LỜI CẢM ƠN
Mặc dù bản thân tôi mới được bổ nhiệm về trường THCS Mường
Chùm công tác chưa được lâu song với bản thân tôi tự nhận thấy vấn đề
xây dựng bài giảng có ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy tại
nhà trường là vấn đề cần thiết, và thực tiễn trong giai đoạn hiện nay. Được
sự quan tâm giúp đỡ của Phòng Giáo dục và Đào tạo, Ban giám hiệu, tổ
chuyên môn, các đồng chí cán bộ giáo viên và các đoàn thể trong trường
THCS Mường Chùm bản thân tôi đã cảm nhận được sự tạo điều kiện của
các cấp lãnh đạo và các đoàn thể.
Căn cứ vào tình hình thực tiễn của nhà trường và vốn kiến thức của
bản thân cũng như những vấn đề cấp thiết trong việc Ứng dụng công nghệ
thông tin trong giảng dạy để từng bước nâng cao chất lượng giảng dạy đáp
ứng với yêu cầu hiện nay, bản thân tôi mạnh dạn xây dựng đề tài “Ứng
dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy để nâng cao chất lượng dạy học
ở trường THCS Mường Chùm".
Trong quá trình nghiên cứu tôi luôn nhận được sự quan tâm của Ban
giám hiệu nhà trường, tổ chuyên môn, các đồng chí cán bộ giáo viên và các
đoàn thể trong nhà trường. Cho phép tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới
các đồng chí trong Ban giám hiệu cùng toàn thể các đồng chí cán bộ giáo
viên, cán bộ công nhân viên trong nhà trường đã giúp đỡ, tạo mọi điều kiện
thuận lợi cho tôi trong thời gian nghiên cứu tại trường.
Mặc dù bản thân đã có rất nhiều cố gắng song đề tài cũng không tránh
khỏi thiếu sót. Tôi mong nhận được ý kiến đóng góp, chỉ dẫn, bổ xung của
các đồng chí trong Ban giám hiệu, các thầy cô giáo trong hội đồng sư phạm
nhà trường để nội dung nghiên cứu được hoàn thiện và mang lại hiệu quả
cao hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn.
1
MỤC LỤC
Mục Trang
Lời cảm ơn……………………………………………………………….1
KIẾN NGHỊ
A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài
1. Lý do khách quan
a. Tầm quan trọng của công nghệ thông tin:
*) Máy tính, mạng Internet và thế giới ảo trên Internet
Máy vi tính với các phần mềm phong phú đã trở thành một công cụ đa năng ứng
dụng trong mọi lĩnh vực của nghiên cứu, sản xuất và đời sống. Tuy nhiên nếu như
công dụng của máy là tính là có thể đo đếm được thì sự ra đời của mạng máy tính
toàn cầu (Internet) đem lại những hiệu quả vô cùng lớn, không thể đo đếm được.
Chính vì vậy, ngày nay chúng ta thường nghe nói đến thuật ngữ CNTT&Truyền
thông (ICT) thay vì CNTT (IT).
Một máy tính nối mạng không phải chỉ giúp chúng ta đọc báo điện tử, gửi email
mà nó là kênh kết nối chúng ta với tất cả thế giới. Chúng ta có thể tiếp cận toàn bộ tri
thức nhân loại, có thể làm quen giao tiếp với nhau hoặc tham gia những tổ chức ở xa
nửa vòng trái đất. Mạng máy tính toàn cầu thực sự đã tạo ra một thế giới mới trong
đó cũng có gần như các hoạt động của thế giới thực: thương mại điện tử
(ecommerce), giáo dục điện tử (elearning), trò chơi trực tuyến (game online), các
diễn đàn (forum), các mạng xã hội (social network), các công dân điện tử (blogger),
…
* ) Lợi ích mà thể giới ảo trên Internet mang lại
Tuy gọi là thế giới ảo nhưng nó đem lại lợi ích thực sự cho những người tham
gia, thậm chí những lợi ích đem lại còn nhiều hơn so với trong thế giới thật. Ví dụ
những cá nhân tham gia thương mại điện tử có thể ngồi ở nhà, thông qua máy tính
nối mạng để buôn bán trao đổi và có thể thu được rất nhiều lợi nhuận. Học sinh có
3
thể tham gia các hệ thống học trực tuyến trên mạng mà không phải tốn một đồng học
phí, mà kiến thức thu được còn nhiều hơn là theo lớp học thật. Một học sinh ở Hà
Nội có thể thông qua một hệ thống học trực tuyến để theo học một thầy giáo ở tận
TP HCM. Một thầy giáo có thể dạy cùng một lúc hàng vạn học sinh.
