LUẬN VĂN: Kế toán nghiệp vụ bán hàng và xác định kết quả tại Công ty TNHH sản xuất và thương mại Rạng Đôn - Pdf 15



LUẬN VĂN:
Kế toán nghiệp vụ bán hàng và xác định
kết quả tại Công ty TNHH sản xuất và
thương mại Rạng Đông
Lời nói đầu
Hiện nay nền kinh tế nước ta là nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ
chế thị trường có sự quản lý của Nhà Nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Do đó, các quan
hệ hàng hoá - tiền tệ ngày càng được mở rộng và phát triển. Trong điều kiện đó, để phục vụ
nhu cầu của người tiêu dùng trong và ngoài nước thì đối với mỗi Doanh nghiệp sản xuất hay
Doanh nghiệp thương mại, việc tiêu thụ hàng hoá vẫn là vấn đề quan trọng và cần thiết cho sự
tồn tại và phát triển của Doanh nghiệp mình. Vì thế, bằng nhiều phương pháp khác nhau như :

1. Vai trò (vị trí) của nghiệp vụ kế toán bán hàng trong quá trình sản xuất sản phẩm xã
hội nói chung và trong hoạt động sản xuất kinh doanh nói riêng.
Trong xã hội hiện nay, nhu cầu con người về sản phẩm hàng hoá đòi hỏi ngày càng cao
hơn, đa dạng và phong phú hơn. Vì vậy các nhà sản xuất cần áp dụng khoa học kỹ thuật hiện
đại, công nghệ tiên tiến và nắm bắt nhu cầu tâm lý của con người để sản xuất ra những sản
phẩm hàng hoá phù hợp với nhu cầu thị hiếu của từng đối tượng khách hàng. Sản phẩm hàng
hoá sản xuất ra có tiêu thụ được thì quá trình tái sản xuất mới được thực hiện. Do đó, bán hàng
xét trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân thì đó là điều kiện tái sản xuất sản phẩm xã hội,
còn xét trong hoạt động sản xuất kinh doanh bán hàng góp phần điều hoà giữa sản xuất với
tiêu dùng, giữa tiền và hàng, giữa khả năng và nhu cầu… Đặc biệt, trong nền kinh tế thị trường
thì bán hàng là vấn đề cần quan tâm, chú trọng hơn cả và ngày càng trở nên quan trọng.
Kết thúc quá trình bán hàng là khép kín một vòng chu chuyển vốn. Nếu quá trình tiêu
thụ thực hiện tốt, Doanh nghiệp sẽ tăng nhanh vòng chu chuyển vốn, nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn để thoả mãn nhu cầu ngày càng lớn của xã hội. Cũng qua đó Doanh nghiệp thực hiện
được giá trị lao động thặng dư ngoài việc bù đắp những chi phí bỏ ra để tiêu thụ sản phẩm hàng
hoá. Đây chính là nguồn để Doanh nghiệp nộp Ngân Sách Nhà Nước, lập các quỹ cần thiết và
nâng cao đời sống cho người lao động.
Những thông tin từ kết quả hạch toán bán hàng là thông tin rất cần thiết đối với các nhà
quản trị trong việc tìm hướng đi cho Doanh nghiệp. Mỗi Doanh nghiệp tuỳ thuộc vào đặc điểm
sản xuất kinh doanh của mình và tình hình bán hàng trên thị trường mà đề ra kế hoạch sản xuất
tiêu thụ cho phù hợp. Việc thống kê các khoản doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh chính
xác, tỉ mỉ, khoa học sẽ giúp cho các nhà quản trị Doanh nghiệp có được thông tin chi tiết về
tình hình tiêu thụ cũng như hiệu quả sản xuất của từng mặt hàng tiêu dùng trên thị trường khác
nhau. Từ đó, nhà quản trị có thể tính được mức độ hoàn thành kế hoạch, xu hướng tiêu dùng,
hiệu quả quản lý chất lượng cũng như nhược điểm trong công tác tiêu thụ của từng loại sản
phẩm hàng hoá. Trên cơ sở đó Doanh nghiệp xác định kết quả kinh doanh, thực tế lãi cũng như
số thuế phải nộp Ngân sách Nhà Nước. Và cuối cùng nhà quản trị sẽ đề ra được kế hoạch sản
xuất của từng loại sản phẩm trong kế hoạch kỳ tới, tìm ra biện pháp khắc phục những yếu điểm
để hoàn thiện công tác bán hàng trong Doanh nghiệp.
2. Đặc điểm nghiệp vụ bán hàng ở các Doanh nghiệp thương mại.

