạt động sử
dụng vốn. Hoạt động sử dụng vốn làm tăng khả năng sinh lời của Ngân hàng
thương mại. Trên cơ sở những hoạt động sử dụng vốn (như hoạt động tín
dụng), Ngân hàng thương mại có thể thực hiện được các hoạt động trung gian
thanh toán và tới lượt nó, hoạt động trung gian thanh toán sẽ làm tăng nguồn
vốn và mở rộng việc sử dụng vốn vì hoạt động trung gian thanh toán có thể
coi vừa là hoạt động huy động vốn vừa là hoạt động sử dụng vốn.
Trên đây là khái quát toàn bộ các hoạt động của một Ngân hàng thương mại.
Theo đối tượng và giới hạn được nghiên cứu trong luận văn này, hoạt động
triển, ngược lại sẽ kìm hãm sự phát triển của hoạt động ngoại thương.
Hiện nay phần lớn việc chi trả trong thanh toán quốc tế được thực hiện thông
qua hệ thống SWIFT (Hiệp hội viễn thông tài chính liên ngân hàng toàn cầu).
9
Theo thống kê của tổ chức này thì có tới 72% các giao dịch tài chính tiền tệ
quốc tế hàng ngày được thực hiện qua SWIFT. Phần còn lại được thực hiện
thông qua con đường điện tín, bưu điện dưới hình thức uỷ nhiệm thu, chi hộ
lẫn nhau giữa các ngân hàng. Tỉ lệ trả bằng tiền mặt trong thanh toán quốc tế
chiếm một phần không đáng kể.
Xuất phát từ nhu cầu tất yếu của quá trình phát triển kinh tế, các doanh nghiệp
luôn luôn có xu hướng mở rộng thị trường của mình ra bên ngoài, từ đó hình
thành các quan hệ kinh tế đối ngoại giữa các nước khác nhau. Mỗi nước có sự
khác nhau về chế độ chính trị, môi trường pháp luật, phong tục tập quán cũng
như khoảng cách địa lý, bên cạnh đó còn có những bất đồng về ngôn ngữ,
tiềm lực tài chính của các đối tác và hệ thống tiền tệ khác nhau khiến cho
quan hệ mua bán thanh toán giữa các nước rất phức tạp và thường xuyên xảy
ra rủi ro bất trắc. Để giải quyết những vướng mắc này cần có một trung gian
tài chính đứng ra đảm bảo quyền lợi cho cả hai bên và Ngân hàng thương mại
với hoạt động thanh toán quốc tế của mình đã đáp ứng được đòi hỏi đó. Hoạt
động thanh toán quốc tế của Ngân hàng thương mại là một mắt xích không
thể thiếu được trong toàn bộ dây chuyền thực hiện một hợp đồng ngoại
thương. Thực hiện tốt vai trò trung gian thanh toán của mình trong hoạt động
thanh toán quốc tế, Ngân hàng thương mại đã đóng góp rất nhiều cho khách
hàng, cho nền kinh tế cũng như cho chính bản thân Ngân hàng thương mại.
+ Đối với khách hàng:
Vai trò trung gian thanh toán trong hoạt động thanh toán quốc tế của Ngân
hàng thương mại giúp cho quá trình thanh toán theo yêu cầu của khách hàng
được tiến hành nhanh chóng, chính xác, an toàn, tiện lợi và tiết kiệm tối đa
chi phí.
Tham gia hoạt động thanh toán quốc tế, quyền lợi của khách hàng được đảm
thực hiện các giao dịch thanh toán quốc tế cho khách hàng, ngân hàng thương
mại luôn có một nguồn tiền tập trung chờ thanh toán. Nguồn tiền này tương
đối ổn định và phát sinh thường xuyên, là một nguồn nâng cao khả năng
thanh khoản cho ngân hàng.
Thực hiện thanh toán quốc tế, ngân hàng thương mại có thể tạo ra được vòng
tròn dịch vụ khép kín, từ đó đảm bảo các nghiệp vụ ngân hàng có liên quan
đến nhau như tài trợ xuất nhập khẩu, thanh toán quốc tế, mua bán ngoại tệ
được giám sát, theo dõi kỹ lưỡng bởi nhiều phòng ban khác nhau, hạn chế rủi
ro. Bên cạnh đó, Ngân hàng còn nắm được tình hình kinh doanh của các
doanh nghiệp xuất nhập khẩu, tạo điều kiện thực hiện quản lý có hiệu quả
hoạt động xuất nhập khẩu trong nước theo đúng chính sách kinh tế đối ngoại
mà Nhà nước đề ra.
