Phần một. ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngày nay nhiều thành tựu khoa học và công nghệ xuất hiện một cách hết sức
bất ngờ và đổi mới cực kỳ nhanh chóng. Theo đó hệ thống giáo dục cũng đặt ra
những yêu cầu cần phải đổi mới.
Trước đòi hỏi của thực tiễn, nước ta đang trên con đường hội nhập và phát
triển thì đổi mới giáo dục, trong đó đổi mới phương pháp dạy học là hết sức cần
thiết. Trong luật giáo dục công bố năm 2005 có ghi “Phương pháp dạy học phổ
thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù
hợp với đặc điểm của từng lớp học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng
làm việc theo nhóm, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác
động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”.
Với sự phát triển như vũ bảo của công nghệ thông tin, học sinh có thể tiếp
nhận thông tin từ nhiều nguồn, nhiều kênh khác nhau. Các nguồn thông tin
phong phú, đa chiều đã đặt giáo dục trước yêu cầu cấp bách là cần phải đổi mới
cách dạy và học.
Công nghệ thông tin không chỉ có chức năng cung cấp thông tin mà còn là
công cụ hỗ trợ tích cực trong dạy và học, là phương tiện dạy học hiện đại, hữu
ích và hiệu quả.
Ngày nay học sinh thu lượm thông tin rất nhanh, mỗi học sinh có khả năng
tìm kiếm thông tin theo các cách khác nhau. Việc sử dụng công nghệ thông tin
vào dạy học sẽ làm cho học sinh có khả năng giải quyết vấn đề và xử lý nhiều
thông tin cùng một lúc.
Với những lý do trên, trong quá trình dạy học tôi đã sử dụng kỹ thuật sơ đồ
tư duy để dạy học cho học sinh và tôi đã lựa chọn đề tài sáng kiến kinh nghiệm
“Sử dụng sơ đồ tư duy kết hợp với một số phương tiện dạy học khác để dạy
một bài Địa lý lớp 12 trung học phổ thông”.
Phần hai. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN
Sơ đồ tư duy là một công cụ tổ chức tư duy, là con đường dễ nhất để
chuyển tải thông tin vào bộ não rồi đưa thông tin ra ngoài bộ não.
- Hiện nay, chúng ta thường ghi chép thông tin bằng các ký tự, đường
ra kết luận hoặc xây dựng mô hình về đối tượng cần nghiên cứu.
Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy và học sẽ mang lại hiệu quả cao, phát triển
tư duy lôgic, khả năng phân tích tổng hợp, học sinh hiểu bài, nhớ lâu, thay cho
ghi nhớ dạng thuộc lòng, học “vẹt”.
Ưu điểm của sơ đồ tư duy là:
- Dễ nhìn, dễ viết
- Kích thích hứng thú học tập và khả năng sáng tạo của học sinh
- Phát huy tối đa tiềm năng ghi nhớ của bộ não
- Rèn luyện cách xác định chủ đề và phát triển ý chính, ý phụ một cách
lôgic
2
Sự kết hợp giữa sơ đồ tư duy với một số phương tiện dạy học khác như
video, bản đồ… sẽ tạo cho giờ học đạt hiệu quả cao hơn, học sinh học tập
hứng thú hơn vì trong giờ học ngoài kiến thức học sinh được tiếp thu bằng sơ
đồ thông qua sơ đồ tư duy, học sinh còn được tiếp thu bài học thông qua các
hình ảnh và âm thanh sinh động của video.
II. THỰC TRẠNG DẠY HỌC ĐỊA LÝ TRONG TRƯỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HIỆN NAY.
Trong những năm vừa qua, cùng với quá trình đổi mới và sự phát triển của
đất nước, sự hội nhập của nước ta với các nước trên thế giới, ngành giáo dục
đã có những chuyển biến quan trọng.
Tất cả các bộ môn, tất cả các cấp học đều đã có sự đổi mới lớn trong
phương pháp dạy học theo hướng tích cực, thầy chủ đạo, học sinh chủ động
trong việc truyền tải và tiếp thu kiến thức.
