TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010
94
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NGƯỜI THẦY GIÁO
HO CHI MINH’S IDEOLOGY ON THE TEACHER
Ngô Văn Hà, Đỗ Thị Hằng Nga
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng
TÓM TẮT
Bài viết làm rõ quan điểm Hồ Chí Minh về vai trò, đạo đức, chuyên môn và phương
pháp giảng dạy của người thầy giáo. Theo Hồ Chí Minh, người thầy giáo có vai trò quyết định
đến sự vận hành của hệ thống giáo dục và chất lượng giáo dục. Xuất phát từ vai trò to lớn đó,
người thầy giáo phải có phẩm chất đạo đức phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, đoàn kết,
th
ương yêu học trò, yêu nghề, gắn bó với nghề nghiệp trong bất cứ hoàn cảnh nào. Phẩm chất
đạo đức đó của người thầy giáo luôn gắn với hành động cụ thể, thiết thực. Gắn liền với phẩm
chất đạo đức, người thầy giáo trong tư tưởng Hồ Chí Minh phải có kiến thức chuyên môn sâu
và rộng, nhuần nhuyễn, thuần thục về phương pháp giảng dạy.
ABSTRACT
This article clarifies President Ho Chi Minh’s views on the role of the teacher’s ethical
and professional qualities and teaching methods. According to Ho Chi Minh, the teacher plays a
decisive role in the operation of an educational system and teaching quality. With this great role,
the teacher must have such moral qualities as good virtues to serve people and the Homeland,
solidarity with colleagues, love for students and profession and career attachment under any
circumstances. The moral qualities of teachers are always manifested by specific and practical
actions. Together with such moral qualities, the teacher in Ho Chi Minh’s ideology should have
a profound knowledge as well as expertise and proficiency in methods of teaching.
1. Đặt vấn đề
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến sự nghiệp giáo dục nói chung
phải đem sự hiểu biết, năng lực và phẩm chất của mình truyền đạt cho người học, làm
cho người học phát huy được “năng lực vốn có”, phát triển các mặt đức dục, trí dục, thể
dục, mỹ dục để trở thành người lao động chân chính, có ích cho xã hội. Đây là nhiệm
vụ nặng nề nhưng rất vẻ vang gắn liền với sự nghiệp của những người làm thầy. Nhưng
tuỳ theo hoàn cảnh khác nhau, nhiệm vụ của người thầy giáo được cụ thể hoá.
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, người thầy giáo được coi là chiến sĩ tiên
phong trong phong trào diệt giặc dốt, có nhiệm vụ chống nạn mù chữ, “phấn đấu mở
mang tri thức phổ thông cho đồng bào, để xây đắp nền văn hoá sơ bộ cho dân tộc”(5).
Việc nâng cao dân trí là cơ sở để khẳng định vị thế của dân tộc ta trên trường quốc tế.
“Đồng bào bây giờ phải biết chữ hết để trả lời cho thế giới biết nước ta là một nước văn
minh, ai cũng biết chữ”(6).
Theo Hồ Chí Minh, người thầy làm nhiệm vụ diệt giặc dốt, xoá nạn mù chữ là
gián tiếp chống giặc ngoại xâm, bảo vệ chính quyền cách mạng, góp phần đưa công
cuộc kháng chiến nhanh chóng đi đến thắng lợi. Người giải thích: Dốt nát cũng là kẻ
địch. Địch dốt nát giúp cho địch ngoại xâm. Địch dốt nát tấn công ta về tinh thần, cũng
như địch thực dân tấn công ta bằng vũ lực. Địch thực dân dựa vào địch dốt nát để thi
hành chi
ến lược ngu dân. Địch dốt nát dựa vào địch thực dân để đưa dân ta vào nơi mù
quáng, do đó “ tiêu diệt được giặc dốt, tức là tiêu diệt được một lực lượng hậu thuẫn của
thực dân”(7).
Có thể nói, ngay từ những ngày đầu của Cách mạng Tháng Tám năm 1945,
người thầy giáo đã đóng góp quan trọng trên nhiều phương diện của đời sống xã hội. Đó
là tham gia vào sự nghiệp giải phóng con ng
ười, xây dựng nền văn hóa mới, phục vụ
công cuộc kháng chiến, kiến quốc. Đánh giá về việc làm và công lao của người thầy
trong thời kỳ này, Hồ Chí Minh khẳng định: “Một phần tương lai của dân tộc nước nhà
nằm trong sự cố gắng của anh chị em… Đồng bào ta ai cũng biết đọc, biết viết. Cái vinh
dự đó thì tượng đồng bia đá nào cũng không bằng
”
(8), và “công tác bình dân học vụ là
nghị giáo dục căn dặn đội ngũ thầy cô giáo "Phải sửa đổi triệt để chương trình giáo dục
cho phù hợp với sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc"(13). Sau hòa bình lập lại, nhân
dân miền Bắc bước vào thời kỳ hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế, đấu
tranh thống nhất Tổ quốc, Người nói, giáo dục cần phải chuyển hướng, "nội dung dạy
và học cần liên hệ thiết thực với công tác chung: củng cố miền Bắc, chiếu cố miền Nam,
thi đua yêu nước, khôi phục kinh tế, củng cố quốc phòng ”(14). Như vậy người thầy
giáo phải căn cứ vào điều kiện thực tiễn, nhiệm vụ chính trị, đường lối phát triển kinh
tế - xã hội, mục tiêu giáo dục để biên soạn giáo trình cho phù hợp.
