Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư tăng trưởng quỹ Bảo hiểm xã hội Việt Nam trong thời gian tới - Pdf 29

Website: Email : Tel : 0918.775.368
MỤC LỤC Trang
LỜI MỞ ĐẦU……………………………………………………………………………..1
NỘI DUNG………………………………………………………………………………..3
CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUỸ BHXH VÀ ĐẦU TƯ QUỸ BHXH………...3
I. TỔNG QUAN VỀ BHXH …………………………………………………………… .3
1. Khái niệm BHXH…………………………………………………………………...3
2. Bản chất của BHXH………………………………………………………………...4
3. Đối tượng và chức năng của BHXH………………………………………………. .5
4. Những nguyên tắc cơ bản của BHXH… .. .7…………………………………………………
5. Hệ thống các chế độ BHXH………………………………………………………...8
II. LÝ LUÂN CHUNG VỀ QUỸ BHXH ……………………………………………… .9
1. Khái niệm quỹ BHXH……………………………………………………………....9
2. Đặc trưng của quỹ BHXH…………………………………………………………10
3. Vai trò của quỹ BHXH…………………………………………………………….12
4. Nguồn hình thành và sử dụng quỹ BHXH…………………………………………14
5. Mô hình quỹ BHXH……………………………………………………………….17
6. Các nhân tố tác động đến quỹ BHXH……………………………………………...18
7. Các nguyên tắc cân đối quỹ BHXH………………………………………………..20
III. VẤN ĐỀ ĐẦU TƯ QUỸ BHXH …………………………………………………..21
1. Sự cần thiết của đầu tư tăng trưởng quỹ BHXH …………………………………..21
2. Đặc điểm của đầu tư quỹ BHXH…………………………………………………..22
3. Nguyên tắc cơ bản đầu tư quỹ BHXH……………………………………………..23
4. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư quỹ BHXH………………………….25
5. Sử dụng vốn đầu tư từ quỹ BHXH………………………………………………..26
6. Đánh giá hiệu quả đầu tư quỹ BHXH……………………………………………. 30
CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ CỦA HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TĂNG
TRƯỞNG QUỸ BHXH VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA……………………. 33
I. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ BHXH VIỆT NAM…………………………………….. 33
1. Khái quát về quá trình hình thành và phát triển của BHXH Việt Nam………….. 33
2. Chức năng và nhiệm vụ của BHXH Việt Nam……………………………………35

1. Về phía Nhà nước………………………………………………………………….81
2. Về phía Bảo hiểm xã hội Việt Nam………………………………………………..82
KẾT LUẬN………………………………………………………………………………84
TÀI LIỆU THAM KHẢO
SVTH: NguyÔn ThÞ HuyÒn Thu Líp: B¶o hiÓm 45B
2
Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Trên thế giới, BHXH đã xuất hiện cách đây hàng trăm năm. Ngày nay, BHXH đã
trở thành một công cụ bảo vệ hữu hiệu mang tính nhân văn sâu sắc, giúp con người vượt
qua được những khó khăn rủi ro phát sinh trong cuộc sống và trong quá trình lao động như:
ốm đau, chăm sóc y tế, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, mất việc làm, tuổi
già…Vì thế BHXH ngày càng trở thành nền tảng cơ bản cho ASXH của mỗi quốc gia và
được thực hiện ở hầu hết các nước trên thế giới.
Ở Việt Nam, từ khi thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đến nay,
Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến đời sống cán bộ, công nhân viên cũng như toàn dân;
cụ thể là luôn quan tâm đến phát triển chế độ chính sách BHXH, trong đó vấn đề đầu tư
tăng trưởng quỹ BHXH ngày càng được quan tâm đặc biệt.
Kể từ năm 1995 đến nay, số dư quỹ BHXH liên tục tăng; nhưng nếu xét trong
trạng thái “động”, cân đối trong thời gian dài khoản 50 năm thì nguy cơ mất cân đối
quỹ BHXH đã được các nhà hoạch định chính sách và quản lý BHXH dự báo: Nếu
tính toán theo như chế độ hiện hành thì khoảng năm 2020 thu sẽ cân đối chi, sau đó
quỹ giảm dần và đến năm 2030 thì quỹ BHXH sẽ phải đối mặt với nguy cơ mất khả
năng chi trả.
Để khắc phục tình trạng thiếu hụt của quỹ xảy ra trong tương lai, tăng tiềm lực tài
chính cho quỹ và để giảm nhẹ gánh nặng cho NSNN, thì việc đẩy mạnh hiệu quả đầu tư
tăng trưởng quỹ BHXH là giải pháp quan trọng và cần thiết.
Xuất phát từ yêu cầu trên và khắc phục những thiếu hụt quỹ, em đã chọn đề tài:
“Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư tăng trưởng quỹ Bảo hiểm xã hội
Việt Nam trong thời gian tới”.