Trong thời đại của chúng ta, sự bùng nổ CNTT đã tác động lớn đến công cuộc
phát triển kinh tế xã hội người. Đảng và Nhà nước đã xác định rõ ý nghĩa và tầm
quan trọng của tin học và CNTT, truyền thông cũng như những yêu cầu đẩy mạnh
của ứng dụng CNTT, đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH, mở cửa
và hội nhập, hướng tới nền kinh tế tri thức của nước ta nói riêng - thế giới nói chung.
*) Tầm quan trọng của CNTT trong nhà trường
Khi công nghệ thông tin càng phát triển thì việc phát ứng dụng công nghệ thông
tin vào tất cả các lĩnh vực là một điều tất yếu. Trong lĩnh vực giáo dục đào tạo,
CNTT bước đầu đã được ứng dụng trong công tác quản lý, một số nơi đã đưa tin học
vào giảng dạy, học tập. Tuy nhiên, so với nhu cầu thực tiễn hiện nay, việc ứng dụng
CNTT trong giáo dục ở các trường nước ta còn rất hạn chế. Chúng ta cần phải nhanh
chóng nâng cao chất lượng, nghiệp vụ giảng dạy, nghiệp vụ quản lý, chúng ta không
nên từ chối những gì có sẵn mà lĩnh vực CNTT mang lại, chúng ta nên biết cách tận
dụng nó, biến nó thành công cụ hiệu quả cho công việc của mình, mục đích của
mình.
Hơn nữa, đối với giáo dục và đào tạo, công nghệ hông tin có tác dụng mạnh mẽ,
làm thay đổi nội dung, phương pháp dạy và học. CNTT là phương tiện để tiến tới “xã
hội học tập”. Mặt khác, giáo dục và đào tạo đóng vai trò quan trọng thúc đẩy sự phát
triển của CNTT thông qua việc cung cấp nguồn nhân lực cho CNTT.
Chính vì xác định được tầm quan trọng đó nên Nhà nước ta đã đưa môn tin
học vào trong nhà trường và ngay từ Tiểu học học sinh được tiếp xúc với môn tin
5
học để làm quen dần với lĩnh vực CNTT, tạo nền móng cơ sở ban đầu để học những
phần nâng cao trong các cấp tiếp theo.
Với tầm quan trọng đó, năm học 2008-2009 Bộ giáo dục và đào tạo đã đưa ra
chủ đề “ Năm ứng dụng CNTT " trong giáo dục đào tạo ở tất cả các cấp học, bậc học,
ngành học theo hướng dẫn học CNTT như là một công cụ hỗ trợ đắc lực nhất cho đổi
mới phương pháp dạy học ở các môn.
Thực hiện chủ đề năm học của Bộ giáo dục và của Sở giáo dục và đào tạo,
nhận thức được rằng, việc ứng dụng CNTT phục vụ cho việc đổi mới phương pháp
thuật để vẽ những hình ảnh sao cho sinh động, hài hoà thẩm mĩ.
+ Phần mềm tập gõ bàn phím bằng mười ngón tay Mario: Giúp HS luyện tập
cách làm việc với bàn phím một cách chuẩn xác nhanh chóng và hiệu quả cao.
+ Trong chương trình tin học THCS thì một số bài học được phân bố xen kẽ
giữa các bài vừa học, vừa chơi. Điều đó sẽ rèn luyện cho học sinh óc tư duy sáng tạo
trong quá trình chơi những trò chơi mang tính bổ ích giúp cho học sinh thư giãn sau
những giờ học căng thẳng ở lớp …
2. Lý do chủ quan
Năm học 2008- 2009 là năm Bộ GD&ĐT phát động là năm học ứng dụng công
nghệ thông tin và năm học 2009 – 2010 là năm đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông
tin nhưng tôi không cảm thấy bỡ ngỡ, xa lạ bởi tôi nhận ra những công dụng và ích
lợi của việc ứng dụng công nghệ thông tin và bản thân tôi đã có một quá trình trong
việc ứng dụng CNTT trong dạy học.
