Lịch sử Việt Nam 1930 1945
1. Phong trào cách mạng Việt Nam trong thời kỳ 1930 1935.
1.1. Thời kỳ 1930 1931.
1.1.1. Phong trào cách mạng trên toàn quốc
- Hoàn cảnh lịch sử:
Năm 1930 có 2 biến cố lớn: cuộc bạo động Yên Bái của Việt Nam Quốc dân
Đảng (9.2.1930) nổ ra và bị dập tắt, chấm dứt hẳn sự chi phối của hệ t tởng t
sản đối với cuộc vận động cách mạng Việt Nam; Đảng cộng sản Việt Nam ra
đời đánh dấu bớc ngoặt vĩ đại, từ đó giai cấp công nhân Việt Nam nắm quyền
lãnh đạo cách mạng đa quần chúng lao động bị áp bức bóc lột và các tầng lớp
yêu nớc ra đấu tranh, thực hiện cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân.
Cuộc khủng hoảng kinh tế của thế giới CNTB 1929 1933, trong đó có
Pháp đã tác động sâu sắc đến kinh tế Đông Dơng, đẩy hàng vạn công nhân
vào con đờng thất nghiệp, nông dân điêu đứng vì su cao thuế nặng, giai cấp t
sản, tiểu t sản cũng lao đao. Nạn thiên tai thờng xuyên hoành hành khiến cho
đời sống nhân dân vô cùng cực khổ.
Sự bóc lột kinh tế, chế độ chính trị nghẹt thở và sự đàn áp dã man của thực
dân Pháp càng làm tăng thêm lòng căm phẫn của nhân dân ta. Đói khổ và hờn
căm đã làm cho nhân dân Việt Nam, đặc biệt là công nhân và nông dân sẵn
sàng vùng dậy đấu tranh. Trong khi đó tiếng vang của cách mạng ở Trung
Quốc, ấn Độ, của chế độ CNXH ở Liên Xô đã cổ vũ thêm tinh thần đấu
tranh của nhân dân ta.
Đó chính là những nguyên nhân làm bùng nổ phong trào công nông ở Việt Nam
những năm 1930 1931. Trong đó, yếu tố quyết định nhất làm nảy sinh phong
trào cách mạng là sự ra đời và lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam (sau đổi
thành Đảng Cộng sản Đông Dơng). Phong trào đó là kết quả của những mâu
thuẫn kinh tế, chính trị trong lòng xã hội Việt Nam; Đảng Cộng sản Đông Dơng
đã phát động quần chúng đứng lên giải quyết mâu thuẫn đó.
- Diễn biến chính:
Mở đầu là hàng loạt cuộc đấu tranh của công nhân các nhà máy ximăng Hải
Phòng, dệt Nam Định, hãng dầu Xôcôni Nhà Bè (SG), đồn điền cao su Dầu
Những ngày tháng 8.1930 khí thế của quần chúng đợc cổ vũ thêm bằng
khẩu hiệu kỷ niệm ngày quốc tế chống đế quốc, chống chiến tranh, ủng hộc
Liên bang Xô viết. Truyền đơn xuất hiện ở hầu hết các thành phố lớn trong cả
nớc nh Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn, trong các trại lính Pháp. Các cuộc
biểu tình tái diễn ở Vĩnh Long, Trà Vinh, Sa Đéc, Long Xuyên,
Tháng 10.1930, ở Quảng Ngãi những cuộc biểu tình của nông dân liên tiếp
nổ ra. Cũng trong thời gian này những ngời cộng sản ở Bắc Kỳ đã vận động
một cuộc đấu tranh mới với khẩu hiệu phản đối Hội đồng đề hình cùng các án
xử tử những chiến sĩ cách mạng. Truyền đơn, biểu ngữ, cờ đỏ đợc rải, đợc treo
ở khắp nơi. Đồng thời là các cuộc nổi dậy của quần chúng ở Đình Vụ (Kiến
An), Tiền Hải (Thái Bình), Phủ Lý Trong dịp kỷ niệm Cách mạng tháng Mời
Nga, chiều ngày 6.11.1930 đã xuất hiện cờ đỏ ở nhà máy nớc Hàng Đậu
(HN), truyền đơn đợc rải khắp thành phố.
Bớc sang năm 1931, do chính quyền thực dân khủng bố, phong trào giảm sút
mạnh. Tuy vậy ở Nam Bộ dân chúng vẫn sôi sục đấu tranh. Suốt trong tháng
1- 1931, công nhân Hãng dầu Xtanđa Nhà Bè, công nhân Nhà in Văn Võ Văn
ở Sài Gòn, công nhân Sở Xen Mỹ Tho, công nhân hãng FACM Sài Gòn đã tổ
chức bãi công, mít tinh, biểu tình. Nông dân các tỉnh Bến Tre, Trà Vinh, Thủ
Dầu Một, Gia Định đòi cải thiện đời sống.
Từ tháng 2 đến tháng 4- 1931 các cuộc biểu tình của nông dân nổ ra ở Bạc
Liêu, Bến Tre, Long Xuyên. Nhân ngày 1-5-1931 nông dân nổi dậy ở Thạch
Phú (Bến Tre), Đức Hoà (Chợ Lớn), Châu Đốc. Công nhân Nhà bè (SG) vùng
dậy trong 2 ngày 16 và 24.3.1931.
Trong các tháng 4 và 5.1931, phong trào đấu tranh ở Quảng Ngãi tiếp tục
dâng cao. Nhân dân các tỉnh lân cận nh Đà Lạt, Khánh Hoà, Bình Định cũng
nổi dậy hởng ứng. Riêng ở Bắc Kỳ, từ đầu năm 1931 phong trào lắng dần.
Những đợt sóng dâng lên ở Hải Phòng, Hà Nội từ 23 đến 27.1.1931 là những
đợt sóng đấu tranh cuối cùng trớc khi bớc vào thoái trào.
1.1.2. Cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh
sản sinh ra những ngời con kiệt xuất nh Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu,
Nguyễn ái Quốc Truyền thống cách mạng đó và sự nghèo khổ đến cực
độ của công nhân và nông dân đã khiến cho Nghệ Tĩnh nh một đống cỏ
khô, chỉ chờ có lửa là bốc cháy, nhất là từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra
đời.
Yếu tố quyết định làm cho những điều kiện trên biến thành hiện thực cách
mạng chính là sự phát triển mạnh mẽ của các tổ chức cộng sản ở Nghệ
Tĩnh từ những năm 1925 1926. Sự chú ý đặc biệt của đảng đối với Nghệ
- Tĩnh và tình hình cơ sở đảng nơi đây phát triển khá mạnh, là điều kiện
quyết định trực tiếp nhất cho sự bùng nổ cao trào cách mạng ở 2 tỉnh này.
Năm 1931, Nghệ Tĩnh có 2011 đảng viên, 399 hội viên công hội, 48464
hội viên nông hội, 6648 hội viên phụ nữ giải phóng và 2356 đoàn viên
thanh niên cộng sản.
Tóm lại, Nghệ Tĩnh năm 1930 1931 là điểm nóng nhất, là khâu mạnh nhất
của cách mạng nớc ta.
- Diễn biến:
Phong trào đấu tranh năm 1930 ở Nghệ Tĩnh đợc mở đầu bằng cuộc biểu
tình kỷ niệm ngày 1.5 tại khu vực Vinh Bến Thuỷ. Công nhân các nhà máy
xe lửa Trờng Thi, diêm, ca, nhà máy điện và nông dân các huyện Hng Nguyên,
Nghi Lộc đã sát cánh bên nhau đấu tranh.
Sau ngày 1.5, tại các vùng nông thôn nh Nghi Lộc, Anh Sơn, Nam Đàn,
Quỳnh Lu, Đô Lơng những cuộc biểu tình của nông dân diễn ra thờng xuyên.
