LUẬN VĂN: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư tăng trưởng quỹ Bảo hiểm xã hội Việt Nam trong thời gian tới - Pdf 15



LUẬN VĂN: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động
đầu tư tăng trưởng quỹ Bảo hiểm xã
hội Việt Nam trong thời gian tới

LỜI MỞ ĐẦU

Việt Nam trong thời gian qua - Chương III: Giải pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động đầu tư tăng trưởng
quỹ BHXH Việt Nam
NỘI DUNG

CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUỸ BHXH VÀ ĐẦU TƯ QUỸ BHXH

I. TỔNG QUAN VỀ BHXH
1. Khái niệm BHXH
Con người muốn tồn tại và phát triển trước hết phải ăn, mặc, ở và đi lại…Để thoả
mãn những nhu cầu tối thiểu đó, người ta phải lao động để làm ra những sản phẩm cần
thiết. Khi sản phẩm được tạo ra ngày càng nhiều thì đời sống con người ngày càng đầy đủ
và hoàn thiện, xã hội ngày càng văn minh hơn. Như vậy, việc thoả mãn những nhu cầu
sinh sống và phát triển của con người phụ thuộc vào chính khả năng lao động của họ.
Nhưng trong thực tế, không phải lúc nào con người cũng chỉ gặp thuận lợi, có đầy đủ thu
nhập và mọi điều kiện sinh sống bình thường. Trái lại, có rất nhiều trường hợp khó khăn
bất lợi, ít nhiều ngẫu nhiên phát sinh làm cho người ta bị giảm hoặc mất thu nhập hoặc
các điều kiện sống khác. Chẳng hạn, bất ngờ bị ốm đâu hay bị tai nạn lao động, mất việc
làm hay khi tuổi già khả năng lao động và khả năng tự phục vụ bị suy giảm…Khi rơi và
những trường hợp này, các nhu cầu cần thiết trong cuộc sống không vì thế mà mất đi, trái
lại có cái còn tăng lên, thậm chí còn xuất hiện thêm một số nhu cầu mới như: Cần được
khám chữa bệnh và điều trị ốm đâu, tai nạn thương tật nặng cần phải có người chăm sóc
nuôi dưỡng…Bởi vậy muốn tồn tại và ổn định cuộc sống, con người và xã hội loài người
phải tìm ra và thực tế đã tìm ra nhiều cách giải quyết khác nhau như: San sẻ, đùm bọc lẫn
nhau trong nội bộ cộng đồng, đi vay, đi xin hoặc dựa vào sự cứu trợ của Nhà nước…Rõ

Cùng với quá trình phát triển, tiến bộ của loài người, BHXH được coi là một chính
sách xã hội quan trọng của bất kì Nhà nước nào, nhằm bảo đảm an toàn cho sản xuất, cho
đời sống vật chất và tinh thần cho mọi người trong xã hội. Với cách hiểu như vậy, bản
chất của BHXH được thể hiện ở những nội dung chủ yếu:
- BHXH là nhu cầu khách quan, đa dạng và phức tạp của xã hội, nhất là trong xã
hội mà sản xuất hàng hoá hoạt động theo cơ chế thị trường, mối quan hệ thuê mướn lao
động phát triển đến một mức độ nào đó. Kinh tế càng phát triển thì BHXH càng đa dạng
và hoàn thiện. Vì thế có thể nói kinh tế là nền tảng của BHXH hay BHXH không vượt
qua trạng thái kinh tế của mỗi nước.
- Mối quan hệ giữa các bên trong BHXH phát sinh trên cơ sở quan hệ lao động và
diễn ra giữa ba bên: Bên tham gia BHXH, bên BHXH và bên được BHXH. Bên tham gia BHXH có thể chỉ là người lao động hoặc cả người lao động và người sử dụng lao động.
Bên BHXH (bên nhận nhiệm vụ BHXH) thông thường là cơ quan chuyên trách do Nhà
nước lập ra và bảo trợ. Bên được BHXH là người lao động và gia đình họ khi có đủ các
điều kiện ràng buộc cần thiết.
- Những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trong BHXH
có thể là những rủi ro ngẫu nhiên trái với ý muốn chủ quan của con người như: Ốm đau,
tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp…Hoặc cũng có thể là những trường hợp xảy ra không
hoàn toàn ngẫu nhiên như: Tuổi già, thai sản…Đồng thời những biến cố đó có thể diễn ra
cả trong và ngoài quá trình lao động.
- Phần thu nhập của người lao động bị giảm hoặc mất đi khi gặp phải những biến
cố, rủi ro sẽ được bù đắp hoặc thay thế từ một nguồn quỹ tiền tệ tập trung được tồn tích
lại. Nguồn quỹ này do các bên tham gia BHXH đóng góp là chủ yếu, ngoài ra còn được
sự hỗ trợ từ phía Nhà nước.
- Mục tiêu của BHXH là nhằm thoả mãn những nhu cầu thiết yếu của người lao
động trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập, mất việc làm. Mục tiêu này đã được tổ
chức lao động quốc tế (ILO) cụ thể hoá :
+ Đền bù cho người lao động những khoản thu nhập bị mất để đảm bảo nhu cầu