Sự chuyển biến lớn nhất trong phương pháp giảng dạy những năm gần đây
là các thầy, cô giáo đã học hỏi, tìm tòi, nghiên cứu để áp dụng công nghệ thông
tin vào dạy học và đã tạo ra không khí học tập trong một giờ học sôi nổi và đạt
hiệu quả cao hơn.
Nhiều thầy, cô giáo đã kết hợp các phương pháp dạy học, kỹ năng dạy học
và các phương tiện dạy học phù hợp để giúp học sinh khai thác kiến thức một
Phần mềm sơ đồ tư duy và phần mềm để làm video chúng ta có thể tải trên
mạng về.
2. Tổ chức thực hiện:
a. Sử dụng Sơ đồ tư duy trong dạy học:
Sơ đồ tư duy tôi thường hay sử dụng để dạy học là “CDMindMap5pro”
- Cho học sinh làm quen với Sơ đồ tư duy bằng cách giới thiệu cho học
sinh một số “bản đồ” cùng với dẫn dắt của giáo viên để các em làm quen.
- Tập “đọc hiểu” bản đồ tư duy, sao cho chỉ cần nhìn vào bản đồ tư duy bất
kỳ học sinh nào cũng có thể thuyết trình được nội dung một bài học hay
một chủ đề, một chương theo mạch lôgic của kiến thức.
- Hướng cho học sinh có thói quen khi tư duy lôgic theo hình thức sơ đồ
hoá trên Bản đồ tư duy
- Từ một vấn đề hay chủ đề chính đưa ra các ý lớn thứ nhất, ý lớn thứ hai,
thứ ba mỗi ý lớn lại có các ý nhỏ liên quan với nó, mỗi ý nhỏ lại có các ý
nhỏ hơn các nhánh này như “bố mẹ” rồi “con, cháu, chắt, chút chít” các
đường nhánh có thể là đường thẳng hay đường cong
- Cho học sinh thực hành vẽ Bản đồ tư duy trên giấy: Chọn key words- tên
chủ đề hoặc hình vẽ của chủ đề chính cho vào vị trí trung tâm, chẳng hạn:
đường thẳng song song, hình bình hành, hình chữ nhật, bảo vệ môi
trường, để học sinh có thể tự mình ghi tiếp kiến thức vào tiếp các nhánh
“con”, “cháu”, “chắt” theo cách hiểu của các em.
- Vẽ Bản đồ tư duy theo nhóm hoặc từng cá nhân
Cách ghi chép trên Bản đồ tư duy:
- Nghĩ trước khi viết.
- Viết ngắn gọn
- Viết có tổ chức
- Viết lại theo ý của mình, nên chừa khoảng trống để có thể bổ sung ý (nếu
sau này cần)
4
Điều cần tránh khi ghi chép trên BĐTD:
và bản nhạc hoặc bài hát vào “ProShow Producer 5.0” theo hướng dẫn của
phần mềm này.
- Trong phần mềm “ProShow Producer 5.0”, chúng ta có thể chèn thêm
hoặc cắt bớt hình ảnh và có thể điều chỉnh để cắt bớt để lấy một đoạn nhạc hoặc
một đoạn bài hát, thì thời lượng trong một tiết học có hạn, không cho phép
chúng ta trình chiếu theo hết bài hát.
c. Sử dụng “PowerPoint” trong dạy học:
Việc sử dụng PowerPoint không nên sử dụng quá nhiều Slide, các Slide
được sử dụng chỉ để trình chiếu các hình ảnh, bản đồ, sơ đồ, lược đồ minh họa
cho bài giảng. Không nên trình chiếu tất cả những gì giáo viên nói ở trên bảng,
làm như thế bài học sẽ chuyển sang phương pháp đọc – chép.
IV. ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP
VÀO DẠY MỘT BÀI HỌC CỤ THỂ.
Trong phạm vi đề tài này, tôi sử dụng bài “Bài 11: Thiên nhiên phân hóa đa
dạng – Tiết 1” để dẫn chứng.