Tiêu biểu là cuộc đấu tranh của 300 nông dân huyện Quỳnh Lu ngày 20.6 đòi
quyền lợi cho những ngời làm muối. Trong 2 tháng 6 và 7.1930 ở Nghệ Tĩnh đã
nổ ra 11 cuộc biểu tình lớn, với số lợng trên 12 ngàn ngời tham gia. Tại 2 địa ph-
ơng trên cũng xuất hiện nhiều tổ chức quần chúng nh công hội, nông hội, hội phụ
nữ giải phóng, thanh niên phản đế, hội cứu tế đỏ và các đội tự vệ.
Sang tháng 8, dân chúng không chỉ có đa đơn thỉnh cầu hay yêu sách mà
còn có cả những cuộc đập phá công đờng, sở rợu, dùng áp lực buộc bọn quan lại
sở tại phải hứa thực hiện đời hỏi của nhân dân đã diễn ra ở Nam Đàn, Can Lộc
quốc.
Sau ngày 12.9.1930, phong trào đấu tranh tiếp tục dâng cao, phát triển
thành cuộc đấu tranh vũ trang, làm cho hệ thống chính quyền đế quốc, phong
kiến bị tê liệt và tan rã nhiều nơi. Nhiều tri phủ, tri huyện bỏ trốn, nhiều hào lý
mang trả lại triện cho tri huyện xin thôi việc Thực dân Pháp đã tập trung lực l-
ợng, dùng khủng bố trắng kết hợp với các thủ đoạn dụ dỗ, mua chuộc hòng bóp
chết phong trào.
Trớc tình hình chính quyền địch tan rã, mặc dù Trung ơng Đảng cha có
chủ trơng giành chính quyền lúc này, các chi bộ đảng và Nông hội đỏ đứng trớc
nhiệm vụ thực tế là phải quản lý, điều hành hoạt động trong làng xã. Mô hình
Chính quyền xô viết Nga mà những ngời cộng sản Việt Nam tiếp thu đợc qua
sách báo, tài liệu huấn luyện đợc áp dụng, hình thức chính quyền mới lần đầu
tiên xuất hiện ở Việt Nam: Xô viết Nghệ Tĩnh (Thực tế, những năm 1930
1931, nhân dân Nghệ Tĩnh không gọi chính quyền cách mạng bằng từ Xô viết. Về
sau, căn cứ vào hoạt động và chức năng của chính quyền đó mà sử dụng khái
niệm Xô viết để gọi). Tuy còn thô sơ, nhng nó đã thực hiện chức năng của một
chính quyền do giai cấp vô sản lãnh đạo:
Tại Nghệ An, chính quyền Xô viết ra đời tại các xã thuộc huyện Thanh Ch-
ơng, Nam Đàn, Anh Sơn, Nghi Lộc, Hng Nguyên và Diễn Châu. Tại Hà Tĩnh,
chính quyền Xô viết hình thành ở các xã thuộc huyện Can Lộc, Đức Thọ, Thạch
Hà, Nghi Xuân và Hơng Khê.
o Chính quyền Xô viết ban bố và thực hiện các quyền tự do dân chủ cho
nhân dân. Quần chúng đợc tự do tham gia các hoạt động đoàn thể nh
Nông hội, đội tự vệ, đoàn thanh niên cộng sản, phụ nữ giải phóng, hội
cứu tế đỏ tự do hội họp, thảo luận giải quyết các vấn đề xã hội.
o Về kinh tế, chính quyền Xô viết tịch thu ruộng đất, tiền thóc công chia
cho dân nghèo; bãi bỏ các thứ thuế vô lý của chính quyền thực dân nh
4
thuế thân, thuế chợ, thuế đò, chú ý đến công tác đắp đê, phòng lụt, tu
sửa cầu cống, đờng giao thông, tổ chức nhiều hình thức sản xuất để
ở nớc ngoài Nguyễn ái Quốc theo dõi sát sao tình tình diễn biến phong
trào đấu tranh ở trong nớc. Ngời gửi báo cáo tới Quốc tế cộng sản và Quốc tế
nông dân đề nghị giúp đỡ, ủng hộ cách mạng Việt Nam. Ngời gửi th cho Đảng
Cộng sản Đông Dơng nhấn mạnh việc tăng cờng công tác xây dựng Đảng về
chính trị, t tởng và tổ chức, xây dựng các đoàn thể quần chúng nh Công hội,
Nông hội; tăng cờng khối liên minh công nông; chỉ rõ những thiếu sót, khuyết
điểm của Đảng trong quá trình lãnh đạo phong trào.
Qua mấy tháng khủng bố trắng điên cuồng, thực dân Pháp đã không dập
tắt đợc phong trào, trái lại càng gieo rắc thêm sự oán giận, căm thù. Chúng đã
dùng một chính sách hết sức dã man, tàn bạo trên cơ sở khủng bố trắng, đồng
thời tăng cờng mọi thủ đoạn dụ dỗ, lừa bịp chính trị hòng bóp chết Xô viết Nghệ
Tĩnh. Song song với việc lập thêm các đồn binh, cuối năm 1930 đầu năm 1931,
chính quyền thực dân đề ra chính sách dụ hàng, phát thẻ quy thuận kêu gọi đầu
thú, tổ chức rớc cờ vàng nhằm chia rẽ và đánh vào tâm lý cầu an của dân
chúng. Đồng thời chúng hứa hẹn một loạt các cải cách về kinh tế nhằm xoa dịu
khí thế đấu tranh của nhân dân .
Mặc dù tích cực đấu tranh chống mọi thủ đoạn của địch nhng do điều kiện
khách quan bất lợi về nhiều mặt nên phong trào ở Nghệ Tĩnh dần dần đi xuống.
Đặc biệt tới tháng 3 - 1931, khi cơ quan TW Đảng ở Sài Gòn bị phá vỡ, và tháng
4,5 - 1931 nhiều đồng chí trong xứ uỷ, tỉnh uỷ, huyện uỷ bị bắt, cán bộ bị thiếu.
Việc hớng dẫn chỉ đạo do đó không sát hợp, nhiều địa phơng đi chệch chủ trơng.
5
Tình hình trên diễn ra đúng vào lúc nạn đói hoành hành. Trớc cuộc khủng bố của
địch, chính quyền Xô viết đến lúc không thể tồn tại đợc nữa và đến khoảng giữa
năm 1931, phong trào bị thất bại.
- Kết quả, ý nghĩa lịch sử, bài học kinh nghiệm
+ Kết quả, ý nghĩa: Xô viết Nghệ Tĩnh có một vị trí lịch sử vô cùng quan
trọng trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp ở nớc ta.
Trong phong trào này, lần đầu tiên dới sự lãnh đạo của Đảng đã xây dựng đợc
khối liên minh công nông chặt chẽ do giai cấp công nhân lãnh đạo.
tiến thoái không nhịp nhàng, đúng lúc.
Xô viết Nghệ Tĩnh là thành quả tất yếu của tiến trình đấu tranh giai cấp
của công nhân và nông dân từ tay không đứng lên tự giải phóng. Nó cũng chứng
tở rằng dới sự chỉ đạo của Đảng, công nhân và nông dân là 2 lực lợng chủ yếu
của cách mạng Việt Nam có khả năng lật đổ nền thống trị của đế quốc và phong
kiến, xây dựng một cuộc sống mới.
+Bài học kinh nghiệm: Tuy cha giành đợc thắng lợi nhng phong trào cách
mạng 1930 1931 mà đỉnh cao là Xô viết Nghệ Tĩnh đã đem lại cho Đảng ta
nhiều bài học quý báu, đã rèn luyện lực lợng cho cách mạng Tháng Tám sau
này.