thiết. Khi sản phẩm được tạo ra ngày càng nhiều thì đời sống con người ngày càng đầy đủ
và hoàn thiện, xã hội ngày càng văn minh hơn. Như vậy, việc thoả mãn những nhu cầu
sinh sống và phát triển của con người phụ thuộc vào chính khả năng lao động của họ.
Nhưng trong thực tế, không phải lúc nào con người cũng chỉ gặp thuận lợi, có đầy đủ thu
nhập và mọi điều kiện sinh sống bình thường. Trái lại, có rất nhiều trường hợp khó khăn
bất lợi, ít nhiều ngẫu nhiên phát sinh làm cho người ta bị giảm hoặc mất thu nhập hoặc các
điều kiện sống khác. Chẳng hạn, bất ngờ bị ốm đâu hay bị tai nạn lao động, mất việc làm
hay khi tuổi già khả năng lao động và khả năng tự phục vụ bị suy giảm…Khi rơi và những
trường hợp này, các nhu cầu cần thiết trong cuộc sống không vì thế mà mất đi, trái lại có
cái còn tăng lên, thậm chí còn xuất hiện thêm một số nhu cầu mới như: Cần được khám
chữa bệnh và điều trị ốm đâu, tai nạn thương tật nặng cần phải có người chăm sóc nuôi
dưỡng…Bởi vậy muốn tồn tại và ổn định cuộc sống, con người và xã hội loài người phải
tìm ra và thực tế đã tìm ra nhiều cách giải quyết khác nhau như: san sẻ, đùm bọc lẫn nhau
trong nội bộ cộng đồng, đi vay, đi xin hoặc dựa vào sự cứu trợ của Nhà nước…Rõ ràng,
những cách đó hoàn toàn thụ động và không chắc chắn.
Khi nền kinh tế phát triển thì quan hệ thuê mướn cũng ngày càng phổ biến và quan
hệ chủ thợ cũng hình thành. Để đảm bảo lợi ích của người lao động Chính phủ đã xây
dựng lên một quỹ chung do Chính phủ đứng ra tổ chức và yêu cầu:
- Giới chủ phải trích từ phần lợi nhuận thu được một khoản tiền nhất định để đóng
góp vào quỹ này;
- Giới thợ phải trích từ tiền công, tiên lương hàng tháng một khoản nhỏ để nộp vào
quỹ này;
SVTH: NguyÔn ThÞ HuyÒn Thu Líp: B¶o hiÓm 45B
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Chính phủ hứa sẽ bảo trợ cho quỹ và thậm chí bù thiếu cho quỹ.
Quỹ này được sử dụng với mục đích để phân phối lại cho những người lao động
không may bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động…Mối quan hệ ràng buộc như vậy được
thế giới gọi là BHXH đối với người lao động.
Cho đến nay vẫn chưa có được một khái niệm chính thống về BHXH. Trong đề tài

Bên BHXH (bên nhận nhiệm vụ BHXH) thông thường là cơ quan chuyên trách do Nhà
nước lập ra và bảo trợ. Bên được BHXH là người lao động và gia đình họ khi có đủ các
điều kiện ràng buộc cần thiết.
- Những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trong BHXH
có thể là những rủi ro ngẫu nhiên trái với ý muốn chủ quan của con người như: Ốm đau, tai
nạn lao động, bệnh nghề nghiệp…Hoặc cũng có thể là những trường hợp xảy ra không
hoàn toàn ngẫu nhiên như: Tuổi già, thai sản…Đồng thời những biến cố đó có thể diễn ra
cả trong và ngoài quá trình lao động.
- Phần thu nhập của người lao động bị giảm hoặc mất đi khi gặp phải những biến
cố, rủi ro sẽ được bù đắp hoặc thay thế từ một nguồn quỹ tiền tệ tập trung được tồn tích lại.
Nguồn quỹ này do các bên tham gia BHXH đóng góp là chủ yếu, ngoài ra còn được sự hỗ
trợ từ phía Nhà nước.
- Mục tiêu của BHXH là nhằm thoả mãn những nhu cầu thiết yếu của người lao
động trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập, mất việc làm. Mục tiêu này đã được tổ
chức lao động quốc tế (ILO) cụ thể hoá :
+ Đền bù cho người lao động những khoản thu nhập bị mất để đảm bảo nhu cầu
sinh sống thiết yếu của họ;
+ Chăm sóc sức khoẻ và chống bệnh tật;
+ Xây dựng điều kiện sống đáp ứng các nhu cầu của dân cư và các nhu cầu đặc biệt
của người già, người tàn tật và trẻ em.
Với những mục tiêu trên, BHXH đã trở thành một trong những quyền con người và
được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thừa nhận.
3. Đối tượng và chức năng của BHXH
3.1. Đối tượng của BHXH
BHXH ra đời vào những năm giữa thế kỷ 19, khi nền công nghiệp và kinh tế hàng
hoá đã bắt đầu phát triển mạnh ở các nước châu Âu. Tuy ra đời lâu như vậy, nhưng đối
tượng của BHXH vẫn có nhiều điểm chưa thống nhất, đôi khi còn có sự nhầm lẫn giữa đối
tượng BHXH với đối tượng tham gia BHXH.
BHXH là một hệ thống đảm bảo khoản thu nhập bị giảm hoặc bị mất đi do người
lao động bị giảm hoặc bị mất khả năng lao động, mất việc làm vì các nguyên nhân như ốm