Ba là, Xây dựng nội dung chương trình phải thiết thực, tiếp cận trình độ khoa
học kỹ thuật tiên tiến của thế giới gắn với thực tiễn Việt Nam. Cuộc kháng chiến chống
Mỹ, cứu nước đang trong giai đoạn cam go, khốc liệt, Người viết thư động viên các
thầy cô giáo "phấn đấu nâng cao chất lượng văn hóa và chuyên môn nhằm thiết thực
giải quyết các vấn đề do cách mạng nước ta đề ra và trong một thời gian không xa, đạt
trình độ cao khoa học và kỹ thuật của thế giới"(15).
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010
97
Bốn là, xây dựng nội dung chương trình phải phù hợp với từng cấp học. Người
nêu rõ nội dung đào tạo của từng cấp học:
“ Đại học thì cần kết hợp lý luận khoa học với thực hành, ra sức học tập lý luận
và khoa học tiên tiến của các nước bạn, kết hợp với thực tiễn của nước ta, để thiết thực
giúp ích cho công cuộc xây dựng nước nhà. Trung học thì cần đảm bảo cho học trò
những tri thức phổ thông chắc chắn, thiết thực, thích hợp với nhu cầu và tiền đồ xây
dựng nước nhà, bỏ những phần nào không cần thiết với đời sống thực tế. Tiểu học thì
cần giáo dục cho các cháu thiếu nhi: yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa
học, coi trọng của công”(16).
Hồ Chủ tịch coi nghề giáo là nghề cao quí nhất, được cả xã hội tôn vinh. Người
nói: “người thầy giáo tốt - thầy giáo xứng đáng là thầy giáo – là người vẻ vang nhất. Dù
là tên tuổi không đăng trên báo, không được thưởng huân chương, song những người
thầy giáo tốt là những anh hùng vô danh. Đây là một điều vẻ vang”(17). Dù công việc
giáo dục của Đảng và Nhà nước, phải kính trọng nhân dân, tin vào sức mạnh của nhân
dân. Người giải thích “Nhân nghĩa là nhân dân. Trong bầu trời không có gì quí bằng
nhân dân. Trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”(22).
Như vậy, quan niệm đạo đức cũ coi người dân phụ thuộc vào giai cấp cầm quyền, thì
người dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh được đặt ở vị trí trân trọng nhất, quí nhất. Từ sự
tin tưởng vào sức mạnh của nhân dân, Hồ Chí Minh cho rằng sự nghiệp giáo dục đào
tạo nói chung và người thầy giáo nói riêng phải dựa vào dân, gắn bó với quần chúng
nhân dân để được quần chúng nhân dân tin yêu và giúp đỡ.
Theo Hồ Chí Minh, người thầy giáo phải có phẩm chất đạo đức thương yêu học
trò, phải quan tâm săn sóc học trò với một tình cảm sâu nặng như ruột thịt, song cách
thể hiện phải phù hợp với từng lứa tuổi và cấp học. Ở tiểu học, mẫu giáo người thầy
phải dành cho học trò một tình thương đặc biệt như tình cảm của cha mẹ đối với người
con. Người căn dặn: làm mẫu giáo tức là thay mẹ dạy trẻ. Muốn làm được thì trước hết
phải yêu trẻ, hay “phải thương yêu các cháu như con em ruột thịt của mình”(23). Ở cấp
đại học và trung học chuyên nghiệp thì tình thương của người thầy đối với học trò, được
xây dựng trên cơ sở dân chủ, kỷ cương và trách nhiệm. Người nói “Dân chủ nhưng trò
phải kính thầy, thầy phải quí trò chứ không phải là cá đối bằng đầu”(24). Đây là mối
quan hệ tốt đẹp của thầy và trò trong xã hội dân chủ, có sự kế thừa những giá trị đạo lý
tôn sư trọng đạo của dân tộc.