hàng hoá bán ra và bán cho các đối tượng sau:
- Bán cho sản xuất: Bán hàng cho các xí nghiệp thiết bị, vật tư để làm nguyên vật liệu dùng
cho ngành xây dựng.
- Bán cho xuất khẩu: Doanh nghiệp bán hàng cho các Doanh nghiệp bên nước ngoài và thu
ngoại tệ.
- Bán cho hệ thống Thương Mại: tức là Doanh nghiệp thương mại bán hàng cho Doanh
nghiệp thương mại khác để mà tiếp tục lưu chuyển hàng hoá bán ra.
- Bán lẻ cho người tiêu dùng: Doanh nghiệp thương mại bán vật liệu sinh hoạt để dùng vào
đời sống sinh hoạt hàng ngày của các tầng lớp dân cư, các cơ quan đoàn thể, các xí nghiệp.
- Bán và xuất khác:
2.3. Các phương thức bán hàng chủ yếu trong Doanh nghiệp thương mại.
Quá trình bán hàng ở Doanh nghiệp thương mại được thực hiện theo 2 hình thức là : bán
buôn và bán lẻ. Bán buôn là bán hàng cho các tổ chức bán lẻ hoặc các đơn vị xuất nhập khẩu
để tiếp tục quá trình bán hàng và xác định kết quả kinh doanh. Bán lẻ là hình thức bán trực tiếp
cho người tiêu dùng cuối cùng.
* Phương thức bán buôn:
- Bán buôn hàng hoá qua kho: Bán buôn hàng hoá qua kho là phương thức bán buôn hàng hoá
mà trong đó hàng hoá phải được xuất từ kho bảo quản của Doanh nghiệp. Bán buôn hàng hoá
qua kho có thể thực hiện dưới hai hình thức:
+ Bán buôn hàng hoá qua kho theo hình thức giao hàng trực tiếp: Theo hình thức này thì
bên mua căn cứ vào hợp đồng đã ký kết, cử đại diện đến kho của Doanh nghiệp thương mại để
nhận hàng. Doanh nghiệp thương mại xuất kho hàng hoá giao trực tiếp cho đại diện bên mua.
Sau khi đại diện bên mua nhận đủ hàng, thanh toán tiền hoặc chấp nhận nợ, hàng hoá được
chấp nhận là tiêu thụ.
+ Bán buôn hàng hoá qua kho theo hình thức chuyển hàng: Theo hình thức này, căn cứ
vào hợp đồng kinh tế đã ký kết, Doanh nghiệp thương mại xuất kho hàng hoá dùng phương
tiện vận tải của mình hoặc đi thuê ngoài, chuyển hàng đến kho của bên mua hoặc một địa điểm
nào đó bên mua quy định trong hợp đồng. Hàng hoá chuyển bán vẫn thuộc quyền sở hữu của
Doanh nghiệp thương mại, chỉ khi nào bên mua kiểm lại, thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán
thì số hàng chuyển giao mới được coi là tiêu thụ, người bán mất quyền sở hữu về số hàng đã