Thanh toán quốc tế làm tăng cường quan hệ đối ngoại: thông qua việc bảo
lãnh cho khách hàng trong nước, thanh toán cho ngân hàng nước ngoài, ngân
hàng thương mại sẽ có quan hệ đại lý với ngân hàng và đối tác nước ngoài.
Mối quan hệ này dựa trên cơ sở hợp tác và tương trợ. Với thời gian hoạt động
nghiệp vụ càng lâu, mối quan hệ ngày càng rộng mở.
Tóm lại, có thể khẳng định, hoạt động thanh toán quốc tế là một hoạt động
trung gian của Ngân hàng thương mại, có tác dụng mang lại thu nhập, hỗ trợ
các hoạt động khác của Ngân hàng thương mại, giúp cho quá trình thanh toán
của khách hàng được nhanh chóng, đảm bảo. Điều này được thể hiện rõ hơn
khi nghiên cứu đến các phương thức thanh toán quốc tế.
1.2. Các phương thức thanh toán quốc tế của Ngân hàng thương mại
a. Phương thức chuyển tiền
Phương thức chuyển tiền là một phương thức thanh toán trong đó khách
hàng (người trả tiền, người mua, người nhập khẩu...) yêu cầu ngân hàng
của mình chuyển một số tiền nhất định cho người hưởng lợi (người bán,
12
người xuất khẩu, người cung ứng dịch vụ...) ở một địa điểm nhất định bằng
phương tiện chuyển tiền do khách hàng yêu cầu.
13
thanh toán xuất nhập khẩu thì chủ yếu đối với khách hàng quen biết, có
tín nhiệm cao.
b. Phương thức nhờ thu
Phương thức nhờ thu là một phương thức thanh toán trong đó người bán
sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng hay cung ứng dịch vụ cho khách
hàng sẽ ủy thác cho ngân hàng của mình thu hộ số tiền ở người mua trên cơ
sở hối phiếu của người bán lập ra.
Các bên tham gia phương thức nhờ thu gồm có:
- Người bán tức là người hưởng lợi (Principal)
- Ngân hàng bên bán là ngân hàng nhận sự uỷ thác của người bán
(Remitting Bank)
- Ngân hàng đại lý của ngân hàng bên bán là ngân hàng ở nước người
mua. (Collecting Bank and/or Presenting Bank).
- Người mua tức là người trả tiền (Drawee)
Có hai loại nhờ thu là nhờ thu phiếu trơn và nhờ thu kèm chứng từ.
Một là: Nhờ thu phiếu trơn (Clean Collection).
Nhờ thu phiếu trơn là phương thức trong đó người bán ủy thác cho ngân
hàng thu hộ tiền ở người mua căn cứ vào hối phiếu do mình lập ra còn
chứng từ gửi hàng sẽ đưọc gửi thẳng cho người mua không qua ngân hàng.
Trong phương thức này, ngân hàng chỉ đóng vai trò trung gian làm dịch vụ
thu hộ tiền người mua, còn trách nhiệm trả tiền hay không là do người mua
quyết định.
• Các bên tham gia:
+ Người bán, người hưởng lợi: Là người ủy nhiệm cho ngân hàng thu
tiền người mua.
+ Người mua, người trả tiền: Là người có trách nhiệm thanh toán tiền
hàng mua của người bán khi ngân hàng đến yêu cầu đòi thanh toán.