Gắn liền với phẩm chất đạo đức thương yêu học trò là phẩm chất đạo đức “thật
thà yêu nghề” của người thầy. Phẩm chất yêu nghề của người thầy được biểu hiện trước
hết là sự gắn bó thiết tha với nghề nghiệp trong bất cứ hoàn cảnh nào. Nghề giáo là một
nghề lao động khó nhọc, đòi hỏi phải đầu tư nhiều thời gian, công sức, nhưng không
phải là nghề có thu nhập cao. Nếu không thiết tha với nghề nghiệp sẽ bị dao động trước
hoàn cảnh khó khăn. Vì vậy, Hồ Chí Minh thường căn dặn những người làm thầy “nên
yên tâm công tác” không nên “đứng núi này trông núi nọ, muốn thay đổi công tác, kèn
cựa vì địa vị”
Trong môi trường sư phạm, Người hiểu rất rõ giá trị của sự đoàn kết. Đoàn kết
sẽ tạo ra bầu không khí vui vẻ, thoải mái kích thích sự khám phá sáng tạo trong giảng
dạy và nghiên cứu; đồng thời sẽ tạo ra môi trường thi đua lành mạnh, phát huy được khả
đúng"(27).
- Phải nắm chắc quan điểm, đường lối giáo dục của Đảng.
- Ngoài kiến thức chuyên môn, người thầy giáo phải có những kiến thức liên
ngành bổ trợ cho chuyên ngành đảm nhận. Như vậy, người thầy trong tư tưởng Hồ Chí
Minh vừa có biên độ kiến thức rộng, vừa có kiến thức chuyên sâu. Có kiến thức rộng để
chuyên sâu.
Những người làm thầy phải truyền đạt kiến thức của mình cho người khác. Nếu
có chuyên môn giỏi mà phương pháp truyền đạt không tố
t thì hiệu quả giảng dạy sẽ bị
hạn chế. Giữa chuyên môn và phương pháp giảng dạy có mối quan hệ mật thiết với
nhau, tác dụng tương hỗ với nhau, trong đó chuyên môn là nội dung. Vì vậy, Hồ Chí
Minh cho rằng, người thầy giáo ngoài kiến thức chuyên môn sâu rộng phải thuần thục
về phương pháp giảng dạy.
Mục đích của phương pháp giảng dạy trong tư tưởng Hồ Chí Minh là "cố
t làm
cho người học hiểu thấu vấn đề"(28).
Là người đã từng đứng trên bục giảng đào tạo nhiều thế hệ cán bộ lãnh đạo, Hồ
Chí Minh đã có những chỉ dẫn cụ thể về phương pháp giảng dạy.
- Giảng dạy phải phù hợp với đối tượng, theo khả năng nhận thức của người học.
Theo Hồ Chí Minh, người thầy giáo phải sâu sát, nắm rõ khả năng nhận thức và hoàn
cảnh của từng người học để tìm ra cách thức giảng dạy phù hợp. Có đối tượng phải tốn
nhiều thời giờ, dạy tỷ mỉ thì mới hiểu vấn đề. Có đối tượng “cách dạy bao quát mà vấn
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010
100
làm cho người học hiểu thấu được”(29). Như vậy Hồ Chí Minh đưa ra quan điểm dạy
theo người học, chứ không phải bắt người học phải học theo cách dạy của mình. Muốn
thực hiện được điều đó thì “Bài giảng phải chuẩn bị cho tốt”, kỹ càng, không được qua
loa đại khái.
- Phương pháp giảng dạy là phải xuất phát từ mục tiêu, nội dung đào tạo và tâm
phần quyết định trong việc đào tạo ra những trí thức trẻ, kỹ sư, bác sĩ, cán bộ khoa học
kỹ thuật, cán bộ quản lý kinh tế, những người lao động chân chính trong các lĩnh vực
khác nhau, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010
101
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] (1),(9),(10),(12),(14),(16),(21),(22),(31), Hồ Chí Minh toàn tập, T 8, Nxb CTQG,
HN, 2000, Tr 184, 207, 138, 225, 65, 81, 216, 276, 81.
[2] (2),(3),(11),(18),(19),(20), Hồ Chí Minh toàn tập, T 9, Sđd, Tr 492, 222,494, 492,
492, 492.
[3] (4),(17),(25), Hồ Chí Minh toàn tập, T 11, Sđd, Tr 331,331,331.
[4] (5),(8), Hồ Chí Minh toàn tập, T 4, Sđd, Tr 220, 220.
[5] (6),(7),(13), Hồ Chí Minh toàn tập, T 5, Sđd, Tr 60, 379, 462.
[6] (15), Hồ Chí Minh toàn tập, T 12, Sđd, Tr 403.
[7] (23),(24), Hồ Chí Minh toàn tập, T 7, Sđd, Tr 562, 456.
[8] (26),(27),(28),(29),(30), Hồ Chí Minh toàn tập, T 6, Sđd, Tr 46,47,47,47, 50.