8
Website: Email : Tel : 0918.775.368
4. Những nguyên tắc cơ bản của BHXH
BHXH phụ thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Điều này cũng có
nghĩa là khó có thể có những nguyên tắc chung thống nhất áp dụng cho mọi thời kỳ, mọi
quốc gia. Tuy nhiên BHXH cũng có những nguyên tắc hoạt động cơ bản:
- Nguyên tắc: “Số đông bù số ít”.
Đây là nguyên tắc bất di bất dịch của BHXH nói riêng và của bảo hiểm nói chung.
Nó được quán triệt trong quá trình lập quỹ dự trù và chi trả bảo hiểm.
- Nguyên tắc: “Đảm bảo mọi thành viên trong xã hội đều có quyền tham gia và
được hưởng quyền lợi từ BHXH”;
BHXH là một trong những quyền con người được Đại hội đồng Liên hợp quốc thừa
nhận và ghi trong tuyên ngôn nhân quyền ngày 10/12/1948 như sau: “Tất cả mọi người với
tư cách là thành viên của xã hội có quyền hưởng BHXH, quyền đó được đặt trên cơ sở sự
thoả mãn các quyền về kinh tế,xã hội và văn hoá, nhu cầu cho nhân cách và sự tự do phát
triển của con người”.
- Nguyên tắc: “ BHXH vừa mang tính bắt buộc, vừa mang tính tự nguyện”;
BHXH bắt buộc là cơ sở để tiến tới thực hiện BHXH toàn dân và tiến tới xây dựng
hệ thống chế độ BHXH tối ưu nhất. Tính bắt buộc được thực hiện trong các nghĩa vụ tham
gia và nghĩa vụ đóng góp, gồm mức đóng góp về tiền và thời gian cần thiết của việc tham
gia đối với từng chế độ BHXH cụ thể. Hơn nữa, tính bắt buộc này được thể hiện hoá ở hầu
hết các nước dưới hình thức các chính sách, chế độ BHXH, cụ thể là những quy định của
Chính phủ hay luật BHXH.
Tính tự nguyện trong BHXH chính là việc cho phép người lao động tham gia
BHXH có quyền lựa chọn hình thức và chế độ tham gia cho phù hợp với nhu cầu và khả
năng của bản thân.
- Nguyên tắc: “ Đảm bảo tính công bằng trong xã hội”;
Tính công bằng trong BHXH gồm công bằng trong cơ hội tham gia BHXH, trong tỷ
lệ hợp lý giữa mức đóng và mức hưởng, tất cả nhằm mục đích chủ yếu vì lợi ích của số
đông cộng đồng. Mặc dù vậy, tính công bằng tuyệt đối là không thể có vì BHXH còn hoạt

7. Trợ cấp sinh đẻ
8. Trợ cấp tàn tật
9. Trợ cấp tiền tuất
Chín chế độ trên hình thành một hệ thống các chế độ BHXH. Tuỳ điều kiện kinh tế
- xã hội mà mỗi nước tham gia công ước Giơnevơ thực hiện khuyến nghị đó ở mức độ
khác nhau, nhưng ít nhất phải thực hiện được 3 chế độ. Trong đó, ít nhất phải có một trong
năm chế độ: (3); (4); (5); (8); (9).
Hệ thống các chế độ BHXH có những đặc điểm chủ yếu sau:
+ Các chế độ được xây dựng theo luật pháp các nước;
SVTH: NguyÔn ThÞ HuyÒn Thu Líp: B¶o hiÓm 45B
10
Website: Email : Tel : 0918.775.368
+ Hệ thống các chế độ mang tính chất san sẻ rủi ro, chia sẻ tài chính;
+ Mỗi chế độ được chi trả đều căn cứ chủ yếu vào mức đóng góp của các bên tham
gia BHXH và quỹ dự trữ. Nếu quỹ dự trữ được đầu tư có hiệu quả và an toàn thì mức chi
trả sẽ cao và ổn định;
+ Phần lớn các chế độ là chi trả định kỳ;
+ Đồng tiền được sử dụng làm phương tiện chi trả và thanh toán. Chi trả BHXH
như là quyền lợi của mỗi chế độ BHXH;
+ Các chế độ BHXH thường được điều chỉnh định kỳ để phản ánh hết sự thay đổi
của điều kiện kinh tế - xã hội.
Toàn bộ hệ thống cũng như mỗi chế độ BHXH trong hệ thống trên khi xây dựng
đều phải dựa vào những cơ sở như: Cơ cấu ngành kinh tế quốc dân, tiền lương và thu nhập
của người lao động, hệ thống tài chính của quốc gia…Đồng thời tùy từng chế độ khi xây
dựng còn phải tính đến các yếu tố sinh học, yếu tố môi trường như: Tuổi thọ bình quân của
người lao động, nhu cầu dinh dưỡng, xác suất tai nạn lao động và tử vong, độ tuổi sinh đẻ
của lao động nữ, môi trường lao động…
II. LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUỸ BHXH
1. Khái niệm quỹ BHXH
Quỹ BHXH là quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài ngân sách Nhà nước. Quỹ