Kinh nghiệm lịch sử của phong trào cách mạng 1930 1931 đã đợc Đảng
ta tổng kết: Thành quả lớn nhất của phong trào 1930 1931 thành quả mà
cuộc khủng bố trắng tàn khốc của đế quốc và phong kiến sau đó đã không thể
xoá nổi là chỗ nó khẳng định trong thực tế quyền lãnh đạo và năng lực lãnh
đạo cách mạng của giai cấp vô sản mà đại biểu là Đảng ta, là ở chỗ nó đem lại
6
cho nông dân niềm tin vững chắc vào giai cấp vô sản; đồng thời đem lại cho đông
đảo quần chúng công nông lòng tin ở sức lực cách mạng vĩ đại của mình Đó là
bớc thắng lợi đầu tiên có ý nghĩa quyết định đối với toàn bộ tiến trình phát triển
về sau của cách mạng. Trực tiếp mà nói, không có những trận chiến đấu giai cấp
rung trời chuyển đất những năm 1930 1931, trong đó công nông đã vung ra
nghị lực phi thờng của mình thì không thể có cao trào những năm 1936
1939.
Phong trào cách mạng 1930 1931 là cuộc diễn tập đầu tiên của Đảng và
quần chúng cách mạng chuẩn bị cho cuộc tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945.
Phong trào cách mạng 1930 1931 và Xô viết Nghệ Tĩnh đợc đánh giá
cao trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Quốc tế cộng sản đã khẳng
định: Phong trào cách mạng bồng bột trong cả xứ Đông Dơng đã góp phần tăng
thêm ảnh hởng cộng sản trong cái xứ thuộc địa, nhất là các nớc phơng Đông.
Trong phiên họp ngày 11.4.1931, Hội nghị toàn thể lần thứ 11 của Ban chấp hành
tranh mới.
Tuy nhiên, lúc đó tình hình thế giới và trong nớc đã có nhiều thay đổi,
Đảng phải kịp thời căn cứ vào sự phát triển của cách mạng để đề ra phơng hớng
hoạt động thích hợp. Nhng đại hội lại cha tổng kết đợc kinh nghiệm lãnh đạo của
Đảng trong 5 năm qua kể từ khi Đảng thành lập, nhất là trong thời kỳ đấu tranh
khôi phục và phát triển phong trào cách mạng. Thiếu sót của đại hội là không
nhạy cảm với tình hình mới, không thấy rõ nguy cơ CNPX trên thế giới và khả
năng mới để đấu tranh chống phát xít, chống bọn phản động thuộc địa, đòi tự do,
cơm áo, hoà bình. Do đó, đại hội không đề ra đợc những chuyển hớng về chỉ đạo
7
chiến lợc và biện pháp phù hợp với tình hình mới. Thiếu sót này sẽ đợc Ban chấp
hành Trung ơng khắc phục sau khi có Nghị quyết Đại hội VII của Quốc tế Cộng
sản.
2. Phong trào dân chủ 1936 1939.
2.1.Tình hình thế giới và trong nớc trong những năm 1936 1939.
- Tình hình thế giới:
+ Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 1933 đã tác động nặng nề
đến nhiều nớc TBCN, mâu thuẫn trong lòng mỗi nớc t bản và mâu thuẫn giữa các
nớc đế quốc ngày càng gay gắt. Trong khi đó, Liên Xô - nớc XHCN đầu tiên trên
thế giới đang trên đà phát triển. Hình ảnh đất nớc Xô viết đã và đang trở thành
niềm cổ vũ lớn lao đối với các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Phong trào cách
mạng và giải phóng dân tộc bùng nổ ở nhiều nớc. Trớc tình hình đó, giới cầm
quyền ở một số nớc t bản đã đối phó bằng cách đa đất nớc vào con đờng phát xít
hoá, chúng chuyển toàn bộ nền kinh tế phục vụ cho chiến tranh, thi hành những
chính sách mị dân kết hợp sử dụng bạo lực đàn áp lực lợng tiến bộ trong nớc và
những ngời chống đối, gieo rắc t tởng sôvanh, phân biệt chủng tộc. Chúng chuẩn
bị tiến hành chiến tranh để nô dịch, cớp bóc các dân tộc khác. Thế lực của bọn
phát xít ngày càng bành trớng. CNPX hình thành đầu tiên ở Italia (1922), Đức
(1933) và Nhật (1932), chúng liên kết với nhau thành một khối. Ngày
trọng nh ở Trung Quốc, Tây Ban Nha đã khẳng định tính đúng đắn của Nghị
quyết Đại hội VII QTCS.
8
+ Đầu năm 1936, Mặt trận nhân dân Pháp thành lập (bao gồm ĐCS, ĐXH,
Đảng cấp tiến, Tổng liên đoàn lao động và các đoàn thể quần chúng của 3 Đảng
trên). Tháng 5.1936, MTND Pháp giành thắng lợi trong cuộc tổng tuyển cử và
đứng ra lập nội các mới do lãnh tụ ĐXH Lêông Blum làm Thủ tớng. Chính phủ
này vẫn nằm trong khuôn khổ chính quyền t sản, vẫn duy trì hệ thống thuộc địa
nh cũ nhng trớc sự đấu tranh của ĐCS và cao trào chống phát xít của nhân dân,
chính phủ Blum đã buộc phải thi hành một số điểm mà cơng lĩnh của MTND đề
ra. Đối với thuộc địa, chính phủ Pháp có 3 quyết định quan trọng: thả tù chính trị,
thành lập uỷ ban điều tra tình hình thuộc địa đặc biệt ở Bắc Phi và Đông Dơng,
thi hành một số cải cách xã hội cho ngời lao động.
Cùng trong thời gian này, cuộc đấu tranh của nhân dân các nớc thuộc địa
Pháp có những dấu hiệu mới, đặc biệt là ở Angiêri, Tuynidi, Marôc trở thành
nguồn cổ vũ lơn lao cho nhân dân thuộc địa Đông Dơng.
- Tình hình trong nớc:
+ Kinh tế: do chính sách cai trị của thực dân Pháp, tình hình kinh tế có
những thay đổi đáng kể. Những năm 1936 1939 là thời kỳ phục hồi và phát
triển của kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, sự phát triển đó tập trung vào một số
ngành kinh doanh các hàng chiến lợc, đáp ứng cho nhu cầu chiến tranh. Trong
thời kỳ này không xuất hiện những ngành kinh tế mới, nền kinh tế Việt Nam vẫn
ở trong tình trạng phụ thuộc, lạc hậu.
+ Xã hội: do chính sách thuế khoá nặng nề, cộng thêm vào đó là sự bóc lột
ngày càng tàn tệ của thực dân Pháp, tình cảnh các giai cấp, tầng lớp trong xã hội
gặp rất nhiều khó khăn. Năm 1929, ở Việt Nam có 22,1 vạn công nhân nhng
phần lớn thất nghiệp hoặc không đợc tuyển dụng vào các cơ sở kinh tế. Đến năm
1937 mới chỉ có 15 vạn công nhân có việc làm. Lơng của công nhân trong những
năm 1936 1939 thấp hơn thời kỳ đầu khủng hoảng. Trong khi đó giá sinh hoạt
lại tăng vọt, mức sống của những ngời làm công ăn lơng giảm sút nghiêm trọng.
nhiên chỉ có Đảng Cộng sản Đông Dơng là đảng mạnh nhất, có tổ chức chặt chẽ,
có cơ sở quần chúng, có chủ trơng đờng lối rõ ràng. Tháng 7 1936, Hội nghị
Ban chấp hành TƯ Đảng Cộng sản Đông Dơng do Lê Hồng Phong, uỷ viên BCH
QTCS chủ trì đã họp tại Thợng Hải (TQ). Hội nghị dựa trên những luận điểm cơ
bản của Nghị quyết đại hội VII QTCS, căn cứ vào tình hình cụ thể của Việt Nam
để định ra đờng lối và phơng pháp đấu tranh thích hợp. Nghị quyết hội nghị đã
đề cập tới một số vấn đề cơ bản sau đây:
Nhiệm vụ chiến lợc của CMTSDQ là chống đế quốc và phong kiến, nhng
để phù hợp với tình hình mới, Đảng xác định mục tiêu trực tiếp, trớc mắt là
đấu tranh chống chế độ phản động thuộc địa, chống phát xít và chiến
tranh, đòi tự do dân chủ, cơm áo hoà bình. Kẻ thù chủ yếu trớc mắt của
nhân dân Đông Dơng là bọn phản động thuộc địa và bè lũ tay sai của
chúng.