+ Việc thay thế hoặc bù đắp ở đây liên quan đến toàn bộ quá trình lao động và
người lao động, quá trình này thể hiện chủ yếu ở tiền lương tiền công;
+ Việc thay thế hoặc bù đắp ở đây lại phụ thuộc chủ yếu ở quỹ BHXH.
- Phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia BHXH. Chức
năng này góp phần trực tiếp đảm bảo tính công bằng xã hội.
- Góp phần kích thích người lao động hăng hái tham gia lao động sản xuất để từ
đó nâng cao năng suất lao động cá nhân và năng suất lao động xã hội.
- Gắn bó lợi ích giữa người lao động - người sử dụng lao động - xã hội. Sở dĩ như
vậy là vì:
+ Cả ba bên đều thấy mình có lợi;
+ Chính sách BHXH ra đời góp phần thực hiện an sinh xã hội không chỉ trong
phạm vi quốc gia mà trong phạm vi quốc tế.
4. Những nguyên tắc cơ bản của BHXH
BHXH phụ thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Điều này cũng có
nghĩa là khó có thể có những nguyên tắc chung thống nhất áp dụng cho mọi thời kỳ, mọi
quốc gia. Tuy nhiên BHXH cũng có những nguyên tắc hoạt động cơ bản:
- Nguyên tắc: “Số đông bù số ít”.
Đây là nguyên tắc bất di bất dịch của BHXH nói riêng và của bảo hiểm nói chung.
Nó được quán triệt trong quá trình lập quỹ dự trù và chi trả bảo hiểm. - Nguyên tắc: “Đảm bảo mọi thành viên trong xã hội đều có quyền tham gia và
được hưởng quyền lợi từ BHXH”;
BHXH là một trong những quyền con người được Đại hội đồng Liên hợp quốc
thừa nhận và ghi trong tuyên ngôn nhân quyền ngày 10/12/1948 như sau: “Tất cả mọi
người với tư cách là thành viên của xã hội có quyền hưởng BHXH, quyền đó được đặt
trên cơ sở sự thoả mãn các quyền về kinh tế,xã hội và văn hoá, nhu cầu cho nhân cách và
sự tự do phát triển của con người”.
- Nguyên tắc: “ BHXH vừa mang tính bắt buộc, vừa mang tính tự nguyện”;
BHXH bắt buộc là cơ sở để tiến tới thực hiện BHXH toàn dân và tiến tới xây dựng

Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1919), tổ chức lao động quốc tế được thành
lập ( viết tắt là ILO). Sự kiện này đã góp một phần rất quan trọng trong việc phát triển
chính sách BHXH. Năm 1952, ILO có khuyến cáo các nước trên thế giới tham gia công
ước 102 (Tháng 6 năm 1952 tại Giơne vơ - Thụy Sỹ). Tại công ước này, hệ thống các chế
độ BHXH bao gồm 9 chế độ:
1. Chăm sóc y tế
2. Trợ cấp ốm đau
3. Trợ cấp thất nghiệp
4. Trợ cấp tuổi già
5. Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp
6. Trợ cấp gia đình
7. Trợ cấp sinh đẻ
8. Trợ cấp tàn tật
9. Trợ cấp tiền tuất
Chín chế độ trên hình thành một hệ thống các chế độ BHXH. Tuỳ điều kiện kinh
tế - xã hội mà mỗi nước tham gia công ước Giơnevơ thực hiện khuyến nghị đó ở mức độ
khác nhau, nhưng ít nhất phải thực hiện được 3 chế độ. Trong đó, ít nhất phải có một
trong năm chế độ: (3); (4); (5); (8); (9).
Hệ thống các chế độ BHXH có những đặc điểm chủ yếu sau:
+ Các chế độ được xây dựng theo luật pháp các nước;
+ Hệ thống các chế độ mang tính chất san sẻ rủi ro, chia sẻ tài chính;
+ Mỗi chế độ được chi trả đều căn cứ chủ yếu vào mức đóng góp của các bên
tham gia BHXH và quỹ dự trữ. Nếu quỹ dự trữ được đầu tư có hiệu quả và an toàn thì
mức chi trả sẽ cao và ổn định;
+ Phần lớn các chế độ là chi trả định kỳ;
+ Đồng tiền được sử dụng làm phương tiện chi trả và thanh toán. Chi trả BHXH
như là quyền lợi của mỗi chế độ BHXH;
+ Các chế độ BHXH thường được điều chỉnh định kỳ để phản ánh hết sự thay đổi
của điều kiện kinh tế - xã hội.