căn cứ vào số lượng hàng đã giao theo hoá đơn đã nhận hoặc kiểm hàng hoá cuối ngày, cuối ca
để xác định số hàng đã giao cho khách hàng và lập báo cáo bán hàng. Chứng từ làm căn cứ ghi
sổ kế toán các nghiệp vụ bán lẻ hàng hoá là giấy nộp tiền và báo cáo bán hàng.
- Bán hàng theo phương thức gửi đại lý:
Bán hàng gửi đại lý, ký gửi là phương thức mà bên chủ hàng (gọi là bên giao đại lý)
xuất hàng giao cho bên nhận đại lý, ký gửi để bán. Bên nhận đại lý sẽ được hưởng thu lao đại
lý dưới hình thức hoa hồng hoặc chênh lệch giá.
- Phương thức bán hàng trả góp:
Bán hàng trả góp là phương thức bán hàng thu tiền nhiều lần. Người mua sẽ thanh toán
lần đầu ngay tại thời điểm mua. Số tiền còn lại người mua chấp nhận trả dần ở các kỳ tiếp theo
và phải chịu một tỷ lệ lãi suất nhất định. Thông thường số tiền trả ở các kỳ tiếp theo bằng nhau
trong đó bao gồm một phần doanh thu gốc và một phần lãi trả chậm.
Theo phương thức trả góp, về mặt hạch toán khi giao hàng cho người mua hàng thì
lượng hàng chuyển giao được gọi là bán hàng. Về thực chất chỉ khi nào người mua thanh toán
hết tiền hàng thì Doanh nghiệp mới mất quyền sở hữu về hàng hoá.
2.4. Các phương thức thanh toán.
Cùng với việc đa dạng phương thức bán hàng thì các Doanh nghiệp cũng áp dụng đa
phương thức thanh toán. Việc thanh toán theo phương thức nào là do hai bên mua – bán thoả
thuận,lựa chọn sao cho phù hợp rồi ghi vào hợp đồng. Phương thức thanh toán thể hiện sự tín
nhiệm giữa hai bên, đồng thời nó cũng nói lên sự vận động giữa hàng hoá và tiền vốn, đảm bảo
cho bên mua và bên bán cùng có lợi. Tuỳ vào lượng hàng giao dịch, mối quan hệ giữa hai bên
và hình thức bán hàng mà hai bên lựa chọn phương thức thanh toán phù hợp, hiệu quả nhất.
Hiện nay các Doanh nghiệp thường áp dụng một số phương thức thanh toán sau:
* Phương thức thanh toán ngay:
Là phương thức thanh toán mà quyền sở hữu về tiền tệ sẽ được di chuyển từ người mua
sang người bán ngay sau khi quyền sở hữu hàng hoá được chuyển giao. Hình thức thanh toán
có thể bằng tiền mặt, ngân phiếu, séc hoặc bằng hàng hoá (nếu bán theo phương thức đổi
hàng). ở phương thức này sự vận động của hàng hoá gắn liền với sự vận động của tiền tệ.
* Phương thức thanh toán sau:
Theo phương thức này, quyến sở hữu về tiền tệ sẽ được chuyển giao sau một khoảng

là mua một hàng hoá khác tương ứng. Việc giao hàng diễn ra hầu như là đồng thời. Hiện nay,
đôi lúc có thể dùng tiền để thanh toán một phần thiếu hụt.
3. Yêu cầu quản lý và nhiệm vụ của kế toán nghiệp vụ bán hàng.
3.1. Phạm vi và thời điểm xác định bán hàng
* Phạm vi hàng bán:
Hàng hoá được coi là đã hoàn thành việc bán trong Doanh nghiệp thương mại, được ghi
nhận doanh thu bán hàng phải đảm bảo các điều kiện nhất định. Theo quy định hiện hành, được
xem là hàng bán phải thoả mãn điều kiện sau:
 Hàng bán phải thông qua quá trình mua, bán và thanh toán theo một phương thức thanh
toán nhất định.
 Doanh nghiệp thương mại mất quyền sở hữu về hàng hoá và nắm bắt được quyền sở
hữu về tiền tệ hoặc có quyền được đòi tiền khách hàng.
 Hàng hoá bán ra phải thuộc diện kinh doanh của Doanh nghiệp, do Doanh nghiệp mua
vào hoặc gia công chế biến hay nhận góp vốn, nhận cấp phát, tặng thưởng,…
Ngoài ra trong một số trường hợp sau cũng được coi là hàng bán:
 Hàng hoá xuất để đổi lấy hàng hoá khác, còn được gọi là hàng đối lưu hay hàng đổi
hàng.
 Hàng hoá xuất để thanh toán tiền lương, tiền thưởng cho công nhân viên.
 Hàng hoá xuất để làm quà biếu, quà tặng, quảng cáo chào hàng.
 Hàng hoá xuất dùng nội bộ, phục vụ cho hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp .
 Hàng hoá hao hụt, tổn thất trong quá trình vận chuyển bán ra theo hợp đồng bên bán
chịu.
 Hàng xuất là nguyên vật liệu để sản xuất chế biến sản phẩm rồi bán ra.
 Hàng xuất để tham gia hội chợ triển lãm.
 Hàng xuất để góp vốn liên doanh,…
* Thời điểm xác định hàng bán:
 Trường hợp giao hàng trực tiếp cho khách hàng tại kho của Doanh nghiệp hoặc vận
chuyển hàng trực tiếp: thời điểm ghi nhận doanh thu là thời điểm đại diện bên mua ký nhận đủ
hàng thanh toán tiền hàng hoặc chấp nhận nợ chủ hàng.
 Trường hợp giao hàng cho khách hàng tại kho của Doanh nghiệp hoặc vận chuyển theo