Về khẩu hiệu đấu tranh, tạm thời cha nêu đánh đổ đế quốc Pháp và tịch
thu ruộng đất của địa chủ chia cho dân cày mà nêu tự do dân chủ, cơm
áo hoà bình
Về tổ chức, chủ trơng thành lập MTTNND phản đế Đông Dơng bao gồm
các giai cấp, đảng phái dân tộc, tổ chức chính trị, xã hội và tôn giáo khác
nhau.
Về phơng pháp đấu tranh, kết hợp các hình thức công khai và bí mật, hợp
pháp và bất hợp pháp.
Những nội dung cơ bản của Nghị quyết Hội nghị BCHTW Đảng tháng 7.1936 đ-
ợc bổ sung, phát triển thêm trong các Hội nghị BCHTW Đảng năm 1937 và
1938. Tại HN BCHTW Đảng tháng 3.1938, Mặt trận thống nhất nhân dân phản
đế Đông Dơng đổi thành Mặt trận thống nhất dân chủ Đông Dơng, gọi tắt là Mặt
trận Dân chủ Đông Dơng.
2.2.2. Phong trào đấu tranh công khai, dân chủ.
* Phong trào Đại hội Đông Dơng :
Đây là phong trào đấu tranh công khai, rộng lớn đầu tiên năm 1936. Đợc
tin Quốc hội Pháp quyết định cử phái đoàn sang điều tra tình hình Đông Dơng,
là văn bản tuyên bố công khai đầu tiên quan điểm và thái độ của Đảng Cộng sản
Đông Dơng đối với đại hội Đông Dơng. Đảng Cộng sản Đông Dơng kêu gọi
thành lập các uỷ ban hành động ở khắp nơi để tập hợp lực lợng quần chúng thu
thập dân nguyện, chuẩn bị cho Đông Dơng đại hội.
* Phong trào bắt đầu ở Nam Kỳ. Ngày 13 8 -1936, Uỷ ban lâm
thời Đông Dơng đại hội đợc thành lập. Trong một thời gian ngắn, các uỷ
ban hành động xuất hiện ở khắp nơi: Biên Hoà, Gia Định, Mỹ Tho, Thủ
Dầu Một Theo báo cáo của Sở mật thám Sài Gòn ngày 12 12- 1936,
trung bình mỗi tỉnh có trên 150 cuộc họp, đông nhất là 300 ngời một cuộc
họp.
Bọn phản động thuộc địa và tay sai ráo riết phá cuộc vận động, dùng
mọi biện pháp thích đáng ngăn chặn cuộc vận động. Sau khi có lệnh cấm
Đông Dơng đại hội, các cuộc khám xét, bắt bớ càng đợc đẩy mạnh hơn.
Từ tháng 2/1937, các Uỷ ban hành động hoạt động ngày càng công
khai hoá. Sau khi đợc tin Uỷ ban điều tra Quốc hội Pháp không sang Đông
Dơng, các Uỷ ban hành động lần lợt giải tán. Nhng chẳng bao lâu sau, các
lực lợng này đã nhân cơ hội đón đặc phái viên của Chính phủ Pháp Gôđa
(Justin Godart) và Toàn quyền Brêviê (Jules Brévié) sang nhận chức ở
Đông Dơng, để tiếp tục động viên, tổ chức quần chúng đấu tranh.
* ở Bắc Kỳ, những ngời cộng sản Hà Nội đã sử dụng tờ bào Hồn trẻ
làm công cụ tuyên truyền cho Đông Dơng đại hội theo đờng lối của Đảng.
Uỷ ban lâm thời chi nhánh Bắc Kỳ Đông Dơng đại hội đợc thành lập, các
uỷ ban hành động xuất hiện nhiều nơi thuộc các tỉnh Hà Nội, Nam Định,
Bắc Ninh, Ninh Bình, Phúc Yên, Thái bình.
* Trung Kỳ hởng ứng Đông Dơng đại hội chậm hơn các nơi khác.
Chính quyền thực dân và bọn phản động đã phá hoại, hạn chế phong trào
nhng uye ban lâm thời chi nhánh Trung Kỳ Đông Dơng đại hội và nhiều
uỷ ban hành động vẫn đợc lập ra ở Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi,
Đà Nẵng Ngày 21.9.1936 có lệnh cấm Đông Dơng đại hội toàn xứ Trung
Kỳ. Phong trào quần chúng hoạt động hợp pháp cha đầy một tháng đã bị
* Đấu tranh chống Tơrôtkit.
2.3. Tính chất, đặc điểm và bài học kinh nghiệm.
2.3.1. Tính chất:
Cuộc vận động dân chủ thời kỳ 1936 1939 đề ra mục tiêu đấu tranh đòi
dân sinh, dân chủ, tự do, cơm áo và hoà bình. Mặc dù khẩu hiệu đấu tranh chứa
đựng nội dung cải cách dân chủ trong khuôn khổ chính sách cai trị của chính
quyền thực dân nhng phong trào đấu tranh do Đảng Cộng sản Đông Dơng lãnh
đạo hoàn toàn không có tính chất cải lơng. Đây là một phong trào rộng lớn có tổ
chức, nó hoàn toàn khác với phong trào cải lơng do một nhóm t sản, địa chủ khởi
xớng với mục đích xin xỏ chính quyền thực dân ban cho một số quyền lợi hàng
ngày và coi đó là mục đích cuối cùng. Phong trào dân chủ 1936 1939 bằng
sức mạnh đoàn kết của quần chúng buộc chính quyền thực dân phải chấp nhận
những yêu sách cụ thể trớc mắt. Trên cơ sở đó, trong thuận lợi mới, nó sẽ tiếp tục
đẩy phong trào lên cao hơn, triệt để hơn, tiến tới giành thắng lợi cuối cùng.
Không nhất thiết khẩu hiệu kinh tế là cải lơng, khẩu hiệu chính trị là cách mạng
và cũng không cứ hoạt động bí mật, bất hợp pháp mới là cách mạng, còn hoạt
động công khai, hợp pháp là cải lơng. Phong trào dân chủ 1936 1939 là cách
mạng. Trong điều kiện nớc ta lúc này dới ách thống trị của chính quyền thực dân
không có tự do, dân chủ, những cuộc đấu tranh của quần chúng đòi tự do, dân
chủ, cơm áo hoà bình là một hình thức đấu tranh cách mạng trong một giai đoạn
cụ thể để thực hiện nhiệm vụ chiến lợc của cuộc CMDTDCND ở nớc ta.
2.3.2. Đặc điểm:
- Đây là phong trào quần chúng rộng rãi, diễn ra trên nhiều lĩnh vực, kinh tế,
chính trị, văn hoá t tởng. Nó thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia:
công nhân, nông dân, tiểu thơng, tiểu chủ, trí thức tiến bộ, học sinh, một bộ phận
t sản dân tộc, địa chủ vừa và nhỏ. Phong trào lan rộng cả thành thị và nông thôn
trong phạm vi toành quốc. Hình thức đấu tranh phong phú, bao gồm hoạt động
hợp pháp, bất hợp pháp, với những cuộc bãi công, biểu tình kiến nghị, đấu tranh
nghị trờng, đấu tranh trên lĩnh vực báo chí Về mặt tổ chức, quần chúng linh
hoạt lập các hội thể thao, cắm trại, hội học chữ quốc ngữ, hội cấy.