mướn nhân công. Mặc dù thu - chi BHXH đều được Nhà nước quy định bằng các văn
bản pháp luật, nhưng chủ yếu dựa vào quan hệ kinh tế, quan hệ lợi ích giữa các bên tham
gia theo nguyên tắc có tham gia thì mới được hưởng quyền lợi BHXH. Quan hệ phân phối của quỹ BHXH có tính chất pháp lý thấp hơn NSNN và mối quan hệ này trước hết
phản ánh lợi ích của các bên tham gia BHXH, sau đó mới đến lợi ích xã hội.
Như vậy, quỹ BHXH là một quỹ tiêu dùng đồng thời là một quỹ dự phòng; nó vừa
mang tính kinh tế vừa mang tính xã hội rất cao và là điều kiện hay cơ sở vật chất quan
trọng nhất đảm bảo cho toàn bộ hệ thống BHXH tồn tại và phát triển.
2. Đặc trưng của quỹ BHXH
Mặc dù là một quỹ tài chính nhưng phục vụ cho mục tiêu xã hội, vì vậy quỹ
BHXH có những nét đặc trưng riêng khác với những loại quỹ tài chính khác.Cụ thể:
- Việc hình thành và sử dụng quỹ BHXH không vì mục tiêu lợi nhuận
Mục đích khi hình thành quỹ BHXH là nhằm huy động sự đóng góp của người lao
động,người sử dụng lao động, Nhà nước trong một số trường hợp và các nguồn thu hợp
pháp khác để có một lượng tiền đủ lớn, đảm bảo đủ chi trả các trợ cấp BHXH cho các
trường hợp bị giảm hoặc bị mất hẳn các khoản thu nhập thường xuyên từ lao động do gặp
phải những sự kiện hoặc những “rủi ro xã hội” đã nêu và những chi phí cho hoạt động
thường xuyên của bộ máy BHXH. Khác với bảo hiểm thương mại, trong kết cấu phí
BHXH không tính phần lợi nhuận của bên bảo hiểm (cơ quan BHXH). Trong tổng phí
BHXH chỉ bao gồm phí thuần và phụ phí (bao gồm quản lý phí và phí dự phòng - nếu
có). Trong quá trình sử dụng quỹ, các chi phí chi trả trợ cấp BHXH chiếm phần lớn trong
tổng chi, phần chi quản lý thường chỉ chiếm tỷ lệ rất thấp và những chi phí này là những
chi phí thực sự cần thiết đảm bảo cho cả hệ thống hoạt động bình thường.
- Quỹ BHXH vừa có tính chất hoàn trả vừa có tính chất không hoàn trả:
Tính hoàn trả thể hiện ở chỗ: người lao động vừa là đối tượng tham gia và đóng
góp BHXH, đồng thời họ cũng là đối tượng nhận trợ cấp, được chi trả từ quỹ BHXH cho
dù chế độ, thời gian trợ cấp và mức trợ cấp của mỗi người khác nhau tuỳ thuộc vào
những biến cố, rủi ro mà họ phải gặp, cũng như mức đóng góp và thời gian đóng góp