7
Phong trào ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học và quản lý giáo dục
nhận được sự quan tâm chỉ đạo của các cấp chính quyền, của nghành giáo dục, sự
ủng hộ của giáo viên, học sinh và nhân dân đã có sự phát triển mạnh mẽ, rộng lớn
nhưng vẫn còn gặp nhiều khó khăn lúng túng, chưa có chiều sâu và chưa mang lại
hiệu quả đúng với vai trò của nó.
Thời gian gần đây, phong trào thi đua soạn bài giảng điện tử để đổi mới cách
dạy và học đã được nhiều Cán bộ giáo viên hưởng ứng tích cực. Đây được coi là con
đường ngắn nhất để đi đến đích của chất lượng dạy học trong các nhà trường.
Xuất phát từ thực trạng giảng dạy của đội ngũ giáo viên trường THCS Mường
Chùm. Mặc dù trình độ giáo viên của trường đạt trên chuẩn cao, số ít vẫn dạy theo
phương pháp truyền thống, nặng về phương pháp thuyết trình, độc thoại, ngại sử
dụng phương pháp mới mà đặc biệt là việc ứng ứng dụng CNTT trong giảng dạy.
Việc ứng dụng CNTT trong giảng dạy là việc làm hết sức khó khăn đối với trường.
Tuy cơ sở vật chất nhà trường khá đầy đủ có phòng máy tính phục vụ cho giảng dạy,
nhưng chưa được kết nối Internet phục vụ cho học sinh, chỉ có 1 máy ở văn phòng
được kết nối Internet phục vụ cho việc giảng dạy của giáo viên. Tuy nhiên do sự đam
biện pháp nâng cao hiệu quả của ứng dụng CNTT trong dạy học và đẩy mạnh phong
trào ứng dụng CNTT trong năm học mới.
IV. Phương pháp, biện pháp nghiên cứu:
Để thực hiện được mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài nghiên cứu, tôi vận dụng
kết hợp các phương pháp sau:
9
1. Phương pháp điều tra:
- Tổng hợp điều tra về mức độ học sinh thích học, mức độ học sinh hiểu bài
trong các giờ học có ứng dụng CNTT
- Kiểm tra việc học tập của học sinh (bài cũ, bài mới).
- Sử dụng bảng biểu đối chiếu.
- Kiểm tra chất lượng sau giờ học.
- Tận dụng tối đa các buổi học thực hành để các em được làm quen và luyện
tập thật tốt các bài học lý thuyết.
2. Xây dựng tư liệu:
- Hiện nay việc ứng dụng CNTT giúp cho giáo viên xây dựng tư liệu tương
đối phong phú. Việc khai thác tư liệu có thể từ nhiều nguồn như: Khai thác thông tin
tranh ảnh từ mạng Internet, từ sách báo tài liệu, tạp chí, băng hình, phim, các phần
mềm, khai thác hình ảnh tĩnh, động,…
3. Xây dựng giáo án điện tử:
- Tập huấn công nghệ thông tin cho giáo viên: Tổ chức các lớp bồi dưỡng
công nghệ thông tin và phương pháp giảng dạy.
- Khuyến khích động viên giáo viên tích cực ứng dụng CNTT (soạn giáo án
điện tử) và vận dụng vào giảng dạy
- Thực hành trên máy
- Tập huấn phương pháp dạy học
- Dự giờ, xem băng hình
- Trao đổi, chia sẻ, rút kinh nghiệm
V. Đối tượng nghiên cứu
- Môn Tin học khối 6, 7.
CNTT vào giáo dục để đổi mới phương pháp giáo dục và quản lí”
11
- Chỉ thị 08/203 của Bộ bưu chính viễn thông, ngày 02/06/2003 : “Đưa
Internet đến tất cả các trường đại học, cao đẳng, THCN, THPT trên phạm vi cả nước
và kết nối tới các trường THCS và TH ở những nơi có điều kiện”
II. Cơ sở thực tiễn:
* Một số thuận lợi và khó khăn khi thực hiện chuyên đề ở trường THCS
Mường Chùm - Mường La - Sơn La.