Nội dung của bài học này đề cập tới hai vấn đề lớn là: Thiên nhiên phân hóa
theo Bắc-Nam và Thiên nhiên phân hóa theo Đông-Tây.
Các kỹ thuật dạy học sử dụng trong bài này bao gồm: sơ đồ tư duy, video,
PowerPoint và bản đồ treo tường.
Các hình ảnh sử dụng trong video và trong PowerPoint là những hình ảnh về
cảnh quan thiên nhiên ở miền Bắc và miền Nam, ở sườn Đông và sườn Tây các
dãy núi, nhất là dãy Trường Sơn.
Các bài hát được sử dụng trong video là: Âm vang xứ Thanh (chỉ hát một
đoạn khi chào mừng các thầy, cô giáo vào dự giờ), Gửi nắng cho em và bài hát
Sợi nhớ sợi thương.
Phương pháp trình chiếu kết hợp giữa sơ đồ tư duy với video và PowerPoint:
mở sẵn phai của sơ đồ tư duy, video, PowerPoint và cho các phai đó nằm ẩn ở
thanh công cụ bên dưới, khi cần trình chiếu đến vấn đề gì thì bật phai đó lên
màn hình.
Bài giảng cụ thể:
- Phõn húa theo ụng-Tõy
- Phõn húa theo cao
- Phõn húa thnh cỏc min t nhiờn
Trong phm vi tit hc hụm nay, chỳng ta nghiờn
cu hai s phõn húa u tiờn ca thiờn nhiờn.
Hot ng 1:
Tỡm hiu thiờn nhiờn phn lónh th phớa Bc v
phn lónh th phớa Nam.
Giỏo viờn t cõu hi: Da vo kin thc ó hc
v khớ hu nc ta v bng s liu di õy, em hóy
gii thớch: ti sao thiờn nhiờn nc ta cú s phõn húa
theo Bc-Nam?
Giỏo viờn chiu bng S phõn húa nhit theo
mựa v theo v ca mt s a im t Bc vo
Nam t PowerPoint.
Hc sinh tr li v giỏo viờn kt lun:
1. Thiờn nhiờn phõn
húa theo Bc Nam.
Thiờn nhiờn nc ta
cú s phõn húa theo
Bc-Nam vỡ:
- T Bc vo Nam
nhit tng dn do gúc
nhp x tng
- Do nh hng ca
giú mựa ụng bc lm
gim nhit ca min
Bc v mựa ụng.
- S khỏc nhau v
nhit v biờn nhit
theo sơ đồ tư duy.
- Nhóm 1: trình bày đặc điểm thiên nhiên phần lãnh
thổ phía Bắc
- Nhóm 2: trình bày đặc điểm thiên nhiên phần lãnh
thổ phía Nam
độ làm cho khí hậu khác
nhau giữa miền Bắc với
miền Nam, từ đó làm
cho thiên nhiên cũng
khác nhau giữa hai
miền.
a. Phần lãnh thổ phía
Bắc:
(Xem sơ đồ tư duy-Sơ
đồ Miền Bắc)
b. Phần lãnh thổ phía
Nam:
(Xem sơ đồ tư duy-Sơ
đồ Miền Nam)
8
9
Hoạt động 2:
Tìm hiểu sự phân hóa của thiên nhiên theo
Đông-Tây.
Giáo viên đặt câu hỏi: Dựa vào bản đồ tự nhiên và
kiến thức đã học về địa hình, khí hậu nước ta, em hãy
giải thích: tại sao thiên nhiên nước ta có sự phân hóa
theo Đông-Tây?
Giáo viên cho học sinh thảo luận và phát biểu
chắn gió mùa.
a. Vùng biển và thềm
lục địa:
Đặc điểm:
- Diện tích vùng biển
khoảng 1 triệu km
2
, gấp
gần 3 lần phần đất liền.
- Độ nông-sâu, rộng-
hẹp của thềm lục địa có
liên quan với đồng bằng
và vùng đồi núi kề bên.
- Thiên nhiên vùng
biển đa dạng và giàu có.