sẽ có thu nhập cao hơn, do đó họ càng có điều kiện tham gia và đóng góp BHXH…
3. Vai trò của quỹ BHXH
- Vai trò đối với bản thân hệ thống BHXH
Quỹ BHXH được coi là “xương sống” của hệ thống BHXH. Hệ thống BHXH có
ổn định và phát triển được hay không phụ thuộc vào sự hoạt động của quỹ BHXH. Quỹ
BHXH là một quỹ tiền tệ tập trung được hình thành từ sự đóng góp của các bên tham gia
bảo hiểm bao gồm: người sử dụng lao động, người lao động và Nhà nước; trong một số
trường hợp còn có các nguồn thu khác được dùng để chi trả cho những trường hợp được
hưởng trợ cấp BHXH theo quy định của pháp luật về BHXH và chi phí cho các hoạt động
nghiệp vụ BHXH. Như vậy, vai trò của quỹ BHXH được thể hiện ở những điểm sau:
Thứ nhất, đối với người lao động: người lao động khi tham gia BHXH, nếu gặp
những biến cố hay những “rủi ro xã hội” như thai sản, ốm đau, tai nạn lao động, thất
nghiệp …, thông qua hệ thống trợ cấp BHXH được nhận những khoản tiền bảo hiểm để trang trải cho những chi phí do những biến cố hoặc rủi ro xã hội này gây ra. Ở đây, quỹ
BHXH có vai trò rất lớn là bù đắp hỗ trợ cho những thiếu hụt về thu nhập của người lao
động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập từ lao động nghề nghiệp do bị giảm hoặc mất thu
nhập từ lao động nghề nghiệp do bị giảm hoặc mất khả năng lao động do những biến cố
hoặc “rủi ro xã hội” nêu trên. Nói cách khác¸quỹ BHXH giữ vai trò góp phần đảm bảo an
toàn cho người lao động và gia đình họ. Tuy nhiên, mức độ đảm bảo thu nhập đến đâu và
được thực hiện như thế nào phụ thuộc vào khả năng thanh toán của quỹ BHXH và phụ
thuộc vào chính sách BHXH của quốc gia trong mỗi thời kỳ, trên cơ sở nguyên tắc trợ
cấp BHXH không được cao hơn so với tiền lương thu nhập từng nghề nghiệp trước khi
nghỉ hưởng trợ cấp BHXH, nhưng không được thấp hơn tiền lương tối thiểu do nhà nước
quy định. Nếu như quỹ BHXH thu được nhiều (thu đúng, thu đủ và đầu tư tăng trưởng
tốt) và số người bị rủi ro ít (số người thụ hưởng ít) thì mức độ đáp ứng của quỹ BHXH
cao hơn. Ngược lại, nếu như nguồn thu của quỹ thấp (thu không được đủ, đầu tư tăng
trưởng quỹ kém…)và số người bị rủi ro nhiều… thì mức độ đáp ứng của quỹ sẽ bị thấp
đi. Tuy nhiên như đã nêu ở trên, quỹ BHXH không chỉ là một quỹ xã hội, nên dù muốn

thông qua việc đầu tư vốn vào các chương trình, dự án phát triển kinh tế, quỹ BHXH
cũng cung cấp một lượng vốn lớn và đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy và
tăng trưởng kinh tế. Đặc biệt, trong điều kiện nhu cầu vốn đầu tư cho phát triển kinh tế
không ngừng tăng lên, thì việc cung ứng vốn cho nội bộ nền kinh tế thông qua các tụ
điểm tài chính như quỹ BHXH có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Nói cách khác thông qua
dòng di chuyển ra, quỹ BHXH đã làm tăng quy mô tài chính cho nền kinh tế; không
những thế, quỹ BHXH còn góp phần điều chỉnh cơ cấu tài chính, cơ cấu đầu tư, thúc đẩy
sự phát triển kinh tế của đất nước… Ngoài ra, thông qua việc đầu tư như mua tín phiếu,
trái phiếu kho bạc nhà nước, công trái xây dựng tổ quốc hoặc cho ngân hàng và các tổ
chức tín dụng vay…, quỹ BHXH đã tham gia một cách đắc lực vào việc thực hiện các
chính sách tiền tệ, giữ vững sự ổn định tiền tệ và góp phần kiểm soát lạm phát.
- Vai trò đối với chính trị - xã hội:
Việc hình thành quỹ BHXH tạo ra hệ thống an toàn xã hội, thông qua quá trình
phân phối lại quỹ BHXH góp phần thực hiện mục tiêu đảm bảo an toàn xã hội về kinh tế
cho mọi thành viên trong xã hội.
4. Nguồn hình thành và sử dụng quỹ BHXH
4.1. Nguồn hình thành quỹ BHXH
Quỹ BHXH được hình thành chủ yếu từ các nguồn sau đây:
- Người sử dụng lao động đóng góp
- Người lao động đóng góp
- Nhà nước đóng và hỗ trợ thêm
- Các nguồn khác (như cá nhân và các tổ chức từ thiện ủng hộ, lãi do đầu tư phần
quỹ nhàn rỗi). Phần lớn các nước trên thế giới, quỹ BHXH đều được hình thành từ các nguồn nêu
trên. Tuy nhiên, phương thức đóng góp và mức đóng góp của các bên tham gia BHXH có
khác nhau.
Về phương thức đóng góp BHXH của người lao động và người sử dụng lao động
hiện vẫn còn hai quan điểm. Quan điểm thứ nhất cho rằng, phải căn cứ vào mức thu nhập