hưởng đến hoạt động kinh doanh cửa Công ty
* Về quản lý hàng hoá : Giá cả hàng hoá là một trong những yếu tố cạnh tranh vì vậy đòi hỏi
nhà quản lý phải định giá cho thật hợp lý phải xây dựng biểu giá cho từng mặt hàng, nhóm
hàng, từng phương thức bán hàng phù hợp cho từng địa điểm kinh doanh và quản lý việc thực
hiện giá bán hàng, chú trọng giám sát việc thi hành giá của nhân viên bán hàng tránh những
biểu hiện tiêu cực như tuỳ ý nâng giá. Để quản lý tốt thì Doanh nghiệp phải sử dụng kế toán
như công cụ đắc lực và sắc bén nhất.
Bên cạnh viêc tính toán mức độ hợp lý của hàng bán ra Doanh nghiệp còn quan tâm đến
việc xác định chính xác trị giá vốn của hàng hoá vì nó ảnh hưởng rất lớn tới việc xác định đúng
đắn kết quả kinh doanh của Doanh nghiệp.
3.3. Nhiệm vụ kế toán bán hàng.
Để tạo điều kiện cung cấp thông tin kịp thời , chính xác , cho người quản lý ra được các
quyết định hữu hiệu và đánh giá được chất lượng toàn bộ hoạt động kinh doanh của Doanh
nghiệp, kế toán bán hàng có nhiệm vụ sau:
- Ghi chép phản ánh đầy đủ kịp thời khối lượng hàng hoá tiêu thụ, ghi nhận doanh thu bán
hàng và các chỉ tiêu liên quan khác(giá vốn, doanh thu thuần).
- Phân bổ chi phí mua hàng hợp lý cho số hàng đã bán và tồn cuối kỳ.
- Lựa chọn phương pháp và xác định đúng giá vốn kỳ xuất bán để đảm bảo độ chính xác
của chỉ tiêu lãi gộp hàng hoá.
- Xác định kết quả bán hàng thực hiện chế độ báo cáo hàng hoá và báo cáo bán hàng, cung
cấp kịp thời về tình hình tiêu thụphục vụ cho lãnh đạo Doanh nghiệp điều hành hoạt động kinh
doanh thương mại.
- Theo dõi và phản ánh kịp thời công nợ với khách hàng.
4. Nội dung kế toán nghiệp vụ bán hàng và phương pháp kế toán nghiệp vụ bán hàng.
4.1. Đánh giá hàng hoá.
* Các phương pháp xác định giá vốn hàng bán:
Trị giá vốn hàng bán của hàng hoá xuất bán của Doanh nghiệp thương mại chính là trị
giá mua của hàng hoá xuất kho chi phí của hàng xuất kho phân bổ trong kỳ. Hàng hoá của các
Doanh nghiệp từ các nguồn khác nhau với giá nhập khác nhau, đợt nhập khác nhau. Do vậy,
khi xác định giá vốn hàng xuất bán, kế toán có thể sử dụng nhiều phương pháp tính khác nhau *

_ Phương pháp thực tế nhập trước – xuất trước (FIFO).
Phương pháp này giả định lô hàng nào nhập trước sẽ xuất sử dụng trước. Do đó số
lượng hàng hoá xuất kho thuộc lần nhập kho nào thì tính theo giá trị thực tế của hàng hoá nhập
tồn kho cuối kỳ, chính là giá thực tế nhập kho thuộc các lần nhập sau.
_ Phương pháp giá thực tế nhập sau – xuất trước (LIFO).
Phương pháp này giả định lô hàng nhập kho sau sẽ được sử dụng trước. Do vậy giá thực
tế của hàng tồn kho cuối kỳ là giá thực tế hàng hoá theo giá các lần nhập kho.
_ Phương pháp hệ số giá.
Phương pháp này áp dụng cho các Doanh nghiệp sử dụng giá hạch toán để hạch toán
tình hình nhập xuất của sản phẩm, hàng hoá, cuối kỳ xác định hệ số giá để làm cở sở tính giá
thực tế sản phẩm hàng hoá xuất kho trong kỳ.
Giá
th
ực tếGiá tr
ị hạch toán
Đơn giá
Trong ú:
Hệ số giá
=
ế
Trị giá hàng hoá đầu kỳ + Trị giá h
àng hoá nhập trong
theo giá mua thực t kỳ theo giá mua thực tế
Trị giá hàng tồn kho đầu + Trị giá hà
ng hoá nhập trong
kỳ theo giá hạch toán kỳ theo giá hạch toán