2.3.3. ý nghĩa:
Phong trào dân chủ 1936 1939 đã thu đợc những thắng lợi trên lĩnh vực
kinh tế, chính trị, văn hoá, t tởng. Chính quyền thực dân buộc phải thả nhiều
chính trị phạm, phải ban hành luật báo chí, cải thiện phần nào điều kiện lao động,
lơng bổng cho CNVC. Nhng thắng lợi hơn cả là qua phong trào đấu tranh quần
chúng đợc tổ chức, giác ngộ về Chủ nghĩa Mác Lênin, về Đảng cộng sản, góp
phần đào tạo cho Đảng nhiều cán bộ mới, uy tín của đảng đợc nâng cao, cán bộ,
đảng viên đợc tôi luyện kiên cờng, tích luỹ cho Đảng nhiều bài học kinh nghiệm
quý báu những bài học thành công và cả những thiếu sót, nhợc điểm. Trong
quá trình đấu tranh Đảng tích luỹ đợc kinh nghiệm xây dựng MTDTTN. Với việc
đề ra mục tiêu đấu tranh sát hợp, cơng lĩnh mặt trận đúng đắn đã tập hợp đợc
đông đảo quần chúng. Mục tiêu đấu tranh đó phù hợp với hình thức mặt trận dân
chủ và hoàn cảnh của Đông Dơng lúc bấy giờ. Vì thế, mặt trận bao gồm không
chỉ quần chúng cơ bản mà cả những tầng lớp t sản, địa chủ, các đảng phái cải l-
ơng ít nhiều tiến bộ, các thủ lĩnh dân tộc, tôn giáo tán thành đấu tranh vì tự do,
cơm áo hoà bình.
2.3.4.Bài học kinh nghiệm:
- Đảng Cộng sản Đông Dơng có kinh nghiệm trong việc định ra các hình
thức hoạt động, hình thức tổ chức đấu tranh để tranh thủ những điều kiện thuận
lợi, đấy mạnh phong trào đấu tranh cách mạng. Qua những hình thức ấy phát huy
đợc sức mạnh, trí sáng tạo của quần chúng.
- Đảng Cộng sản Đông Dơng coi trọng công tác đấu tranh t tởng trong nội
bộ Đảng, đảm bảo sự thống nhất t tởng, đờng lối, chính sách, chống tả khuynh,
hữu khuynh, đấu tranh kiên quyết chống bọn Tơrôtkit.
13
- Trong giai đoạn này Đảng Cộng sản Đông Dơng mắc phải một số thiếu
sót. Đó là việc thành lập MTTN phản đế Đông Dơng là cha phù hợp với điều kiện
và tình hình cách mạng cụ thể của mỗi nớc Đông Dong. Về vấn đề dân tộc trong
thời kỳ này, Đảng Cộng sản Đông Dơng cha nêu khẩu hiệu đánh đổ đế quốc Pháp
giành độc lập dân tộc là đúng. Nhng thiếu sót của đảng là trong khuôn khổ của
khẩu hiệu Đại Đông á, đa ra chơng trình lập khu thịnh vợng chung là bớc
đầu chuẩn bị thực hiện âm mu thôn tính Đông Dơng và Đông Nam á. Âm mu đó
đợc xúc tiến mạnh mẽ sau khi chúng mở rộng xâm lợc xuống Hoa Nam của
Trung Quốc năm 1937. Đến khi CTTG2 bùng nổ, Pháp tham chiến và nhanh
chóng đầu hàng phát xít Đức đã tạo cơ hội thuận lợi cho Nhật nhảy vào Đông D-
ơng.
Ngày 22.9.1940, Nhật nhảy vào Đông Dơng, thực dân Pháp quỳ gối đầu
hàng, mở cửa nớc ta rớc Nhật. Từ đó, dân ta chịu 2 tầng xiềng xích: Pháp và
Nhật.
Nhật bắt Pháp cung cấp cho chúng nguyên liệu, lơng thực, thực phẩm, tiền
mặt, các vật dụng khác. Đáp lại yêu cầu đó của Nhật, Pháp dùng hàng loạt thủ
đoạn, biện pháp nhằm bòn rút, bóc lột nhân dân ta. Một trong những thủ đoạn,
biện pháp đó là tăng thuế, nhờ đó mà trong khoảng từ 1939 1945, tổng số thu
vào ngân sách của Đông Dơng tăng lên gấp 2 lần. Riêng về thuốc phiện, rợu,
muối, tiền thuế chúng thu trong khoảng thời gian ngắn đó tăng lên gấp 3 lần.
Pháp dùng nhiều thủ đoạn bắt nhân dân ta phải nhổ hàng vạn hecta lúa để trồng
đay, bông, thầu dầu, thuốc phiện nộp cho Nhật, bắt họ phải bán thóc theo diện
tích cày cấy, không kể thu hoạch thực tế là bao nhiêu và theo giá quy định.
14
Trong khi nhân dân ta, nhất là nông dân thiếu ăn thì chúng dùng gạo để
nấu rợu cồn thay xăng, hoặc đốt thóc thay than để chạy máy điện ở miền Nam.
Pháp ra lệnh tập trung nguyên liệu, hàng hoá vào các công ty t bản Pháp để thu
những nguồn lợi kếch xù theo kiểu buôn bán đầu cơ, chợ đen.
Về phía Nhật, bên cạnh thủ đoạn bắt Pháp cung đốn mọi nhu cầu thiết yếu,
chúng còn ra sức bòn rút thật nhiều nguyên liệu, lơng thực, thực phẩm để phục vụ
cho chiến tranh ăn cớp.
Chính sách vơ vét, bóc lột của Nhật Pháp, sự cấu kết giữa chúng trong
mu đồ thống trị đã đẩy nhân dân ta đến chỗ cùng cực. Nhân dân Việt Nam không
có con đờng nào khác ngoài việc phải vùng lên đấu tranh.
- Sự cấu kết giữa Pháp và Nhật trong âm mu thống trị đất nớc ta, chính
bị thiệt hại quyền lợi bởi các chính sách cớp đất, tăng thuế, thu thóc tạ,
mua ngũ cốc với giá rẻ khiến cho họ có thái độ bất bình đối với Pháp
Nhật và trong một chừng mực nhất định nào đó, họ đồng tình, ủng hộ cuộc
đấu tranh chống đế quốc phát xít và tay sai.
Nh vậy, mọi giai cấp tầng lớp trong xã hội Việt Nam (trừ bọn tay sai của
đế quốc phát xít, bọn địa chủ lớn, TS mại bản) đều chịu ảnh hởng của chính sách
phản động và chiến tranh đế quốc, do đó ít nhiều có thái độ chống đối Pháp
Nhật, có cảm tình với cách mạng, hăng hái tham gia vào cuộc đấu tranh chống đế
quốc phát xít và tay sai, giải phóng dân tộc.
3.2. Những cuộc đấu tranh vũ trang tập dợt mở đầu chống Pháp - Nhật.
3.2.1. Chủ trơng chuyển hớng đấu tranh của Đảng cộng sản Đông Dơng.
15
Khi CTTG2 sắp bùng nổ, Đảng đã chỉ thị cho cán bộ đang hoạt động hợp
pháp và nửa hợp pháp nhanh chóng rút vào bí mật và giữ vững liên hệ với quần
chúng; phải chuyển trọng tâm công tác về nông thôn, biến nông thôc thành căn
cứ địa rộng lớn của cách mạng, đồng thời phải duy trì cơ sở chính trị ở thành thị,
kết hợp chặt chẽ phong trào thành thị với phong trào nông thôn.