1. Thuận lợi:
* Nhà trường:
- Tuy môn Tin học mới chỉ là môn học tự chọn nhưng nhà trường đã tạo điều
kiện để học sinh có thể học từ khối lớp 6, tạo điều kiện sắm sửa máy móc, trang thiết
bị phục vụ cho việc dạy và học môn Tin học.
- Được sự ủng hộ của các cấp Uỷ Đảng - UBND - Các ban ngành.
* Giáo viên:
- Giáo viên được đào tạo chuẩn chuyên ngành về Tin học để đáp ứng yêu cầu
cho dạy và học môn Tin học trong bậc THCS.
* Học sinh:
Vì là môn học trực quan, sinh động, môn học khám phá những lĩnh vực mới
nên học sinh rất hứng thú học, nhất là những tiết thực hành.
Đời sống kinh tế gia đình của một số em học sinh ở nhà đã có máy vi tính nên
cũng có những thuận lợi nhất định đối với môn học.
2. Khó khăn:
Đa số các em học sinh chỉ được tiếp xúc với máy vi tính ở trường là chủ yếu,
do đó sự tìm tòi và khám phá máy vi tính với các em còn hạn chế, nên đa số học
sinh thực hành vẫn còn chưa được thuần thục.
12
Đa số các em là con em dân tộc thiểu số nên còn viết sai chính tả nhiều, nói
ngọng nhiều. Khả năng đọc, nói Tiếng anh còn hạn chế gây khó khăn trong quá trình
học tập.
hiệu quả từ phía học sinh cho thấy, nếu sử dụng phương pháp dạy học truyền thống
với phấn trắng bảng đen thì hiệu qua mang lại chỉ có 30%, trong khi hiệu quả của
phương pháp multimedia (nhìn - nghe) lên đến 70%. Việc sử dụng phương pháp mới
đòi hỏi một giáo án mới. Thực ra, muốn “click” chuột để tiết dạy thực sự hiệu quả thì
giáo viên phải vất vả gấp nhiều lần so với cách dạy truyền thống. Ngoài kiến thức
căn bản về vi tính, sử dụng thành thạo phần mềm Power point, Violet,… giáo viên
cần phải có niềm đam mê thật sự với công việc thiết kế đòi hỏi sự sáng tạo, sự nhạy
bén, tính thẩm mỹ để săn tìm tư liệu từ nhiều nguồn.
Hơn nữa trong quá trình thiết kế, để có được một giáo án điện tử tốt, từng cá
nhân giáo viên còn gặp không ít khó khăn trong việc tự đi tìm hình ảnh minh hoạ, âm
thanh sôi động, tư liệu dẫn chứng phù hợp với bài giảng. Đây cũng chính là một
trong những nguyên nhân mà một số giáo viên thường đưa ra để tránh né việc thực
hiện dạy ứng dụng CNTT.
Trong tổ chuyên môn đa số giáo viên mới nên ngoài việc hoàn thiện về chuyên
môn bên cạnh đó còn phải trang bị cho bản thân những kiến thức Tin học về các
phần mềm ứng dụng trong giảng dạy. Mặc dù đã bước đầu soạn giảng nhưng kinh
nghiệm xử lí còn nhiều hạn chế.
14
Thường trình chiếu nội dung bài dạy suốt cả tiết học làm cho học sinh mỏi mắt,
đưa vào tình trạng mệt mỏi, kém tích cực.
Có một số nội dung không nhất thiết phải trình chiếu cũng thể hiện lên. Chưa
chắt lọc được phần kiến thức nào thì dùng phần mềm để hỗ trợ.
Một số hoạt động tiếp cận khái niệm, mô tả khái niệm, quy tắc, tiếp cận định lý
chưa biết khai thác thế mạnh của các phần mềm ứng dụng như Power point,
Sketchpat, . . .
Qua thăm dò, đánh giá học sinh thì các em làm phần trắc nghiệm trả lời rất tốt
nhưng cho làm bài toán có tính suy luận thì gặp rất nhiều khó khăn.