Mặc dù là một quỹ tài chính nhưng phục vụ cho mục tiêu xã hội, vì vậy quỹ BHXH
có những nét đặc trưng riêng khác với những loại quỹ tài chính khác.Cụ thể:
- Việc hình thành và sử dụng quỹ BHXH không vì mục tiêu lợi nhuận
Mục đích khi hình thành quỹ BHXH là nhằm huy động sự đóng góp của người lao
động,người sử dụng lao động, Nhà nước trong một số trường hợp và các nguồn thu hợp
pháp khác để có một lượng tiền đủ lớn, đảm bảo đủ chi trả các trợ cấp BHXH cho các
trường hợp bị giảm hoặc bị mất hẳn các khoản thu nhập thường xuyên từ lao động do gặp
phải những sự kiện hoặc những “rủi ro xã hội” đã nêu và những chi phí cho hoạt động
thường xuyên của bộ máy BHXH. Khác với bảo hiểm thương mại, trong kết cấu phí
BHXH không tính phần lợi nhuận của bên bảo hiểm (cơ quan BHXH). Trong tổng phí
BHXH chỉ bao gồm phí thuần và phụ phí (bao gồm quản lý phí và phí dự phòng - nếu có).
Trong quá trình sử dụng quỹ, các chi phí chi trả trợ cấp BHXH chiếm phần lớn trong tổng
chi, phần chi quản lý thường chỉ chiếm tỷ lệ rất thấp và những chi phí này là những chi phí
thực sự cần thiết đảm bảo cho cả hệ thống hoạt động bình thường.
- Quỹ BHXH vừa có tính chất hoàn trả vừa có tính chất không hoàn trả:
Tính hoàn trả thể hiện ở chỗ: người lao động vừa là đối tượng tham gia và đóng góp
BHXH, đồng thời họ cũng là đối tượng nhận trợ cấp, được chi trả từ quỹ BHXH cho dù
chế độ, thời gian trợ cấp và mức trợ cấp của mỗi người khác nhau tuỳ thuộc vào những
SVTH: NguyÔn ThÞ HuyÒn Thu Líp: B¶o hiÓm 45B
12
Website: Email : Tel : 0918.775.368
biến cố, rủi ro mà họ phải gặp, cũng như mức đóng góp và thời gian đóng góp BHXH của
họ.
Tính không hoàn trả thể hiện ở chỗ: cùng tham gia và đóng góp BHXH, nhưng có
người được hưởng trợ cấp nhiều lần và nhiều chế độ khác nhau, nhưng có những người
được ít lần hơn thậm chí không được hưởng. Chính từ đặc điểm này nên một số đối tượng
được hưởng trợ cấp từ quỹ BHXH thường lớn hơn nhiều so với mức đóng góp của họ và
ngược lại. Điều đó thể hiện tính chất xã hội của toàn bộ hoạt động BHXH.
- Quỹ BHXH có quá trình tích luỹ để bảo tồn giá trị và bảo đảm an toàn về tài
chính. Đặc trưng này xuất phát từ chức năng cơ bản nhất của BHXH là đảm bảo an toàn