f
2
- Phí dự phòng
f
3
- Phí quản lý
Phí thuần tuý trợ cấp BHXH cho cả các chế độ ngắn hạn và dài hạn, ngoài ra phải
có phí dự phòng để đảm bảo quỹ BHXH có dự trữ đủ lớn.
4.2. Sử dụng quỹ BHXH
Quỹ BHXH được sử dụng chủ yếu để chi trả cho các mục đích sau đây:
- Chi trợ cấp cho các chế độ bh
- Chi phí cho sự nghiệp quản lý BHXH
- Chi đầu tư tăng trưởng quỹ BHXH.
Trong đó, chi trợ cấp BHXH theo các chế độ là lớn nhất và quan trọng nhất, khoản
chi này thường được thực hiện theo luật định và phụ thuộc vào phạm vi trợ cấp của từng
hệ thống BHXH. Về nguyên tắc, có thu mới có chi, thu trước chi sau. Vì vậy, quỹ chỉ chi
cho các chế độ trong phạm vi có nguồn thu. Thu ở chế độ nào thì chi ở chế độ đó.
Tuy nhiên, quá trình sử dụng quỹ BHXH mà phần sử dụng nhiều nhất là chi trả
các chế độ còn phụ thuộc vào việc thành lập quỹ BHXH theo phương thức nào:
- Nếu chỉ thành lập một quỹ BHXH tập trung thống nhất thì việc chi trả cũng phải
đảm bảo tính thống nhất theo các nội dung chi.
- Nếu quỹ BHXH được hình thành theo 2 loại: Quỹ BHXH ngắn hạn và quỹ
BHXH dài hạn thì việc chi trả và quản lý chi sẽ cụ thể hơn. Phương thức này đảm bảo
cho công tác chi trả sát thực tế và đúng mục đích hơn. Đồng thời tạo điều kiện cho mọi
thành phần kinh tế tham gia các chế độ BHXH dài hạn.
- Nếu quỹ BHXH được thành lập theo từng chế độ (còn gọi là quỹ BHXH thành
phần) thì việc chi trả sẽ càng trở nên đơn giản và đảm bảo đúng mục đích.

lao động, Nhà nước đóng góp và hỗ trợ.
+ Quỹ BHXH được hình thành từ sự đóng góp của chủ sử dụng lao động và của
người tham gia BHXH.
+ Quỹ BHXH được hình thành từ sự đóng góp của chủ sử dụng lao động, Nhà
nước đóng và hỗ trợ. Người tham gia bảo hiểm không phải đóng góp vào quỹ.
- Quỹ BHXH cá nhân (Quỹ BHXH tự nguyện).
Theo mô hình này, quỹ BHXH có nguồn hình thành duy nhất từ sự đóng góp của
cá nhân người tham gia BHXH.
Xét dưới góc độ hình thức tham gia thì quỹ BHXH có hai mô hình:
- Quỹ BHXH bắt buộc: Nhà nước ban hành chính sách, chế độ tạo lập và sử dụng
quỹ để bắt buộc một số đối tượng tham gia BHXH. Sự đóng góp của họ hình thành nên
quỹ BHXH bắt buộc.Đối tượng tham gia gồm người sử dụng lao động và người lao động.
- Quỹ BHXH tự nguyện: Trên cơ sở Nhà nước ban hành chính sách, chế độ tạo
lập và sử dụng quỹ để cho đối tượng được quyền tự lựa chọn tham gia phù hợp với
điều kiện và nhu cầu của họ. Ở mô hình này, đối tượng tham gia thường là cá nhân
không thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc hoặc là đối tượng tham gia BHXH
bắt buộc nhưng họ tham gia bổ sung để được hưởng quyền lợi ngoài chế độ BHXH
bắt buộc.
Xét dưới góc độ thời gian hưởng chế độ BHXH thì quỹ có 2 mô hình:
- Quỹ BHXH ngắn hạn: Quỹ được hình thành từ sự đóng góp của đối tượng tham
gia BHXH, dùng để chi trả các chế độ BHXH ngắn hạn như: ốm đau, thai sản, nghỉ
dưỡng sức, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp hưởng một lần.
- Quỹ BHXH dài hạn: Quỹ được hình thành từ sự đóng góp của đối tượng tham gia
BHXH, dùng để chi trả các chế độ BHXH dài hạn như: Hưu trí, tử tuất, tai nạn lao động
và bệnh nghề nghiệp trả hàng tháng.
Xét dưới góc độ cân đối thu - chi thì quỹ có 2 mô hình cơ bản:
- Mô hình toạ thu - toạ chi: Cân đối quỹ được xác định hàng năm, thu không đủ