Chính vì những khó khăn trên mà các giáo viên chỉ ứng dụng CNTT khi có nhu
cầu. Tức là chỉ có thao giảng, thì mới sử dụng và việc làm này chỉ mang tính chất đối
phó. Tình trạng này cũng phổ biến trong các trường phổ thông. Mục đích sử dụng
chắn không thể bằng sự giao tiếp giữa thầy với trò
Hiện nay, các công ty thiết bị giáo dục cũng thường xây dựng các video quay các
tiết giảng mẫu để đưa về các trường. Tuy nhiên định hướng này khó phát huy được
hiệu quả, vì sản phẩm cũng chỉ như một giáo án tham khảo trong khi chi phí để xây
dựng rất lớn (vài chục triệu đồng/tiết dạy) mà hầu như không thể chỉnh sửa về sau
được. Nó thậm chí còn có thể gây phản tác dụng khi tạo ra sự áp đặt cho giáo viên, tạo
ra tư duy lười suy nghĩ vì chỉ cần dạy theo giáo án mẫu, làm giảm đi sự sáng tạo của
giáo viên trong việc giảng dạy
V. Một số biện pháp ®Ó d¹y häc cã hiÖu qu¶ h¬n trong bËc THCS
1. Các hình thức ứng dụng CNTT trong dạy học
Hiện nay, trên thế giới người ta phân biệt rõ ràng 2 hình thức ứng dụng CNTT
trong dạy và học, đó là Computer Base Training, gọi tắt là CBT (dạy dựa vào máy
tính), và E-learning (học dựa vào máy tính). Trong đó:
16
- CBT là hình thức giáo viên sử dụng máy vi tính trên lớp, kèm theo các trang
thiết bị như máy chiếu (hoặc màn hình cỡ lớn) và các thiết bị multimedia để hỗ trợ
truyền tải kiến thức đến học sinh, kết hợp với phát huy những thế mạnh của các phần
mềm máy tính như hình ảnh, âm thanh sinh động, các tư liệu phim, ảnh, sự tương tác
người và máy.
- E-learning là hình thức học sinh sử dụng máy tính để tự học các bài giảng mà
giáo viên đã soạn sẵn, hoặc xem các đoạn phim về các tiết dạy của giáo viên, hoặc có
thể trao đổi trực tuyến với giáo viên thông mạng Internet. Điểm khác cơ bản của hình
thức E-learning là lấy người học làm trung tâm, học viên sẽ tự làm chủ quá trình học
tập của mình, giáo viên chỉ đóng vai trò hỗ trợ việc học tập cho học viên.
Như vậy, có thể thấy CBT và E-learning là hai hình thức ứng dụng CNTT vào
dạy và học khác nhau về mặt bản chất. Một bên là hình thức hỗ trợ cho giáo viên, lấy
người dạy làm trung tâm và cơ bản vẫn dựa trên mô hình lớp học cũ. Còn một bên là
hình thức học hoàn toàn mới, lấy người học làm trung tâm, trong khi giáo viên chỉ là
người hỗ trợ. Tuy nhiên, ở Việt Nam nhiều người vẫn bị nhầm lẫn 2 khái niệm này,
trong đó có không ít các chuyên gia giáo dục, nên nhiều khi dẫn đến những sai lầm
Chỉ dựa trên thế mạnh của các bài giảng
điện tử, hầu như không có giao tiếp thầy
trò.
Phù hợp hơn với giáo dục phổ thông, vì
là ở giáo dục phổ thông, giáo viên
không chỉ dạy kiến thức mà còn phải
theo dõi hướng dẫn cách tư duy. Vả lại
học sinh nhỏ tuổi chưa đủ khả năng để
làm chủ được quá trình học tập của
mình.
Phù hợp hơn với giáo dục Đại học, Sau
đại học và những người đã đi làm.
Đây là phương pháp mà các giáo viên ở
Việt Nam hay dùng phổ biến hiện nay
như dùng Powerpoint, Violet để thiết
kế bài giảng và dạy học dùng máy
chiếu. Những kết quả thu được là rất
đáng kể.
Chưa phải là hình thức phổ biến lắm ở
Việt Nam. Mới chỉ có một số trường ĐH
có hệ thống E-learning riêng như ĐH Sư
phạm HN, ĐH Xây dựng HN, ĐH Cần
Thơ,
Các công cụ tạo bài giảng cho CBT gọi
là các Authoring Tools như là
Powerpoint, Violet, Impress, Author-
ware
Các công cụ tạo bài giảng cho e-learning
thì tuân theo một chuẩn chung để đưa lên
mạng, trong đó nổi tiếng nhất là chuẩn
cách soạn và giảng bài mới này. Cụ thể người thầy cần phải:
- Có một ít kiến thức hiểu biết về sử dụng máy tính.