hưởng trợ cấp BHXH theo quy định của pháp luật về BHXH và chi phí cho các hoạt động
nghiệp vụ BHXH. Như vậy, vai trò của quỹ BHXH được thể hiện ở những điểm sau:
Thứ nhất, đối với người lao động: người lao động khi tham gia BHXH, nếu gặp
những biến cố hay những “rủi ro xã hội” như thai sản, ốm đau, tai nạn lao động, thất
nghiệp …, thông qua hệ thống trợ cấp BHXH được nhận những khoản tiền bảo hiểm để
trang trải cho những chi phí do những biến cố hoặc rủi ro xã hội này gây ra. Ở đây, quỹ
BHXH có vai trò rất lớn là bù đắp hỗ trợ cho những thiếu hụt về thu nhập của người lao
động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập từ lao động nghề nghiệp do bị giảm hoặc mất thu
nhập từ lao động nghề nghiệp do bị giảm hoặc mất khả năng lao động do những biến cố
hoặc “rủi ro xã hội” nêu trên. Nói cách khác¸quỹ BHXH giữ vai trò góp phần đảm bảo an
toàn cho người lao động và gia đình họ. Tuy nhiên, mức độ đảm bảo thu nhập đến đâu và
được thực hiện như thế nào phụ thuộc vào khả năng thanh toán của quỹ BHXH và phụ
thuộc vào chính sách BHXH của quốc gia trong mỗi thời kỳ, trên cơ sở nguyên tắc trợ cấp
BHXH không được cao hơn so với tiền lương thu nhập từng nghề nghiệp trước khi nghỉ
hưởng trợ cấp BHXH, nhưng không được thấp hơn tiền lương tối thiểu do nhà nước quy
định. Nếu như quỹ BHXH thu được nhiều (thu đúng, thu đủ và đầu tư tăng trưởng tốt) và
số người bị rủi ro ít (số người thụ hưởng ít) thì mức độ đáp ứng của quỹ BHXH cao hơn.
Ngược lại, nếu như nguồn thu của quỹ thấp (thu không được đủ, đầu tư tăng trưởng quỹ
kém…)và số người bị rủi ro nhiều… thì mức độ đáp ứng của quỹ sẽ bị thấp đi. Tuy nhiên
như đã nêu ở trên, quỹ BHXH không chỉ là một quỹ xã hội, nên dù muốn hay không, trợ
cấp BHXH cũng phải đảm bảo ở mức độ nhất định cho người lao động. Đây là vai trò nổi
trội, hơn hẳn của quỹ BHXH so với các loại quỹ tài chính khác.
Thứ hai, đối với hệ thống BHXH: Để cả hệ thống BHXH hoạt động được bình
thường, các hoạt động nghiệp vụ và các hoạt động quản lý đòi hỏi phải có những chi phí
nhất định. Ở hầu hết các nước, các chi phí này tuỳ theo từng nước được tính bằng một tỷ lệ
nhất định trên tổng thu của quỹ BHXH, hoặc được ấn định bằng một mức nào đó trên cơ
sở những chi phí của những năm trước đó. Tuy nhiên, dù tính theo cách nào thì những chi
SVTH: NguyÔn ThÞ HuyÒn Thu Líp: B¶o hiÓm 45B
14
Website: Email : Tel : 0918.775.368

BHXH đã tham gia một cách đắc lực vào việc thực hiện các chính sách tiền tệ, giữ vững sự
ổn định tiền tệ và góp phần kiểm soát lạm phát.
SVTH: NguyÔn ThÞ HuyÒn Thu Líp: B¶o hiÓm 45B
15
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Vai trò đối với chính trị - xã hội:
Việc hình thành quỹ BHXH tạo ra hệ thống an toàn xã hội, thông qua quá trình
phân phối lại quỹ BHXH góp phần thực hiện mục tiêu đảm bảo an toàn xã hội về kinh tế
cho mọi thành viên trong xã hội.
4. Nguồn hình thành và sử dụng quỹ BHXH
4.1. Nguồn hình thành quỹ BHXH
Quỹ BHXH được hình thành chủ yếu từ các nguồn sau đây:
- Người sử dụng lao động đóng góp
- Người lao động đóng góp
- Nhà nước đóng và hỗ trợ thêm
- Các nguồn khác (như cá nhân và các tổ chức từ thiện ủng hộ, lãi do đầu tư phần
quỹ nhàn rỗi).
Phần lớn các nước trên thế giới, quỹ BHXH đều được hình thành từ các nguồn nêu
trên. Tuy nhiên, phương thức đóng góp và mức đóng góp của các bên tham gia BHXH có
khác nhau.
Về phương thức đóng góp BHXH của người lao động và người sử dụng lao động
hiện vẫn còn hai quan điểm. Quan điểm thứ nhất cho rằng, phải căn cứ vào mức thu nhập
cơ bản của người lao động được cân đối chung trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân để xác
định mức đóng góp.
Về mức đóng góp BHXH, một số nước quy định người sử dụng lao động phải chịu
toàn bộ chi phí cho chế đọ tai nạn lao động, Chính phủ trả chi phí y tế và trợ cấp gia đình,
các chế độ còn lại cả người lao động và người sử dụng lao động cùng đóng góp mỗi bên
một phần bằng nhau. Một số nước khác quy định, Chính phủ bù thiếu cho quỹ BHXH hoặc
chịu toàn bộ chi phí quản lý BHXH …
Mức đóng BHXH thực chất là phí BHXH, phí BHXH là yếu tố quyết định sự cân