10
Hoạt động theo nhóm:
Nội dung các nhóm dựa vào kiến thức trong sách
giáo khoa, bản đồ tự nhiên trên bảng và những hình
ảnh trình chiếu từ PowerPoint và video để vẽ sơ đồ
về vùng đồng bằng ven biển và vùng đồi núi.
Giáo viên chia lớp thành 4 nhóm:
- Nhóm 1+2: vẽ sơ đồ về đặc điểm thiên nhiên giữa
đồng bằng Bắc Bộ, đồng bằng Nam Bộ với đồng
bằng ven biển miền Trung.
- Nhóm 3+4: Vẽ sơ đồ về đặc điểm thiên nhiên giữa
vùng núi Đông Bắc, vùng núi Tây Bắc, vùng núi
đông Trường Sơn và Tây Trường Sơn (chủ yếu là
vùng Tây Nguyên)
Thời lượng: 4 phút.
a. Vùng Đông Bắc có mùa đông lạnh đến sớm
b. Vùng Tây Bác có nhiều đai khí hậu nhất nước ta
c. Khí hậu Tây Nguyên khô hạn gay gắt vào mùa hạ
d. Sườn Đông dãy Trường Sơn mưa vào mùa hạ
2. Đặc điểm thiên nhiên phần lãnh thổ phía Nam nước ta là:
a. Nóng quanh năm, chia thành mùa mưa, mùa khô rõ rệt
b. Có mùa đông lạnh, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của gió mùa đông bắc
c. Mang tính nhiệt đới gió mùa hải dương
E. HOẠT ĐỘNG NỐI TIẾP
1. Dựa vào sơ đồ tư duy, các em về nhà phân tích sơ đồ từ đó so sánh để rút
ra những điểm khác nhau về đặc điểm thiên nhiên của phần lãnh thổ phía Bắc
với phần lãnh thổ phía Nam và trình bày đặc điểm thiên nhiên của vùng biển
và thềm lục địa, vùng đồng bằng ven biển và vùng đồi núi.
2. Về nhà làm bài tập số 1 trong sách giáo khoa trang 50.
V. KIỂM NGHIỆM:
Trong quá trình dạy học, tôi đã tìm tòi, nghiên cứu và áp dụng nhiều phương
pháp vào dạy học. Khi sử dụng Sơ đồ tư duy vào dạy học, tôi đã thử nghiệm
hiệu quả giảng dạy bằng kỹ thuật dạy học này.
Tôi đã thử nghiệm ở 2 lớp 12 là lớp 12A2 và lớp 12A3:
- Ở lớp 12A2 tôi sử dụng phương tiện dạy học là PowerPoint kết hợp với một
số phương tiện dạy học khác.
- Ở lớp 12A3 tôi sử dụng Sơ đồ tư duy kết hợp với các phương tiện dạy học
như đã trình bày ở trên.
Cả 2 lớp đều dạy bài “Thiên nhiên phân hóa đa dạng (Tiết 1)”. Sau bài học
tôi đều cho cả 2 lớp làm một bài kểm tra ngắn với nội dung câu hỏi: Tại sao
thiên nhiên nước ta có sự phân hóa theo Bắc – Nam? So sánh đặc điểm thiên
nhiên phần lãnh thổ phía Bắc với phần lãnh thổ phía Nam.
Kết quả:
- Lớp 12A2 có 36/45 học sinh trả lời được và đạt từ 5 điểm trở lên, chiếm
80%, trong đó loại khá: 7 em chiếm 15,6%.
3 I. Cơ sở lý luận 1
4 II. Thực trạng dạy học địa lý trong trường THPT hện nay 3
5 III. Giải pháp và tổ chức thực hiện 4
6 IV. Áp dụng phương pháp vào dạy một bài cụ thể 6
7 Bài giảng cụ thể: Bài 11. Thiên nhiên phân hóa đa dạng-Tiết 1 6
8 V. Kiểm nghiệm 11
9 Phần ba. Kết luận 11
10 Mục lục 15
15