Sau khi CTTG2 bùng nổ, ngày 29.9.1939 TW Đảng gửi thông cáo cho các
cấp bộ Đảng vạch rõ phơng hớng, nhiệm vụ và các biện pháp cần kíp trớc mắt
nhằm chuyển hớng các hoạt động của Đảng tiến bớc đến vấn đề dân tộc giải
phóng.
CTTG2 nổ ra đợc 2 tháng thì Hội nghị lần thứ 6 của TW Đảng họp từ ngày
đến 8.11.1939 tại Bà Điểm (Hóc Môn, Gia Định) do Tổng bí th Nguyễn Văn Cừ
chủ trì.
Nội dung:
HN đã tiến hành phân tích sâu sắc tính chất, hậu quả của CTTG, vai trò, vị
trí của Đông Dong trong cuộc chiến tranh đó, thực chất các chính sách của
bọn phản động Pháp và thái độ chính trị của các giai cấp xã hội Việt Nam.
Trên cơ sở đó, HN vạch ra đờng lối chính trị, phơng hớng, nhiệm vụ cách
mạng Việt Nam trong tình hình mới. HN nhận định, CTTG 2 là kết quả tất
hoạt động hợp pháp, nửa hợp pháp sang hoạt động bí mật và bất hợp pháp.
Để tập trung mọi lực lợng của dân tộc vào nhiệm vụ chủ yếu là chống
chiến tranh đế quốc và ách thống trị phát xít thuộc địa, Đảng Cộng sản
16
Đông Dơng chủ trơng thành lập MTDTTN phản đế Đông Dơng thay cho
MTDC không còn phù hợp trong tình hình và nhiệm vụ mới.
ý nghĩa: Chủ trơng HNTW6 là chủ trơng chỉ đạo chiến lợc và sách lợc cách
mạng Việt Nam thời kỳ 1939 1945, thời kỳ đấu tranh và giải phóng dân tộc.
Nghị quyết HN đánh dấu bớc chuyển hớng quan trọng về đờng lối và phơng
pháp cách mạng của Đảng, đánh dấu sự nhạy bén về chính trị và năng lực sáng
tạo của Đảng, trong điều kiện có chiến tranh đế quốc ở một nớc thuộc địa. Có
nhiều vấn đề về nguyên tắc chiến lợc và sách lợc cách mạng Việt Nam trong chủ
trơng của HNTW6 là sự trở lại Chính cơng vắn tắt, sách lợc vắn tắt (2.1930),
đồng thời là sự khắc phục mặt hạn chế của Luận cơng chính trị (10. 1930).
3.2.2. Những cuộc đấu tranh mở đầu thời kỳ vận động giải phóng dân tộc.
- Khởi nghĩa Bắc Sơn (27.9.1940)
- Khởi nghĩa Nam Kỳ (23.11.1940)
- Khởi nghĩa Đô Lơng (13.1.1941)
Trong hơn 3 tháng, 3 cuộc nổi dậy đã liên tiếp nổ ra ở cả 3 miền Bắc,
Trung, Nam và đều bị thất bại. Nguyên nhân chính là thời cơ khởi nghĩa cha chín
muồi, kẻ thù còn mạnh, lực lợng khởi nghĩa cha đợc tổ chức và chuẩn bị đầy đủ.
Nhng các cuộc khởi nghĩa đã nêu cao tinh thần đấu tranh bất khuất của nhân dân
ta không bỏ lỡ cơ hội giáng một đòn phủ đầu vào bọn thực dân Pháp, đồng thời
nghiêm khắc cảnh cáo phát xít Nhật vừa mới đặt chân vào nớc ta.
Các cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kỳ, Đô Lơng là những tiếng súng
báo hiệu cho cuộc khởi nghĩa toàn quốc, là bớc đầu đấu tranh bằng vũ lực của
các dân tộc Đông Dơng.
3.3. Chuẩn bị tiến tới khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền (1941 - 1945).
3.3.1. Nguyễn ái Quốc về nớc trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, hoàn
chỉnh chủ trơng chuyển hớng chỉ đạo chiến lợc
đầu. Trong lúc này, khẩu hiệu của Đảng ta là trớc hết phải làm sao giải
phóng cho đựoc các dân tộc Đông Dơng ra khỏi ách của giặc Pháp
Nhật. Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dới sự
sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc Nếu không giải quyết đợc
vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi đợc độc lập tự do cho toàn thể dân
tộc thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu
mà quyền lợi của của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại đ-
ợc.
Căn cứ vào đặc điểm Đông Dơng là xứ thuộc địa và hoàn cảnh thế giới
mới, Nguyễn ái Quốc và TW Đảng chủ trơng giải quyết vấn đề dân tộc
không phải chung trên toàn Đông Dơng mà trong khuôn khổ từng nớc ở
Đông Dơng, cốt làm sao đánh thức đợc tinh thần dân tộc xa nay trong
nhân dân (hơn hết là dân tộc Việt Nam) , MTTN do đó cũng phải đổi ra
cái tên khác cho nó có tính chất dân tộc hơn, cho có một mãnh lực dễ hiệu
triệu hơn. ở Việt Nam, hình thức mặt trận phù hợp nhất là Việt Nam độc
lập đồng minh, gọi tắt là Việt Minh, ở Lào và Cămpuchia, HN của Đảng
chủ trơng giúp đỡ 2 nớc thành lập mặt trận của mình là Ai Lao độc lập
đồng minh và Cao Miên độc lập đồng minh. Trên cơ sở 3 mặt trận ở 3 nớc
tiến tới thành lập ở Đông Dơng một mặt trận chung gọi là Đông Dơng độc
lập đồng minh.
HNTW 8 đặc biệt nhấn mạnh đến sự đoàn kết 3 dân tộc Đông Dơng trong
một chiến lợc chống kẻ thù chung Pháp Nhật và tay sai, giành độc lập
cho mỗi dân tộc, coi đó là vấn đề sống còn của 3 dân tộc và sau khi đánh
đuổi đợc Pháp Nhật, các dân tộc sống trên cõi Đông Dơng sẽ tuỳ theo
ý muốn tổ chức thành liên bang cộng hoà dân chủ hay đứng riêng thành
một dân tộc quốc gia tuỳ ý. Sự tự do độc lập của các dân tộc sẽ đợc thừa
nhận và coi trọng. Riêng ở Việt Nam sẽ thành lập chính phủ nhân dân
của Việt Nam dân chủ cộng hoà, lấy cờ đỏ sao vàng 5 cánh là lá cờ toàn
quốc.
Một trong những chủ trơng quan trọng nhất của HN8 là chủ trơng về khởi
Một trong những nhiệm vụ cấp bách của cách mạng sau HN8 là vận động
quần chúng vào các Hội cứu quốc của MTVM (19.5.1941). MTVM đã ra Tuyên
ngôn, chơng trình, điều lệ (25.10.1941), trong đó nêu rõ quyền lợi của dân tộc
cao hơn hết thảy, VM sẵn sàng giơ tay tiếp những cá nhân hay đoàn thể, không
cứ theo chủ nghĩa quốc tế hay quốc gia miễn thành thực muốn đánh đuổi Nhật
Pháp để dựng lên một nớc Việt Nam tự do và độc lập . Chơng trình cứu nớc của
VM gồm hệ thống chính sách đối nội, đối ngoại; chính sách về chính trị, kinh tế,
văn hoá, xã hội, ngoại giao; chính sách đối với các tầng lớp nhân dân; công nhân,
nông dân, binh lính, viên chức, học sinh, sinh viên, phụ nữ, thiếu nhi, ngời già,
ngời tàn tật, thơng nhân, nhà kinh doanh, t bản, địa chủ Chơng trình gồm 44
điều trong đó nổi lên là 2 điều mà toàn thể đồng bào mong ớc là làm cho nớc
Việt Nam hoàn toàn độc lập và làm cho dân Việt Nam đợc sung sớng tự do.