- Biết sử dụng phần mềm trình diễn PowerPoint2003 ( và đối với môn Toán :
Phần mềm Geometer’s Sketchpad, VisuaBasic, Violet, … )
- Biết cách truy cập Internet
- Có khả năng sử dụng được một số phần mềm chỉnh sửa ảnh, cắt phim, làm các
ảnh động bằng Plash, cắt các file âm thanh,…
- Biết sử dụng máy chiếu Projector ( Máy chiếu đa năng )
Mới nghe thì có vẻ mới mẻ và phức tạp nhưng thực sự muốn ứng dụng công
nghệ thông tin vào giảng dạy có bắt buộc thì phải thực hiện hết các yêu cầu trên hay
không? Câu trả lời là không. Vì nó còn tùy thuộc vào tính chất của mỗi môn học mà
các yêu cầu khác nhau được đặt ra cho mỗi giáo viên. Tuy nhiên, nếu đáp ứng được
các yêu cầu trên thì thật là tuyệt vời, lúc đó chất lượng Dạy - học như thế nào thì các
bạn đồng nghiệp tự thảo luận?. Tại sao tôi lại đặt ra các yêu cầu đó? Các bạn thử
tưởng tượng xem nếu một người nào đó không có khái niệm gì về CNTT thì liệu họ
20
có bật máy tính lên và chọn cho mình một chương trình làm việc hay không? Liệu họ
có biết được tài liệu của mình nằm ở đâu trên máy tính hay không? Có biết cách
Copy (sao chép) tài liệu từ nơi này sang nơi khác hay Delete( xóa) một tài liệu khi
không dùng nữa? Nghĩa là dù ít hay nhiều thì cũng phải sử dụng được máy tính
theo ý riêng mình.
Ở đây, vấn đề cần đặt ra là từ những giáo án được soạn sẳn trên giấy và được trình
bày lại trên bảng đen làm thế nào để giáo án đó trở thành GAĐT được trình bày trên
màn chiếu projector? Điều này đòi hỏi người thầy trước hết phải biết sử dụng phần
mềm PowerPoint 2003 ( phần mềm nằm trong bộ MS Office 2003 , hiện nay đã có
PowerPoint trong bộ MS Office 2007) dùng để tạo các trình diển đa dạng trên máy
tính. Ngoài ra có các phần mềm Cabri (Toán) ,GEOSPACW ( Toán ), GraphCalc
(Toán), PhotoFrameShow (xử lí hình ảnh), Geometer’s Sketchpad(GSP) … Nếu chỉ
dừng ở mức độ soạn thảo những nội dung cần thiết và cộng thêm các thao tác định
dạng về màu sắc, font chữ tôi nghĩ rằng chắc thầy cô nào cũng có thể làm được. Tuy
gian viết nội dung lên bảng, nội dung hiển thị đến đâu GV giảng đến đó, làm cho
thời gian giảng bài nhiều hơn, logic hơn , HS hiểu bài sâu hơn.
Đối với môn Lịch sử, Địa lý bài giảng thường đi kèm với nhiều hình ảnh minh
họa. Có thể là hình ảnh mô tả một trận chiến, các căn cứ địa cách mạng, hay hình ảnh
của các vùng kinh tế, khí hậu, diện tích lảnh thổ của các nước trên thé giới,……Nếu
chỉ trình bày suông, tôi nghĩ rằng cũng chỉ có vấn đề gì cả. Nhưng tại sao khi chúng
ta đã chấp nhận làm GAĐT thì lại không làm bài tập phong phú hơn. Hiện tai những
hình ảnh minh họa, phần mềm cho các nội dung bài dạy nói trên tương đối nhiều trên
Internet mà hiện tại nhà trường đã có mạng Internet , tôi nghĩ rằng nếu chỉ cần bỏ
một chút thời gian lên mạng mà có được những phần mềm, hình ảnh, đoạn phim cần
minh họa cho bài giảng thì người thầy nào cũng sẵn lòng cả. Điều đó đồng nghĩa với
việc giáo viên phải biết cách truy cập mạng Inernet để lấy thông tin. Tuy nhiên
không phải hình ảnh nào cũng lấy từ Internet được mà những hình ảnh cần lấy từ
sách giáo khoa (SGK) thì lúc đó ta phải Scaner(quét ảnh), chụp ảnh và chỉnh sữa ảnh
22
…. Nói tóm lại để có được một GAĐT tạm gọi là hiệu quả thì mỗi GV cần phải có
chút ít về kĩ thuật tin học.