Phí thuần tuý trợ cấp BHXH cho cả các chế độ ngắn hạn và dài hạn, ngoài ra phải
có phí dự phòng để đảm bảo quỹ BHXH có dự trữ đủ lớn.
4.2. Sử dụng quỹ BHXH
Quỹ BHXH được sử dụng chủ yếu để chi trả cho các mục đích sau đây:
- Chi trợ cấp cho các chế độ bh
- Chi phí cho sự nghiệp quản lý BHXH
- Chi đầu tư tăng trưởng quỹ BHXH.
Trong đó, chi trợ cấp BHXH theo các chế độ là lớn nhất và quan trọng nhất, khoản
chi này thường được thực hiện theo luật định và phụ thuộc vào phạm vi trợ cấp của từng
hệ thống BHXH. Về nguyên tắc, có thu mới có chi, thu trước chi sau. Vì vậy, quỹ chỉ chi
cho các chế độ trong phạm vi có nguồn thu. Thu ở chế độ nào thì chi ở chế độ đó.
Tuy nhiên, quá trình sử dụng quỹ BHXH mà phần sử dụng nhiều nhất là chi trả các
chế độ còn phụ thuộc vào việc thành lập quỹ BHXH theo phương thức nào:
- Nếu chỉ thành lập một quỹ BHXH tập trung thống nhất thì việc chi trả cũng phải
đảm bảo tính thống nhất theo các nội dung chi.
- Nếu quỹ BHXH được hình thành theo 2 loại: Quỹ BHXH ngắn hạn và quỹ BHXH
dài hạn thì việc chi trả và quản lý chi sẽ cụ thể hơn. Phương thức này đảm bảo cho công
tác chi trả sát thực tế và đúng mục đích hơn. Đồng thời tạo điều kiện cho mọi thành phần
kinh tế tham gia các chế độ BHXH dài hạn.
- Nếu quỹ BHXH được thành lập theo từng chế độ (còn gọi là quỹ BHXH thành
phần) thì việc chi trả sẽ càng trở nên đơn giản và đảm bảo đúng mục đích.
Nội dung chi trả: gắn liền với nội dung kinh tế - xã hội của từng chế độ hoặc từng
nhóm chế độ. Cụ thể:
SVTH: NguyÔn ThÞ HuyÒn Thu Líp: B¶o hiÓm 45B
17
Website: Email : Tel : 0918.775.368
+ Đối với chế độ hưu trí và tử tuất
Việc chi trả bắt nguồn từ việc bảo hiểm thu nhập cho người lao động bị già yếu hết
tuổi lao động và qua đời mà bất kỳ người lao động nào cũng phải trải qua. Muốn được chi
trả, người lao động và người sử dụng lao động phải tham gia đóng góp. Quyền lợi được

- Quỹ BHXH cá nhân (Quỹ BHXH tự nguyện).
Theo mô hình này, quỹ BHXH có nguồn hình thành duy nhất từ sự đóng góp của cá
nhân người tham gia BHXH.
Xét dưới góc độ hình thức tham gia thì quỹ BHXH có hai mô hình:
- Quỹ BHXH bắt buộc: Nhà nước ban hành chính sách, chế độ tạo lập và sử dụng
quỹ để bắt buộc một số đối tượng tham gia BHXH. Sự đóng góp của họ hình thành nên
quỹ BHXH bắt buộc.Đối tượng tham gia gồm người sử dụng lao động và người lao động.
- Quỹ BHXH tự nguyện: Trên cơ sở Nhà nước ban hành chính sách, chế độ tạo lập
và sử dụng quỹ để cho đối tượng được quyền tự lựa chọn tham gia phù hợp với điều
kiện và nhu cầu của họ. Ở mô hình này, đối tượng tham gia thường là cá nhân không
thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc hoặc là đối tượng tham gia BHXH bắt buộc
nhưng họ tham gia bổ sung để được hưởng quyền lợi ngoài chế độ BHXH bắt buộc.
Xét dưới góc độ thời gian hưởng chế độ BHXH thì quỹ có 2 mô hình:
- Quỹ BHXH ngắn hạn: Quỹ được hình thành từ sự đóng góp của đối tượng tham
gia BHXH, dùng để chi trả các chế độ BHXH ngắn hạn như: ốm đau, thai sản, nghỉ dưỡng
sức, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp hưởng một lần.
- Quỹ BHXH dài hạn: Quỹ được hình thành từ sự đóng góp của đối tượng tham gia
BHXH, dùng để chi trả các chế độ BHXH dài hạn như: Hưu trí, tử tuất, tai nạn lao động và
bệnh nghề nghiệp trả hàng tháng.
SVTH: NguyÔn ThÞ HuyÒn Thu Líp: B¶o hiÓm 45B
19
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Xét dưới góc độ cân đối thu - chi thì quỹ có 2 mô hình cơ bản:
- Mô hình toạ thu - toạ chi: Cân đối quỹ được xác định hàng năm, thu không đủ chi
thì Ngân sách Nhà nước cấp bù (giống như mô hình quỹ nước tha trước năm 1995)
- Mô hình tồn tích: Cân đối quỹ BHXH được xác định dài hạn; dựa vào các phương
pháp tính toán thống kê, xác suất theo quy luật số lớn để xác định tổng nguồn thu vào quỹ
BHXH và tổng số chi ra từ quỹ BHXH, để tính cân đối thu - chi dài hạn khoảng 10, 20 và
30 năm. Trong mô hình này có hai loại là tồn tích cá nhân và tồn tích cộng đồng. Với mô
hình tồn tích cá nhân thì mọi sự đóng góp của chủ sử dụng lao động, của người lao động,