góp vào quỹ ngày càng ít đi trong khi số người hưởng chế độ BHXH đặc biềt là chế độ
hưu trí ngày càng tăng. Mặt khác, do nguyên tắc của BHXH là “số đông bù số ít”, nếu số
người tham gia BHXH ngày càng nhiều thì sự rủi ro đến với mỗi người lao động sẽ được
dàn trải rất rộng, từ đó tính chất xã hội của bảo hiểm sẽ ngày càng được thể hiện rõ nét,
quỹ BHXH sẽ càng vững mạnh, khả năng chi trả tăng lên và làm tăng phần quỹ nhàn rỗi.
- Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế và thu nhập bình quân đầu người.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế của một quốc gia phản ánh khả năng tiết kiệm tiêu
dùng và đầu tư của Nhà nước, vì thế nếu quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và
ổn định thì chắc chắn đời sống của người dân sẽ cao dần lên, tình hình sản xuất kinh
doanh của các doanh nghiệp gặp nhiều thuận lợi, là điều kiện để người lao động tham
gia BHXH được nhiều hơn, để các chủ doanh nghiệp sẵn sàng tham gia BHXH cho
người lao động và làm giảm tình trạng trốn đóng góp BHXH của họ. Thêm nữa, khi đời
sống kinh tế cao thì nhận thức của người lao động cũng cao lên, ngoài việc ý thức bảo
đảm cuộc sống hàng ngày cho bản thân và gia đình, họ còn mong muốn có khoản trợ
giúp trong tương lai khi không may gặp rủi ro xã hội khiến họ bị mất hoặc bị giảm thu
nhập. Tất cả những yếu tố trên tác động tích cực làm tăng thu BHXH.
- Mức chi trả các chế độ BHXH: Mức chi trả các chế độ BHXH phụ thuộc vào: số
lượng các chế độ BHXH được áp dụng, số người hưởng và tỉ lệ hưởng các chế độ BHXH.
Nếu một quốc gia triển khai và áp dụng nhiều các chế độ trong số 9 chế độ thì số
thu BHXH ngày càng lớn. Mặt khác, tỉ lệ hưởng càng cao có nghĩa là số tiền chi trả cho
các chế độ càng lớn, chính điều này đặt ra yêu cầu thu BHXH ngày càng chặt chẽ hơn để
tránh tình trạng mất cân đối quỹ BHXH. Khi tuổi nghỉ hưu càng tăng lên thì mức chi trả
lương hưu sẽ giảm, mức thu lại càng tăng nên sẽ giảm nguy cơ mất cân đối quỹ.
- Nguồn lãi từ hoạt động đầu tư quỹ BHXH: Nếu quỹ BHXH được thiết kế theo
mô hình toạ thu - toạ chi thì quỹ luôn được cân đối ngay trong năm và không có kết dư.
Nếu quỹ được thiết kế theo mô hình tồn tích thì hàng năm đều có kết dư, đây là nguồn
vốn rất quan trọng để đầu tư vào các lĩnh vực có độ rủi ro thấp. Nếu hoạt động đầu tư có
hiệu quả thì tiền lãi từ hoạt động này sẽ làm quy mô quỹ vững mạnh, đảm bảo cân bằng
trong thời gian dài.


tăng trưởng.
- Trong trường hợp bội chi quỹ BHXH thì số bội chi phải nhỏ hơn số chi đầu tư
tăng trưởng quỹ để đảm bảo quỹ luôn được cân đối - Tổng số chi cho các chế độ BHXH dài hạn và ngắn hạn không vượt quá tổng số
thu vào các quỹ BHXH dài hạn và ngắn hạn.
- Lợi nhuận đầu tư tăng trưởng quỹ BHXH mang lại phải đảm bảo nguyên tắc:
không sử dụng cho tiêu dùng, chỉ được sử dụng cho mục đích tăng trưởng quỹ BHXH.