+ Ngân hàng nhờ thu: Là ngân hàng thu tiền từ người mua, thường là
ngân hàng phục vụ bên mua đồng thời là ngân hàng đại lý của ngân hàng
Nhờ thu kèm chứng từ là phương thức trong đó người bán ủy thác cho ngân
hàng thu hộ tiền ở người mua không những căn cứ vào hối phiếu mà còn căn
cứ vào bộ chứng từ gửi hàng gửi kèm theo với điều kiện là nếu người mua trả
tiền hối phiếu thì ngân hàng mới trao bộ chứng từ gửi hàng cho người mua để
nhận hàng
Trong phương thức này, điểm khác biệt cơ bản với nhờ thu phiếu trơn là
người xuất khẩu uỷ thác cho ngân hàng ngoài việc thu hộ tiền còn khống chế
bộ chứng từ hàng hoá đối với người nhập khẩu. Với cách khống chế chứng từ
này, quyền lợi của người bán sẽ được đảm bảo hơn.
• Trình tự tiến hành:
15
Trình tự tiến hành nghiệp vụ nhờ thu kèm chứng từ cũng giống như nhờ thu
phiếu trơn, chỉ khác ở khâu (1) là lập một bộ chứng từ nhờ ngân hàng thu hộ
tiền. Bộ chứng từ gồm có hối phiếu và các chứng từ gửi hàng kèm theo, ở
khâu (3) là ngân hàng đại lý chỉ trao chứng từ gửi hàng cho người mua nếu
như người mua trả tiền hay chấp nhận trả tiền hối phiếu.
Tuỳ theo thời hạn trả tiền, ta chia phương thức này thành hai loại:
• Nhờ thu trả tiền đổi chứng từ ( Documents Against Payment - D/P):
Được sử dụng trong trường hợp mua bán trả tiền ngay.
• Nhờ thu chấp nhận đổi chứng từ (Documents Against Acceptance -
D/A): Áp dụng trong trường hợp nhờ thu trả sau.
So với hình thức nhờ thu phiếu trơn, phương thức D/A và D/P đảm bảo hơn vì
ngân hàng thay mặt người bán khống chế chứng từ. Tuy nhiên, hai phương
thức này còn có những hạn chế như:
Đối với D/P thì người nhập khẩu phải trả tiền khi nhận được bộ chứng từ
hàng hoá mà không được kiểm tra hàng hoá trước. Vì vậy, người mua gặp rủi
ro trong trường hợp hàng hoá không giao đúng như mô tả chứng từ hoặc
không đúng trong hợp đồng. Còn về phía nhà xuất khẩu thì phải rất tin tưởng
vào khả năng và thiện chí thanh toán của bạn hàng nước ngoài vì các ngân
hàng tham gia hoàn toàn không chịu trách nhiệm thanh toán. Nếu người mua
xuất khẩu), cam kết sẽ thanh toán một số tiền nhất định trong phạm vi thời
hạn quy định, với điều kiện người hưởng phải xuất trình đầy đủ các chứng từ
phù hợp với những nội dung, điều kiện quy định như trong Thư tín dụng.
Trên đây là những nội dung cơ bản về các phương thức thanh toán quốc tế
hiện nay. Việc lựa chọn phương thức thanh toán nào là do hai bên xuất nhập
khẩu quyết định dựa trên các điều kiện cụ thể nhằm thoả mãn quyền lợi của
cả hai phía. Tuy nhiên, phương thức tín dụng chứng từ vẫn chiếm ưu thế, là
một phương thức thanh toán chủ yếu. Điều này sẽ được khẳng định khi đi sâu
nghiên cứu về phương thức này ở phần tiếp theo.
2. TÍN DỤNG CHỨNG TỪ - PHƯƠNG THỨC CHỦ YẾU TRONG
THANH TOÁN QUỐC TẾ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
2.1. Cơ sở hình thành thư tín dụng
Ngày nay, việc mở rộng nền kinh tế và đa dạng hóa các mối quan hệ kinh tế
quốc tế đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động ngoại thương phát triển tại
các quốc gia. Hoạt động ngoại thương ngày càng phát triển xóa bỏ dần hàng
rào buôn bán giữa các quốc gia. Các giao dịch thương mại không chỉ diễn ra
17
giữa những khách hàng quen biết, có tín nhiệm cao. Trong khi người bán luôn
ngần ngại khi chuyển giao hàng hóa của họ trước khi nhận được tiền, còn
người mua lại muốn nắm được hàng hóa trước khi trả tiền thì phương thức
nhờ thu và chuyển tiền rõ ràng đã bộc lộ những hạn chế của nó. Vì rất khó có
thể làm cho việc trao đổi tiền và hàng được tiến hành đồng thời nên trên thực
tế các bên thường thỏa thuận với nhau một biện pháp thỏa hiệp: trả tiền khi
giao hàng tượng trưng, tức là giao chứng từ chuyển quyền sở hữu hay quyền
kiểm soát hàng hóa. Trên cơ sở đó phương thức tín dụng chứng từ ra đời và
nhanh chóng trở thành phương thức được sử dụng rộng rãi và phổ biến nhất
trong thanh toán xuất nhập khẩu. Trong phương thức này, các ngân hàng
không chỉ đóng vai trò là trung gian thu hộ mà được yêu cầu tham gia bằng
cách cam kết chắc chắn sẽ trả tiền cho người bán khi họ xuất trình đầy đủ bộ
chứng từ phù hợp với nội dung của thư tín dụng.