Tốc độ tăng trưởng kinh tế của một quốc gia phản ánh khả năng tiết kiệm tiêu
dùng và đầu tư của Nhà nước, vì thế nếu quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn
định thì chắc chắn đời sống của người dân sẽ cao dần lên, tình hình sản xuất kinh doanh
của các doanh nghiệp gặp nhiều thuận lợi, là điều kiện để người lao động tham gia
BHXH được nhiều hơn, để các chủ doanh nghiệp sẵn sàng tham gia BHXH cho người lao
động và làm giảm tình trạng trốn đóng góp BHXH của họ. Thêm nữa, khi đời sống kinh
tế cao thì nhận thức của người lao động cũng cao lên, ngoài việc ý thức bảo đảm cuộc
sống hàng ngày cho bản thân và gia đình, họ còn mong muốn có khoản trợ giúp trong
tương lai khi không may gặp rủi ro xã hội khiến họ bị mất hoặc bị giảm thu nhập. Tất cả
những yếu tố trên tác động tích cực làm tăng thu BHXH.
- Mức chi trả các chế độ BHXH: Mức chi trả các chế độ BHXH phụ thuộc vào: số
lượng các chế độ BHXH được áp dụng, số người hưởng và tỉ lệ hưởng các chế độ BHXH.
Nếu một quốc gia triển khai và áp dụng nhiều các chế độ trong số 9 chế độ thì số
thu BHXH ngày càng lớn. Mặt khác, tỉ lệ hưởng càng cao có nghĩa là số tiền chi trả cho
các chế độ càng lớn, chính điều này đặt ra yêu cầu thu BHXH ngày càng chặt chẽ hơn để
tránh tình trạng mất cân đối quỹ BHXH. Khi tuổi nghỉ hưu càng tăng lên thì mức chi trả
lương hưu sẽ giảm, mức thu lại càng tăng nên sẽ giảm nguy cơ mất cân đối quỹ.
- Nguồn lãi từ hoạt động đầu tư quỹ BHXH: Nếu quỹ BHXH được thiết kế theo
mô hình toạ thu - toạ chi thì quỹ luôn được cân đối ngay trong năm và không có kết dư.
Nếu quỹ được thiết kế theo mô hình tồn tích thì hàng năm đều có kết dư, đây là nguồn vốn
rất quan trọng để đầu tư vào các lĩnh vực có độ rủi ro thấp. Nếu hoạt động đầu tư có hiệu
quả thì tiền lãi từ hoạt động này sẽ làm quy mô quỹ vững mạnh, đảm bảo cân bằng trong
thời gian dài.
7. Các nguyên tắc cân đối quỹ BHXH
Để quỹ BHXH tồn tại và hoạt động độc lập, về nguyên tắc quỹ phải được cân đối
có nghĩa là các khoản thu BHXH tối thiểu phải đảm bảo nhu cầu chi trả các chế độ BHXH
và chi quản lý bộ máy. Cân đối quỹ BHXH được hiểu là mối quan hệ tương đương về
lượng và sự bằng nhau giữa hai đại lượng thu - chi, ngoài ra cân đối quỹ BHXH còn thể
SVTH: NguyÔn ThÞ HuyÒn Thu Líp: B¶o hiÓm 45B
21