Bài giảng sau khi được thiết kế sẻ được trình chiếu lên màn hình thông qua đầu
projector. Điều đó dù muốn hay không mỗi GV buộc phải biết cách sử dụng nó. Đây
là một trong những yêu cầu bắt buộc đối với GV chỉ cần một vài thao tác lắp máy
chiếu với Case của máy vi tính hoặc Laptop (máy tính xách tay) và điều chỉnh độ
nét, độ lớn trên màn hình, lúc này GV chắc hẳn có một bài giảng chất lượng, HS sẽ
có một tiết học thoải mái và sôi động.
Điều cuối cùng tôi muốn nói đến là nhờ GAĐT mà các giáo viên đã tạo ra một
không khí khác hẳn so với giờ dạy truyền thống. Học sinh buộc phải tập trung nghe
giảng và tư duy nhiều hơn trong các giờ học. Tuy nhiên, để làm được điều đó người
dạy phải có một kiến thức nhất định. Chẳng hạn sử dụng được phần mềm trình chiếu
PowrPoint để trình bày bài giảng và cần phải có khái niệm về các phương tiện kĩ
thuật đã được đề cập là các phương tiện hổ trợ cho việc giảng dạy chứ không thể
thay thế được vai trò chủ đạo của người thầy trong giờ lên lớp.
gian cho các nội dung còn lại? Liệu nếu một GV mới có thể nhớ hết nội dung đã
chuẩn bị trước buổi dạy hay không? Chỉ cần chúng ta xây dựng kế hoạch giảng dạy
thì vấn đề trên sẻ được giải quyết ngay. Đề cương này sẽ ghi rõ tên bài dạy, các mục
kiến thức cần trình bày, vấn đề nào cần trình bày trước, vấn đề nào cần trình bày
sau ? Vấn đề nào trọng tâm và nhấn mạnh? Chúng ta phải chuẩn bị kĩ lưỡng như vậy
là vì nếu tiết dạy đó GV chưa nói hết các nội dung trong các Slide hay đã trình bày
hết nội dung nhưng thời gian còn thừa. Tóm lai, chúng ta phải kết hợp đề cương này
cùng với việc trình bày trên các slide một các hợp lý thì lúc đó GV ắt hẳn không còn
băn khoăn gì về cách dạy mới mẻ này.
24
* Những chú ý khi thiết kế bài giảng có ứng dụng CNTT.
Thật ra, ta phải giải quyết khó khăn của học sinh ngay từ người thầy và giải
quyết ở ba khâu: soạn giáo án, trình chiếu giáo án và hướng dẫn học sinh ghi chép.
Mỗi lớp học có trung bình từ 30 - 40 học sinh. Trong khi đó các tiết dạy
GAĐT thường phải tắt bớt đèn, đóng bớt cửa sổ hay kéo rèm hạn chế ánh sáng trời
để ảnh trên màn rõ hơn. Như vậy, những học sinh ngồi ở các dãy cuối lớp hay những
học sinh mắt kém sẽ khó khăn khi quan sát hình ảnh, chữ viết hay công thức trên
màn chiếu. Do đó để học sinh có thể ghi chép được bài học chính xác từ màn chiếu,
giáo viên khi soạn giáo án trên Power Point cần chú ý một số nguyên tắc về hình
thức sau:
- Các trang trình diễn phải đơn giản và rõ ràng
- Không sao chép nguyên văn bài dạy, chỉ nên đưa những ý chính vào mỗi
trang trình diễn
- Về màu sắc của nền hình:
Màu sắc không lòe loẹt, đồ họa vui nhộn gây mất tập trung cho học sinh.Cần tuân
thủ nguyên tắc tương phản (contrast), chỉ nên sử dụng chữ màu sậm (đen, xanh đậm,
đỏ đậm…) trên nền trắng hay nền màu sáng. Ngược lại, khi dùng màu nền sậm thì
chỉ nên sử dụng chữ có màu sáng hay trắng.
- Về Font chữ:
Dùng các phông chữ, khung, nền hợp lí. (vd: nền màu trắng, màu đỏ cho các đề mục