III. VẤN ĐỀ ĐẦU TƯ QUỸ BHXH
1. Sự cần thiết của đầu tư tăng trưởng quỹ BHXH
Trong hoạt động của quỹ BHXH, do tính đặc thù của quá trình thu - chi BHXH
nên quỹ BHXH luôn có một lượng tiền tạm thời nhàn rỗi, phần tiền này với tư cách là
một bộ phận tài chính cần phải được đem đầu tư. Có rất nhiều lý do dẫn đến cần phải đầu
tư tăng trưởng quỹ BHXH, nhưng chủ yếu là các lý do sau:
- Trong các nguồn thu của quỹ thì có một bộ phận được dụng ngay (cho các trợ
cấp BHXH ngắn hạn); nhưng phần lớn dùng để chi trả cho các trợ cấp BHXH dài hạn mà
tính từ khi đóng phải hàng chục năm sau mới phải chi (nếu chỉ tính riêng cho từng cá
nhân). Đối với những hệ thống BHXH trẻ (như Việt Nam), số người đóng góp hiện tại
lớn hơn nhiều so với số người hưởng BHXH hiện tại, thì số tiền chưa được dùng đến
ngay rất lớn. Đây được gọi là phần nhàn rỗi tương đối của quỹ BHXH. Theo quy luật tiền
tệ, phần nhàn rỗi của quỹ BHXH không được để đóng băng mà phải được đưa vào lưu
thông, phải được đầu tư để tránh những rủi ro về tiền tệ như lạm phát và các rủi ro khác.
Do vậy, đầu tư trước hết là để đảm bảo giá trị của phần vốn này, mặt khác phần sinh lời
thực tế (sau khi đã trừ đi lạm phát) sẽ làm tăng quy mô của quỹ BHXH, góp phần cải
thiện cho các trợ cấp ngắn hạn; đồng thời đảm bảo cho các hoạt động của BHXH được
tốt hơn cả trong hiện tại và tương lai.
- Do thiết kế kỹ thuật, có tính tới yếu tố thu nhập hiện thời của người lao động,
nên phí BHXH chỉ là phí tối thiểu. Nếu tính riêng cho một người lao động thì phần đóng

phiếu, cho vay, mua bất động sản…
- Ở hầu hết các nước, Chính phủ đều quy định danh mục đầu tư, hoặc phân cấp rõ
ràng danh mục đầu tư gắn liền với trách nhiệm của các cấp, các ngành để hạn chế rủi ro
của quỹ.
- Quỹ BHXH là thuộc sở hữu của các bên tham gia đóng góp, đó là quỹ của xã hội
dùng để chi cho các chế độ BHXH theo quy định. Vì vậy, việc đầu tư của quỹ phải đảm
bảo yêu cầu thu hồi vốn thuận tiện, hết thời hạn đầu tư phải thu hồi được cả vốn và lãi, dễ
dàng chuyển đổi các nguồn vốn đem đầu tư thành tiền mặt khi cần.
- Hoạt động đầu tư tăng trưởng quỹ BHXH cũng phải tuân thủ yêu cầu khách quan
của các quy luật kinh tế trên thị trường vốn.
3. Nguyên tắc cơ bản đầu tư quỹ BHXH
Do quỹ BHXH có những đặc trưng riêng, khác với những tổ chức tài chính khác,
nên việc đầu tư tăng trưởng quỹ phải dựa trên những nguyên tắc cơ bản sau: - Nguyên tắc: “Đảm bảo an toàn khi đầu tư”.
Mục tiêu hình thành quỹ BHXH là để góp phần đảm bảo an toàn thu nhập cho
người lao động và sâu sa hơn là đảm bảo an sinh xã hội cho dân cư. Vì vậy, an toàn là
nguyên tắc hàng đầu trong việc đầu tư quỹ BHXH. Có thể nói, quỹ BHXH về bản chất là
tài sản của nhiều thế hệ lao động, luôn luôn gắn liền với đời sống của hàng triệu người
tham gia BHXH và gia đình họ. Quỹ BHXH được bảo toàn và tăng trưởng tốt sẽ đáp ứng
tốt hơn nhu cầu ngày càng tăng của người lao động tham gia BHXH và góp phần thực
hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của đất nước, góp phần ổn định và phát triển đất nước.
Ngược lại, nếu quỹ BHXH không được sử dụng đúng, không đảm bảo được giá trị, mất
an toàn ( thâm hụt) thì đời sống của người tham gia và thụ hưởng sẽ bị ảnh hưởng đầu
tiên; hậu quả là sé dẫn đến rối loạn xã hội nghiêm trọng. Nhiều Chính phủ đã phải sụp đổ
do những vấn đề có liên quan đến lợi ích của người tham gia BHXH.
- Nguyên tắc: “ Hiệu quả”.
Yêu cầu của nguyên tắc này là đầu tư tiền nhàn rỗi của quỹ BHXH phải mang lại
lợi nhuận. Đây cũng là yêu cầu tất yếu của hoạt động đầu tư, bởi vì mọi đầu tư vốn đều