là loại Thư tín dụng không thể huỷ ngang được một ngân hàng thứ ba đứng ra
đảm bảo thanh toán bên cạnh ngân hàng phát hành Thư tín dụng. Loại Thư tín
dụng này thường được dùng khi hai bên mua-bán chưa có quan hệ tín nhiệm
nhau, người bán chưa tin tưởng vào uy tín của người mua cũng như chưa tin
tưởng vào uy tín của ngân hàng phát hanh.
- Thư tín dụng không thể huỷ ngang có thể chuyển nhượng (irrevocable
transferable L/C): là loại Thư tín dụng không huỷ ngang trong đó quy định
quyền của người hưởng lợi thứ nhất có thể yêu cầu ngân hàng mở Thư tín
dụng hay ngân hàng chuyển nhượng Thư tín dụng do ngân hàng mở Thư tín
dụng uỷ quyền chuyển nhượng toàn bộ hay một phần quyền thực hiện Thư tín
dụng cho một hay nhiều người khác. Thư tín dụng chỉ được phép chuyển
19
nhượng một lần. Thư tín dụng chuyển nhượng thường được sử dụng trong
mua bán hàng hoá tay ba, khi người hưởng lợi thứ nhất là đại lý của người
bán cuối cùng. Tuy nhiên loại Thư tín dụng này cũng ít được sử dụng vì chứa
đựng nhiều rủi ro cho người mở Thư tín dụng cũng như người được chuyển
nhượng do không có sự hiểu biết lẫn nhau.
Căn cứ vào thời hạn thanh toán:
- Thư tín dụng trả ngay (L/C at sight): là loại Thư tín dụng trong đó người
xuất khẩu sẽ được thanh toán ngay khi xuất trình các chứng từ phù hợp với
điều khoản quy định trong Thư tín dụng tại ngân hàng chỉ thị thanh toán.
Trong trường hợp này người xuất khẩu sẽ ký phát hối phiếu trả ngay để yêu
cầu thanh toán.
- Thư tín dụng trả chậm (Deferred payment L/C): loại Thư tín dụng này quy
định việc thanh toán sẽ được tiến hành vào một thời điểm xác định trong
tương lai. Khi chỉ định một ngân hàng thanh toán trả chậm, ngân hàng phát
hành cho phép ngân hàng đó thực hiện thanh toán bộ chứng từ được xuất trình
phù hợp với quy định trong Thư tín dụng vào một thời điểm xác định trong
tương lai đã nêu trong Thư tín dụng. Đồng thời, ngân hàng phát hành cũng
cam kết bồi hoàn cho ngân hàng thanh toán đúng thời hạn.
2.3. Quy trình thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ
21
(1) Người nhập khẩu làm đơn xin mở thư tín dụng gửi đến ngân hàng của
mình yêu cầu mở một thư tín dụng cho người xuất khẩu hưởng.
(2) Căn cứ vào đơn xin mở thư tín dụng, ngân hàng mở thư tín dụng sẽ lập
một thư tín dụng và thông qua ngân hàng phục vụ người xuất khẩu
thông báo việc mở thư tín dụng và chuyển thư tín dụng đến người xuất
khẩu .