Chơng trình cứu nớc của VM về sau đợc đúc kết thành 10 chính sách lớn và đợc
thực hiện đầu tiên ở khu giải phóng Việt Bắc.
MTVM ra đời với chơng trình cứu nớc vừa ích nớc, vừa lợi dân đã thu hút
ngày càng đông đảo các tầng lớp nhân dân, kể cả đồng bào các dân tộc cũng
tham gia.
Tại Hà Nội, Hải Phòng và nhiều tỉnh ở miền Bắc, một số tỉnh ở miền
Trung, hầu hết các Hội phản đế của thời kỳ MTTNDT phản đế Đông Dơng đã
chuyển sang các Hội cứu quốc, đồng thời nhiều Hội cứu quốc đợc thành lập
nh Công nhân cứu quốc, Nông dân cứu quốc, Quân nhân cứu quốc, Thanh niên
cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc
Cao Bằng là nơi thí điểm xây dựng Hội cứu quốc trong MTVM. Năm
1942, ở khắp các xã, tổng, châu đều có Hội cứu quốc, trong đó có những xã,
tổng châu hoàn toàn nghĩa là mọi ngời đều tham gia Việt Minh. Tháng
11.1942, tại Cao Bằng, đại hội đại biểu Việt Minh họp bầu ra BCH Việt Minh. ở
Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, một BCH Việt Minh lâm thời liên tỉnh cũng đợc
cử ra.
Lực lợng vũ trang:
Cuối năm 1940, sau khi cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn thất bại, theo chủ trơng
cố, chúng ta còn xây dựng mới những khu du kích, những căn cứ địa cách mạng
rộng lớn ở cùng nông thôn, rừng núi cho cấp TW và các cấp khu, tỉnh, huyện, xã.
Các tỉnh miền núi nh Cao Bằng, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà
Giang đợc chọn làm căn cứ du kích. Trong đó vùng Bắc Sơn Vũ Nhai đợc
đảng chủ trơng xây dựng thành căn cứ địa cách mạng. Sau khi về nớc, Nguyễn ái
Quốc chọn Cao Bằng làm thí điểm chính sách mặt trận, chính sách đoàn klết dân
tộc, xây dựng thành căn cứ địa cách mạng. Đó là 2 trung tâm căn cứ địa đầu tiên
của cách mạng nớc ta. Trong những vùng căn cứ cách mạng, hàng ngày diễn ra
tấp nập những hoạt động sản xuất, xây dựng, chiến đấu, bảo vệ của quần chúng
cách mạng, các tổ chức yêu nớc, các Hội cứu quốc, của LLVTND, tiêu biểu hơn
cả là hoạt động của Cứu quốc quân Bắc Sơn Vũ Nhai và tự vệ vũ trang Cao
Bằng.
3.3.2.2. Gấp rút chuẩn bị cho khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền.
Quá trình xây dựng lực lợng cách mạng, chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang diễn
ra sôi nổi thành phong trào mang tính chất quần chúng với những kết quả to lớn
từ sau khi có nghị quyết 8 của Đảng. Tuy nhiên phong trào gặp không ít khó
khăn: quần chúng đấu tranh bị kẻ thù đàn áp, khủng bố, nhiều cán bộ lãnh đạo
của Đảng và Mặt trận bị địch giam cầm, giết hại, Nguyễn ái Quốc ngời lãnh
đạo chủ chốt của Đảng và Mặt trận bị chính quyền Tởng Giới Thạch bắt trên đ-
ờng đi công tác ở Trung Quốc và bị giam giữ hơn 1 năm (8.1942 3.1943),
trong lãnh đạo, chỉ đạo phong trào, Đảng và mặt trận lại mắc phải những sai lầm
cần khắc phục.
Đứng trớc những yêu cầu mới của cách mạng, nhất là trong tình hình cuộc
chiến tranh thế giới phát triển mau lẹ khi Hồng quân Liên Xô chuyển sang phản
công từ đầu 1943 càng đòi hỏi Đảng phải có chủ trơng đẩy mạnh hơn nữa công
tác chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền.
Ban thờng vụ TW Đảng họp từ 25 đến 28.2.1943 ở Võng La - Đông Anh
đã có những nhận định chính xác về tình hình thế giới và trong nớc, từ đó chủ tr-
ơng mở rộng hơn nữa MTVM. Do dự đoán đợc chiều hớng phát triển của phong
trào cách mạng, HN có nhận định sáng suốt phong trào cách mạng Đông Dơng
chuẩn bị khởi ngiã đón thời cơ và cả thúc đẩy thời cơ. Tháng 8.1944, đảng và
Tổng bộ VM kêu gọi toàn dân Sắm vũ khí, đuổi thù chung. Đáp lời kêu gọi của
đảng và mặt trận, nhân dân khắp nơi hăng hái góp tiền mua vũ khí, ra sức huấn
luyện quân sự, củng cố và phát triển đội tự vệ.
Tháng 10.1944, Pháp mở cuộc càn quét vào vùng Vũ Nhai (Thái Nguyên).
Cấp uỷ Đảng địa phơng phát động quần chúng chống lại cuộc càn quét. Cuộc
khởi nghĩa nổ ra khi cha có thời cơ nên đã làm cho lực lợng cách mạng bộc lộ
sớm, bị cô lập và gặp tổn thất lớn.
Cùng thời gian đó, Liên uỷ Cao Bắc Lạng chủ trơng phát động chiến
tranh du kích. Đúng vào lúc mọi công việc chuản bị cho cuộc nổi dậy hoàn thành
thì Hồ Chí Minh từ Trung Quốc trở về Cao Bằng. Nắm rõ tình hình Cao Bắc
Lạng, Ngời quyết định hoãn kế hoạch chiến tranh du kích của liên tỉnh uỷ vì
kế hoạch đó mới chỉ căn cứ vào tình hình địa phơng mà cha căn cứ vào tình hình
cụ thể của cả nớc, mới chỉ thấy bộ phận mà cha thấy toàn cục. Hồ Chí Minh có
nhận định sáng suốt tình hình cách mạng Việt Nam là bây giờ thời kỳ cách
mạng hoà bình đã qua nhng thời kỳ toàn dân khởi nghĩa cha tới. Từ đó, Ngời và
TW Đảng đề ra Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân.
Đúng nh tên gọi, nó là đội quân tuyên truyền nghĩa là chính trị trọng hơn
quân sự. Ngày 22.12.1944, Võ Nguyên Giáp đứng ra thành lập Đội Việt Nam
tuyên truyền giải phóng quân gồm 34 chiến sĩ, trong một khu rừng giữa 2 tổng
Trần Hng Đạo và Hoàng Hoa Thám (châu Nguyên Bình Cao Bằng). Sau ngày
thành lập, đội xuất quân và giành đợc chiến thắng liền trong 2 trận, tiêu diệt gọn
2 đồn Phay Khắt và Nà Ngần (Cao Bằng) trong 2 ngày 25,26.12.1944.
Cùng với quá trình ra sức xây dựng lực lợng cách mạng, gấp rút chuẩn bị
khởi nghĩa vũ trang, Hồ Chí Minh đã nghĩ đến một cái cơ cấu đại biểu cho sự
chân thành đoàn kết và hành động nhất trí của toàn thể quốc dân ta vì phe xâm
lợc gần đến ngày bị tiêu diệt, các nớc Đông Minh sắp giành đợc thắng lợi cuối
21
cùng, cơ hội cho dân tộc ta giải phóng chỉ ở trong một năm hoặc một năm rỡi
nữa.