việc xác định danh mục hạn mức đến xác định mức lãi đầu tư vốn, nghiên cứu kinh
nghiệm nước ngoài, đồng thời tuân thủ một cách nghiêm túc yêu cầu khách quan của các
quy luật.
4. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư quỹ BHXH
4.1. Các nhân tố khách quan
- Môi trường đầu tư: Đây là nhân tố tác động trực tiếp đến hiệu quả đầu tư quỹ.
Môi trường đầu tư thuận lợi tạo điều kiện cho cơ quan BHXH đưa luồng tiền tạm thời
nhàn rỗi vào hoạt động một cách nhanh chóng nhất tránh hiện tượng ứ đọng vốn từ đó tác
động tới lợi suất của việc đầu tư, tạo điều kiện lựa chọn danh mục đầu tư ít rủi ro và có
lợi suất tối ưu.
- Cơ chế pháp lý về đầu tư quỹ: Những định chế pháp lý về đầu tư quỹ BHXH đầy
đủ và đồng bộ là yếu tố có tính quyết định tới hiệu quả đầu tư quỹl. Những quy định pháp
lý bắt buộc phải được thể chế hoá như: Nguyên tắc đầu tư, danh mục đầu tư, tỉ lệ phân bổ
nguồn vốn đầu tư, phân phối lợi nhuận từ hoạt động đầu tư…
Một hệ thống định chế pháp đầy đủ và đồng bộ sẽ là cơ sở tạo điều kiện thuận lợi
cho quỹ BHXH tham gia đầu tư trên thị trường đồng thời nó cũng tác động tích cực đến
lợi tức và rủi ro mong đợi của hoạt động đầu tư.
- Chính sách tài chính tiền tệ quốc gia: Chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ
tác động mạnh mẽ đến hiệu quả điều hành kinh tế vĩ mô từ đó tác động đến hiệu quả đầu
tư. Đối với chính sách tài khoá, nếu Chính phủ kiểm soát được thâm hụt NSNN, xác
định được nguồn bù đắp bội chi cho NSNN làm lành mạnh hoá động NSNN, sẽ là cơ sở
để cơ quan BHXH định hướng hoạt động đầu tư. Đối với chính sách tiền tệ, nếu Chính phủ kiểm soát được tỷ lệ lạm phát ở một tỷ lệ thích hợp cũng là cơ sở để cơ quan BHXH
xác định một lợi suất mong đợi hợp lý nhằm đảm bảo giá trị thực của quỹ trong tương lai.
4.2. Nhân tố chủ quan
- Hiệu quả hoạt động của tổ chức đầu tư tăng trưởng quỹ BHXH: Đây là yếu tố
quyết định đến hiệu quả đầu tư quỹ BHXH. Để đảm bảo lợi ích người lao động thì việc
nâng cao hiệu quả đầu tư quỹ BHXH luôn được thực hiện bởi một tổ chức chuyên trách

trong các trường hợp cần thiết. Tính lỏng của các tài sản là khác nhau, tiền mặt lỏng nhất,
trái phiếu, các loại cổ phiếu,…Khi các yếu tố khác không thay đổi, tính lỏng của một tài
sản tăng lên so với tài sản kia, dẫn tới lượng cầu về tài sản đó tăng.
- Chi phí thông tin: BHXH sẽ phải giảm chi phí cho việc đánh giá TSCĐ. Những
tài sản có chi phí thông tin ít như trái phiếu chính phủ (TPCP), trái phiếu của các tổ chức
tín dụng mạnh. Ngược lại, cổ phiếu và trái phiếu công ty, khoản cho vay cho các tổ chức
hoặc cá nhân vay đòi hỏi chi phí thông tin lớn.
Điều này được thể hiện ở bảng sau: Bảng tiêu chuẩn lựa chọn tài sản đầu tư
Các y
ếu tố


ợng cầu

về tài sản
Lý doCủa cải Tăng Nhà đầu tư có nhiều tiềm lực hơn để
lựa chọn
Lợi suất kỳ vọng tài sản so với lợi
suất mong đợi của tài sản khác.
Tăng Nhà đầu tư thu được nhiều lợi nhuận
hơn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status