(3) Khi nhận được thông báo này, ngân hàng phục vụ người xuất khẩu
đóng vai trò là ngân hàng thông báo sẽ thông báo cho người xuất khẩu
toàn bộ nội dung thông báo về việc mở thư tín dụng đó và khi nhận
được bản gốc của thư tín dụng thì chuyển ngay cho người xuất khẩu.
(4) Người xuất khẩu nếu chấp nhận thư tín dụng thì tiến hành giao hàng,
nếu không thì tiến hành đề nghị ngân hàng mở L/C sửa đổi, bổ sung thư
tín dụng cho phù hợp với hợp đồng.
(5) Sau khi giao hàng, người xuất khẩu lập bộ chứng từ theo yêu cầu của
thư tín dụng xuất trình thông qua ngân hàng phục vụ mình (có thể là
ngân hàng thông báo hoặc ngân hàng khác) cho ngân hàng mở thư tín
dụng xin thanh toán
(6) Ngân hàng mở thư tín dụng kiểm tra bộ chứng từ nếu thấy phù hợp với
thư tín dụng thì tiến hành trả tiền cho người xuất khẩu. Nếu thấy không
phù hợp, ngân hàng từ chối thanh toán và gửi trả lại toàn bộ chứng từ
cho người xuất khẩu (nếu người nhập khẩu chấp nhận thanh toán thì
22
ngân hàng mở thư tín dụng vẫn thanh toán và trừ phí sai sót của bộ
chứng từ)
(7) Ngân hàng mở thư tín dụng đòi tiền người nhập khẩu và chuyển bộ
chứng từ cho người nhập khẩu sau khi người nhập khẩu trả tiền hoặc
chấp nhận thanh toán
(8) Người nhập khẩu kiểm tra chứng từ, nếu thấy phù hợp với thư tín dụng
(6) Phiếu đóng gói (Packing list): nội dung của chứng từ này thường mô tả chi
tiết về chuyến hàng đã giao như số Container, trọng lượng tịnh, trọng lượng
cả bì, ...
(7) Các chứng từ khác: như phiếu khử trùng, kiểm định thực vật, giấy chứng
nhận chất lượng, số lượng...
Việc lập được một bộ chứng từ hoàn hảo (sạch) theo thư tín dụng phải theo
một chuẩn mực quốc tế và thực tiễn thực hành được các nước tham gia công
nhận. Phòng Thương mại quốc tế (International Charmber of Commerce –
ICC) đã xuất bản cuốn: “Quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng
từ” (Uniform Customs and Practice for Documentary Credits - UCP), ấn bản
đầu tiên năm 1933. Văn bản này mang tính chất pháp lý tuỳ ý, nghĩa là khi áp
dụng nó các bên đương sự phải thoả thuận ghi vào trong thư tín dụng, đồng
thời có thể thoả thuận khác miễn là có dẫn chiếu. Đến nay, trải qua quãng thời
gian dài áp dụng, những điều lệ trên đã nhiều lần được chỉnh sửa, bổ sung để
đáp ứng những đòi hỏi của thực tiễn và phù hợp với tiến bộ của khoa học kỹ
thuật và ấn phẩm hiện đang được sử dụng rộng rãi là UCP số xuất bản 500
bản sửa đổi năm 1993, và thường được viết tắt là UCP 500. Hiện nay ấn bản
này cũng lại đang được nghiên cứu sửa đổi và bản UCP600 sẽ được xuất bản
trong tương lai gần.
24
2.4. Đặc điểm của thư tín dụng và vai trò của Ngân hàng thương
mại trong quá trình thực hiện thanh toán theo thư tín dụng
a) Thư tín dụng có những đặc điểm sau:
Một là: thư tín dụng hình thành trên cơ sở hợp đồng mua bán, nhưng
sau khi ra đời lại hoàn toàn độc lập với hợp đồng mua bán. Người mua căn cứ
vào hợp đồng để làm đơn yêu cầu mở Thư tín dụng. Người bán căn cứ vào
các điều kiện của Thư tín dụng tiến hành giao hàng và nếu xuất trình được các
chứng từ có phù hợp với hợp đồng hay không không phải là trách nhiệm của
ngân hàng và không ảnh hưởng đến trách nhiệm thanh toán của ngân hàng.
Tính độc lập của Thư tín dụng không huỷ bỏ trách nhiệm của ngân hàng phát