không sử dụng cho tiêu dùng, chỉ được sử dụng cho mục đích tăng trưởng quỹ BHXH.
III. VẤN ĐỀ ĐẦU TƯ QUỸ BHXH
SVTH: NguyÔn ThÞ HuyÒn Thu Líp: B¶o hiÓm 45B
22
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1. Sự cần thiết của đầu tư tăng trưởng quỹ BHXH
Trong hoạt động của quỹ BHXH, do tính đặc thù của quá trình thu - chi BHXH nên
quỹ BHXH luôn có một lượng tiền tạm thời nhàn rỗi, phần tiền này với tư cách là một bộ
phận tài chính cần phải được đem đầu tư. Có rất nhiều lý do dẫn đến cần phải đầu tư tăng
trưởng quỹ BHXH, nhưng chủ yếu là các lý do sau:
- Trong các nguồn thu của quỹ thì có một bộ phận được dụng ngay (cho các trợ cấp
BHXH ngắn hạn); nhưng phần lớn dùng để chi trả cho các trợ cấp BHXH dài hạn mà tính
từ khi đóng phải hàng chục năm sau mới phải chi (nếu chỉ tính riêng cho từng cá nhân).
Đối với những hệ thống BHXH trẻ (như Việt Nam), số người đóng góp hiện tại lớn hơn
nhiều so với số người hưởng BHXH hiện tại, thì số tiền chưa được dùng đến ngay rất lớn.
Đây được gọi là phần nhàn rỗi tương đối của quỹ BHXH. Theo quy luật tiền tệ, phần nhàn
rỗi của quỹ BHXH không được để đóng băng mà phải được đưa vào lưu thông, phải được
đầu tư để tránh những rủi ro về tiền tệ như lạm phát và các rủi ro khác. Do vậy, đầu tư
trước hết là để đảm bảo giá trị của phần vốn này, mặt khác phần sinh lời thực tế (sau khi đã
trừ đi lạm phát) sẽ làm tăng quy mô của quỹ BHXH, góp phần cải thiện cho các trợ cấp
ngắn hạn; đồng thời đảm bảo cho các hoạt động của BHXH được tốt hơn cả trong hiện tại
và tương lai.
- Do thiết kế kỹ thuật, có tính tới yếu tố thu nhập hiện thời của người lao động, nên
phí BHXH chỉ là phí tối thiểu. Nếu tính riêng cho một người lao động thì phần đóng góp
của họ không đủ chi trả cho họ từ sau khi nghỉ hưu cho đến khi chết. Vì vậy, trong kỹ thuật
tính phí BHXH phải dựa trên số đông bù số ít và có tính đến các yếu tố đầu tư. Do vậy, nếu
không đầu tư tăng trưởng quỹ thì quỹ BHXH không thể chi dùng đủ cho tương lai, trong
khi nhu cầu thụ hưởng của người lao động ngày càng cao theo thời gian.
- Là một bộ phận của tài chính quốc gia, muốn nền kinh tế tăng trưởng, cải thiện
đời sống chung cho nhân dân, các nguồn lực tài chính phải được huy động tối đa, do vậy

dùng để chi cho các chế độ BHXH theo quy định. Vì vậy, việc đầu tư của quỹ phải đảm
bảo yêu cầu thu hồi vốn thuận tiện, hết thời hạn đầu tư phải thu hồi được cả vốn và lãi, dễ
dàng chuyển đổi các nguồn vốn đem đầu tư thành tiền mặt khi cần.
- Hoạt động đầu tư tăng trưởng quỹ BHXH cũng phải tuân thủ yêu cầu khách quan
của các quy luật kinh tế trên thị trường vốn.
3. Nguyên tắc cơ bản đầu tư quỹ BHXH
Do quỹ BHXH có những đặc trưng riêng, khác với những tổ chức tài chính khác,
nên việc đầu tư tăng trưởng quỹ phải dựa trên những nguyên tắc cơ bản sau:
- Nguyên tắc: “Đảm bảo an toàn khi đầu tư”.
Mục tiêu hình thành quỹ BHXH là để góp phần đảm bảo an toàn thu nhập cho
người lao động và sâu sa hơn là đảm bảo an sinh xã hội cho dân cư. Vì vậy, an toàn là
SVTH: NguyÔn ThÞ HuyÒn Thu Líp: B¶o hiÓm 45B
24
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nguyên tắc hàng đầu trong việc đầu tư quỹ BHXH. Có thể nói, quỹ BHXH về bản chất là
tài sản của nhiều thế hệ lao động, luôn luôn gắn liền với đời sống của hàng triệu người
tham gia BHXH và gia đình họ. Quỹ BHXH được bảo toàn và tăng trưởng tốt sẽ đáp ứng
tốt hơn nhu cầu ngày càng tăng của người lao động tham gia BHXH và góp phần thực hiện
các mục tiêu kinh tế - xã hội của đất nước, góp phần ổn định và phát triển đất nước. Ngược
lại, nếu quỹ BHXH không được sử dụng đúng, không đảm bảo được giá trị, mất an toàn
( thâm hụt) thì đời sống của người tham gia và thụ hưởng sẽ bị ảnh hưởng đầu tiên; hậu
quả là sé dẫn đến rối loạn xã hội nghiêm trọng. Nhiều Chính phủ đã phải sụp đổ do những
vấn đề có liên quan đến lợi ích của người tham gia BHXH.
- Nguyên tắc: “khả năng thanh toán thường xuyên”.
Mục tiêu lập quỹ BHXH là để đáp ứng được những chi trả các trợ cấp BHXH ở bất
cứ thời điểm nào và ở bất cứ đâu. Nói cách khác, quỹ BHXH phải luôn ở chế độ sẵn sàng
có tiền để chi trả trợ cấp BHXH định kỳ hoặc đột suất. Chính vì vậy, phần chưa dùng đến
của quỹ BHXH mới được gọi là phần nhàn rỗi tương đối. Do đó, nguyên tắc cơ bản khi tổ
chức các hoạt động đầu tư của quỹ BHXH là dù đầu tư quỹ vào lĩnh vực nào, dưới hình
thức nào cũng phải đảm bảo khả năng chuyển đổi các tài sản đầu tư thành tiền và có thể


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status