- Cao trào kháng Nhật cứu nớc:
Ngay trong đêm 9.3.1945, khi tiếng súng đảo chính vừa nổ là lúc HNMR
của BTVTW Đảng đợc triệu tập tại làng Đình Bảng (Từ Sơn Bắc Ninh) do
Tổng Bí th Trờng Chinh chủ trì. Ngàyn 12.3.1945, BTVTW Đảng ra chỉ thị Nhật
Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta thể hiện toàn bộ nhận định về tình
hình và chủ trơng mới của Đảng.
HN nhận định rằng Nhật đánh Pháp là để độc chiếm Đông Dơng, Nhật
sẽ thắng Pháp nhng Nhật thắng chỉ là tạm thời và không thể củng cố
ách thống trị của chúng ở Đông Dơng. Đảo chính sẽ tạo ra một cuộc
khủng hoảng chính trị sâu sắc, làm cho những điều kiện của cuộc khởi
nghĩa nhanh chóng chín muồi.
HN dự đoán điều kiện khách quan cho cuộc tổng khởi nghĩa có thể nổ
ra thắng lợi là khi quân Đồng Minh kéo vào đánh Nhật ở Đông Dơng,
cách mạng Nhật bùng nổ và chính quyền cách mạng của nhân dân Nhật
thành lập hoặc Nhật mất nớc nh Pháp năm 1940 và quân đội Nhật mất
tinh thần. Song dù sao cũng không đợc ỷ lại điều kiện khách quan, phải
nêu cao tinh thần dựa vào sức mình là chính.
HN xác định kẻ thù chính, cụ thể trớc mắt và duy nhất của nhân dân
Đông Dơng sau đảo chính là phát xít Nhật, vì vậy, khẩu hiệu đánh
đuổi phát xít Pháp Nhật phải đợc thay bằng khẩu hiệu đánh đuổi
22
phát xít Nhật và đa ra khẩu hiệu thành lập chính quyền cách mạng
của nhân dân Đông Dơng.
HN chủ trơng phát động một cao trào kháng Nhật cứu nớc mạnh mẽ
làm tiền đề cho cuộc tổng khởi nghĩa. Thay đổi hình thức tuyên truyền
cổ động, hình thức tổ chức và đấu tranh cho phù hợp với thời kỳ tiền
khởi nghĩa có thể bao gồm từ hình thức bất hợp tác, bãi công, bãi thị,
phá phách cho đến những hình thức cao hơn nh biểu tình, thị uy, vũ
trang du kích, và sẵn sàng chuyển qua hình thức tổng khởi nghĩa một
khi có đủ điều kiện.
Đảng triệu tập HN quân sự cách mạng Bắc kỳ (4.1945) nnhằm giải quyết một số
vấn đề về quân sự. HN nhận định, tình thế đã đặt nhiệm vụ quân sự lên trên tất cả
các nhiệm vụ quan trọng và cần kíp. HN quyết định phát triển lực lợng vũ trang,
nửa vũ trang, thống nhất các lực lợng vũ trang sẵn có, xây dựng thêm nhiều chiến
khu trong cả nớc.
Ngày 16.4.1945, Tổng bộ VM ra chỉ thị về việc tổ chức uỷ ban dân tộc giải
phóng các cấp và trong phạm vi cả nớc lập uỷ ban dân tộc giải phóng Việt Nam.
Ngày 15.5.1945, Việt Nam giải phóng quân đợc thành lập, 7 chiến khu mới đợc
xây dựng gồm Vần (Phú Thọ), Hiền Lơng (Yên Bái), Trần Hng Đạo (Đông
Triều), Quang Trung (Hoà - Ninh - Thanh), Vĩnh Tuy và Dầu Rái (Quảng Ngãi).
Ngày 4.6.1945, khu giải phóng ra đời bao gồm Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng
Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên. Tân Trào đợc chọn làm thủ đô của
khu giải phóng. Uỷ ban lâm thời khu giải phóng đợc thành lập, những chính sách
23
của VM đợc thực hiện. Khu giải phóng trở thành căn cứ địa cách mạng chính của
cả nớc, là hình ảnh thu nhỏ của nớc Việt Nam mới.
Cao trào kháng Nhật sục sôi trên toàn quốc, tình thế cách mạng đang trực
tiếp đến gần. Toàn thể dân tộc ta đội ngũ sẵn sàng, đón chờ thời cơ vùng dậy tổng
khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nớc.
3.4.2. Tổng khởi nghĩa tháng Tám thành công, nớc Việt Nam DCCH ra đời.
CTTG2 bớc vào giai đoạn cuối cùng khi Hồng quân Liên xô bắt đầu tấn
công quân Nhật (8.8.1945). Trong vòng không đầy một tuần lễ, quân đội Xô viết
đánh tan gần 1 triệu quân Quan Đông của Nhật, tác động mạnh mẽ đến tinh thần
quân Nhật ở Đông Dơng. Chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim cùng bè lũ tay sai
nh rắn mất đầu. Điều kiện khách quan cho cuộc khởi nghĩa vũ trang giành chính
quyền đã chín muồi, thời cơ ngàn năm có một đã đến. Tuy nhiên các thế lực đế
quốc Mỹ, Tởng, Anh, Pháp đều có những mu đồ riêng đối với Đông Dơng. Trong
lúc điều kiện chủ quan của ta hết sức thuận lợi, khí thế cách mạng của quần
chúng lên cao cha từng thấy.
Ngày 12.8.1945, Uỷ ban lâm thời khu giải phóng hạ lệnh khởi nghĩa trong
Ngày 28.8, một phái đoàn của chính phủ lâm thời từ Hà Nội vào Huế dự lễ
thoái vị của Bảo Đại. Chiều 30.8, trớc cuộc mít tinh của hàng vạn nhân dân cố đô
Huế, Vua Bảo Đại đọc lời thoái vị và nộp ấn kiếm cho cách mạng. Đại diện chính
phủ lâm thời tuyên bố xoá bỏ chế độ quân chủ ở Việt Nam.
Ngày 2.9.1945, tại Quảng trờng Ba Đình, trớc cuộc mít tinh lớn của hàng
chục vạn nhân dân chào mừng nớc nhà độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt
24
Chính phủ lâm thời trịnh trọng đọc Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố với toàn thể
quốc dân và thế giới : nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời.
Tuyên ngôn độc lập tuyên bố chấm dứt chế độ thực dân phong kiến ở nớc
ta và mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do của dân tộc. Tuyên ngôn độc lập là một văn
kiện có giá trị lịch sử to lớn và ngày 2.9.1945 mãi mãi ghi vào lịch sử Việt Nam
là ngày hội lớn vẻ vang của dân tộc ngày Quốc khánh, ngày tuyên bố thành
lập nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà.
3.4.3. ý nghĩa lịch sử, nguyên nhân thắng lợi và bài học kinh nghiệm của
Cách mạng tháng Tám 1945.
ý nghĩa lịch sử:
CMT8 là một sự kiện vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Nó đã phá tan
xiềng xích nô lệ của thực dân Pháp kéo dài hơn 80 năm và của phát xít
Nhạt trong gần 5 năm, đồng thời lật nhào chế độ quân chủ chuyên chế tồn
tại ngót ngàn năm. Với thắng lợi của cách mạng tháng Tám, nớc ta từ một
nớc thuộc địa đã trở thành một nớc độc lập dới chế độ dân chủ cộng hoà,
nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành ngời dân độc lập, tự do, làm
chủ nớc nhà.
Thắng lợi của cách mạng tháng Tám đánh dấu bớc phát triển nhảy vọt của
cách mạng Việt Nam, mở ra một kỷ nguyên mới trong sự phát triển lịch sử
dân tộc kỷ nguyên giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng giai cấp
công nhân và nhân dân lao động, kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với
CNXH.
Cách mạng tháng Tám là thắng lợi đầu tiên trong thời đại mới của một dân