4.2. Phng phỏp k toỏn nghip v bỏn hng.
4.2.1. Chng t k toỏn :
Theo ch qun lý chng t, chng t k toỏn bao gm hai h thng:
- H thng chng t k toỏn bt buc : l chng t mang bn cht phn ỏnh mi quan h
gia cỏc nhõn t cú yờu cu qun lý cht ch, mang tớnh ph bin rng rói.
- H thng chng t hng dn: Ch yu l cỏc chng t s dng trong ni b Doanh
nghip, Nh nc ch gi vai trũ hng dn ni dung cỏc ngnh, cỏc thnh phn kinh t
tham kho, t ú xõy dng h thng chng t cho phự hp vi iu kin thc t ca Doanh
nghip.
i vi quỏ trỡnh bỏn hng mt s chng t mang tớnh cht bt buc nh:
+ Hoỏ n kiờm phiu xut kho.
+ Hoỏ n giỏ tr gia tng, hoỏ n bỏn hng.
+ Phiu xut kho kiờm vn chuyn ni b.
+ Phiu xut kho hng gi bỏn i lý.
+ Bỏo cỏo bỏn hng.
+ Bng kờ bỏn l hng hoỏ.
+ Bng thanh toỏn hng i lý.
+ Th quy hng.
+ Giy np tin ca nhõn viờn bỏn hng.

Bên có phản ánh:
+ Số tiền khách hàng đã trả.
+ Số tiền đã nhận ứng trước, trả trước cho khách.
+ Các khoản chiết khấu, doanh thu,giảm giá của hàng bán chưa thu tiền bị khách hàng trả
lại.
+ Các nghiệp vụ làm giảm khoản phải thu: chênh lệch tỷ giá giảm, thanh toán bù trừ, xoá
sổ nợ khó đòi…
Số dư Nợ phản ánh: số tiền còn phải thu của khách hàng.
Tài khoản 131 có thể có số dư Có phản ánh số tiền đã nhận trước hoặc số đã thu nhiều hơn số
phải thu của khách hàng.
Tài khoản 157 – “Hàng gửi bán”.
- Công dụng của tài khoản : Tài khoản này dùng để phản ánh trị giá hàng hoá, sản phẩm đã
gửi hoặc chuyển đến cho khách hàng. Hàng hoá, sản phẩm gửi bán đại lý, ký gửi, trị giá dịch
vụ đã hoàn thành bàn giao cho người đặt hàng nhưng chưa được chấp nhận thanh toán. Tài
khoản này dùng cho tất cả các đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc mọi lĩnh vực.
- Quy định hạch toán:
+ Chỉ phản ánh vào tài khoản này trị giá số hàng hoá, sản phẩm đã gửi bán hoặc dịch vụ đã
hoàn thành bàn giao cho khách hàng theo hợp đồng kinh tế hoặc đơn đặt hàng chưa được chấp
nhận thanh toán.
+ Hàng hoá, thành phẩm phản ánh trên tài khoản này vẫn thuộc quỳên sở hữu của Doanh
nghiệp, kế toán phải mở sổ theo dõi chi tiết theo dõi từng loại hàng hoá, thành phẩm, từng lần
gửi hàng từ khi gửi đi đến khi chấp nhận thanh toán .
+ Chi phí vận chuyển, bốc xếp, tiền ủng hộ khách không phản ánh vào tài khoản này.
- Nội dung và kết cấu của tài khoản 157
Bên Nợ:
+ Trị giá hàng hoá,thành phẩm đã gửi đi cho khách hoặc gửi bán đại lý, ký gửi.
+ Trị giá dịch vụ đã cung cấp cho khách hàng nhưng chưa được khách chấp nhận thanh
toán.
+ Kết chuyển giá trị còn lại cuối kỳ.
Bên có:

Không hạch toán các khoản doanh thu bán hàng cho các đơn vị không trực thuộc Công ty.
- Nội dung và kết cấu của tài khoản 512:
Bên Nợ:
+ Thuế phải nộp theo phương pháp trực tiếp trên doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
nội bộ thực tế tiêu thụ trong kỳ .
+ Các khoản ghi giảm doanh thu nội bộ .
+ Kết chuyển sang tài khoản 911 để xác định kết quả thực hiện trong kỳ.
Bên có :
+ Phản ánh tổng doanh thu tiêu thụ nội bộ của đơn vị thực hiện trong kỳ kế toán.
Tài khoản 512 không có số dư và có ba tài khoản cấp 2 :
+ Tài khoản 5121 – “Doanh thu bán hàng hoá”.
+ Tài khoản 5122 – “Doanh thu bán các thành phẩm”.
+ Tài khoản 5123 – “Doanh thu cung cấp dịch vụ”.
Tài khoản 521 : Chiết khấu thương mại .
- Công dụng : tài khoản này dùng để phản ánh khoản chiết khấu thương mại mà Doanh
nghiệp đã giảm trừ hoặc đã thanh toán cho người mua vì lý do mua với khối lượng lớn theo giá
thoả thuận về chiết khấu thương mại đã ghi trên hợp đồng kinh tế mua bán hoặc cam kết mua
bán hàng hoá.
- Quy định hạch toán:
+ Chỉ hạch toán vào tài khoản này khoản chiết khấu thương mại người mua được hưởng đã
thực hiện trong kỳ theo đúng chiết khấu thương mại của Doanh nghiệp đã quy định.
+ Phải theo dõi chi tiết chiết khấu thương mại đã thực hiện cho từng khách hàng và từng
loại hàng bán.
+ Trong kỳ chiết khấu thương mại phát sinh thực tế được phản ánh vào bên nợ của tài
khoản 521, cuối kỳ khoản chiết khấu thương mại được chuyển sang tài khoản 511 để xác
định doanh thu thuần của khối lượng hàng hoá, sản phẩm thực hiện được trong kỳ hạch
toán.
- Nội dung và kết cấu của tài khoản 521:
Bên nợ:
+ Phản ánh khoản chiết khấu thương mại phát sinh trong kỳ.

- Công dụng của tài khoản: dùng để phản ánh trị giá gốc của hàng hoá, sản phẩm, lao vụ, dịch
vụ, giá thành sản xuất của sản phẩm bán trong kỳ.
- Nội dung và kết cấu:
Bên Nợ : Phản ánh trị giá vốn của hàng hoá, thành phẩm, dịch vụ đã tiêu thụ trong kỳ.
Bên Có :
+ Phản ánh khoản hoàn nhập dự phòng giảm giá hàng tồn kho cuối năm tài chính.
+ Kết chuyển giá gốc của hàng hoá, sản phẩm, dịch vụ đã tiêu thụ trong kỳ sang tài
khoản 911.
Tài khoản này cuối kỳ không có số dư. 4.2.3. Các trường hợp kế toán nghiệp vụ bán hàng.

(7): Kết chuyển giá vốn hàng bán
(8): Kết chuyển doanh thu thuần
(1a): Trị giá bao bì xuất kho
Sơ đồ 2: Trình tự kế toán bán hàng theo phương thức chuyển hàng. Ghi chú: (1):Trị giá hàng xuất kho.
(1a): Trị giá bao bì xuất kho
(2): Doanh thu bán hàng
(3): Thuế VAT phải nộp.
(4):Giảm tiền hoặc công nợ phải thu của khách.
(5):Giảm VAT phải nộp
(6): Kết chuyển các khoản làm giảm trừ doanh thu
TK156 TK157 TK632 TK911 TK511
TK111,

112,131
TK1532
TK111,

112,131
TK521,

531,532
TK3331
(1)
(1a)
(7) (9) (8) (2)
(4)
(5)

TK6417
TK156,154
* Đối với bên nhận đại lý:
sơ đồ4:Trường hợp bán với giá cao.

Ghi chú:
(1a) : Thuế VAT được khấu trừ.
(1b) : Hoa hồng trả cho đại lý (hoa hồng + chênh lệch giá).
(1c) : Số tiền phải cho bên nhận đại lý.
(2) : Thanh toán tiền cho bên giao đại lý.
TK003
Khi n
h
ận
hàng để
bán
Khi xu
ất
hàng để
bán
TK3331

(3)
(4)

Trích đoạn Tổ chức sổ kế toán phản ánh nghiệp vụ bán hàng Hình thức chứng từ ghi sổ Về chiết khấu thương mại
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status