Đề án môn học chuyên ngành
Mở đầu
Sau một thời gian nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trờng, nớc ta ngày
càng có thêm nhiều doanh nghiệp xuất hiện nhất là các doanh nghiệp vừa và
nhỏ. Do vậy nhu cầu về vốn rất cao. Để chịu đợc sức ép và đứng vững trên thị
trờng canh tranh gay gắt ác liệt, các doanh nghiệp phải thờng xuyên nâng cao
chất lợng sản phẩm. Muốn đảm bảo sự tồn tại và phát triển lâu dài của các
doanh nghiệp Việt Nam, các nhà kinh tế phải đa ra hàng loạt các biện pháp nh-
ng giải pháp cần quan tâm trớc hết là đầu t đổi mới công nghệ.
Tuy nhiên, các doanh nghiệp vừa và nhỏ thờng vốn kinh doanh không
lớn,nên không thể đầu t mua cả dây chuyền công nghệ mới. Vì vậy, từ lâu các
doanh nghiệp trên thế giới đã sử dụng hình thức thuê tài sản nh một nguồn vốn
để có đợc các loại TSCĐ phục vụ sản xuất kinh doanh. Thực tế, hoạt động thuê
tài chính mang lại nhiều lợi ích cho cả bên đi thuê và bên cho thuê nhng lại còn
khá mới mẻ ở Việt Nam. Nó còn mới mẻ ngay cả đối với ngời bán chứ cha kể
đến ngời mua. Do vậy, hoạt động này vẫn còn nhiều bất cập trong cơ chế chính
sách và điều hành thực tiễn, khiến cho nó cha phát triển ngang tầm với những u
điểm vốn có.
Nớc ta đang trong quá trình hội nhập với nền kinh tế toàn cầu nên việc thay
đổi và từng bớc hoàn thiện cơ chế chính sách về kế toán TSCĐ thuê tài chính
cho phù hợp với khu vực và quốc tế nhằm nâng cao sức cạnh tranh của các
doanh nghiệp Việt Nam trên thị trờng quốc tế, góp phần đẩy mạnh sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc.
Xuất phát từ vai trò quan trọng của lý luận và yêu cầu cấp thiết của thực
tiễn nên em chọ đề tài Bàn về kế toán TSCĐ thuê tài chính và các giải
pháp hoàn thiện cho đề án môn học của mình. Do phạm vi hiểu biết về
chuyên môn, các môn học khác cũng nh về thực tế cha nhiều nên Đề án không
thể không có những thiếu sót mong các thầy cô và các bạn xem xét, góp ý.
Em xin chân thành cảm ơn sự hớng dẫn tận tình của PGS. TS Nguyền
Minh Phơng đã giúp em hoàn thành Đề án này.
Hà Nội, ngày 27 tháng 03 năm 2004
gian sử dụng đơn vị phải có trách nhiệm bảo quản, quản lý tài sản này.
- Thuê tài chính là thuê tài sản mà đơn vị thuê không có quyền sở
hữu TSCĐ nhng đơn vị thuê có nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý, quản lý,
bảo dỡng, giữ gìn và sử dụng nh TSCĐ của đơn vị.
1.2) Đặc điểm của TSCĐ thuê tài chính và yêu cầu quản lý.
a) Đặc điểm của TSCĐ thuê tài chính.
Theo nghị định 64 CP ngày 09/10/95 của chính phủ ban hành quy chế
tạm thời về tổ chức hoạt động của công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam, có
quy định tại Điều 3, Chơng I: Một giao dịch CTTC phải thoả mãn một trong
những điều kiện sau đây:
- Khi kết thúc thời hạn thuê theo hợp đồng, bên thuê đợc chuyền
quyền sở hữu tài sản thuê hoặc đợc tiếp tục thuê theo sự thoả thuận của
hai bên.
Phạm Thị Thuỳ Linh Kế toán 43 A
2
Đề án môn học chuyên ngành
- Nội dung hợp đồng thuê có quy định: Khi kết thúc thời hạn thuê,
bên thuê đợc quyền chon lựa mua tài sản thuê theo giá danh nghĩa thấp
hơn giá trị thực tế của tài sản thuê tại thời điểm mua lại.
- Thời hạn cho thuê một loại tài sản ít nhất phải bằng 60% thời gian
cần thiết để khấu hao tài sản thuê.
- Tổng số tiền thuê một loại tài sản quy định tai hợp đồng thuê ít
nhất phải tơng đơng với giá của tài sản đó trên thị trờng vào thời điểm ký
hợp đồng.
TSCĐ thuê tài chính là những t liệu lao động có giá trị lớn nhng không
thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có quyền sử dụng và
quản lý bảo dỡng nh tài sản của mình. Khi tham gia vào quá trình sản xuất
nó đợc chuyển dịch từng phần vào chi phí sản xuất kinh doanh và giữ
nguyên đợc hình thái vật chất ban đầu cho đến khi hết hợp đồng thuê. Tuỳ
từng loại TSCĐ thuê tài chính mà có những yêu cầu quản lý khác nhau.
Phạm Thị Thuỳ Linh Kế toán 43 A
3
Đề án môn học chuyên ngành
- Ghi chép, phản ánh tổng hợp chính xác, kịp thời số lợng, giá trị
TSCĐ thuê tài chính hiện có, tình hình tăng giảm và hiện trạng TSCĐ
thuê tài chính trong phạm vi toàn đơn vị, cũng nh tại từng bộ phận sử
dụng TSCĐ, tạo điều kiện cung cấp thông tin để kiểm tra giám sát thờng
xuyên việc giữ gìn, bảo quản, bảo dỡng TSCĐ và kế hoạch đầu t đổi mới
TSCĐ trong từng đơn vị.
- Tính toán và phân bổ chính xác mức khấu hao TSCĐ thuê tài chính
vào chi phí sản xuất kinh doanh theo mức độ hao mòn của tài sản và chế
độ quy định.
- Tham gia lập kế hoạch sửa chữa và dự toán chi phí sửa chữa
TSCĐ, giám sát việc sửa chữa TSCĐ về chi phí và kết quả của công việc
sửa chữa.
- Tính toán phản ánh kịp thời chính xác tình hình xây dựng trang bị
thêm, đổi mới, nâng cấp, hoặc tháo dỡ bớt làm tăng giảm nguyên giá
TSCĐ cũng nh tình hình thanh lý, nhợng bán, mua lại TSCĐ.
- Hớng dẫn kiểm tra các đơn vị, các bộ phận trực thuộc trong các
doanh nghiệp thực hiện đầy đủ chế độ ghi chép ban đầu về TSCĐ, mở
các sổ, thẻ kế toán cần thiết và hạch toán TSCĐ theo chế độ quy định.
- Tham gia kiểm tra đánh giá lại tài sản lại TSCĐ theo quy định của
Nhà nớc và yêu cầu bảo quản vốn, tiến hành phân tích tình hình trang bị,
huy động bảo quản, sử dụng TSCĐ tại đơn vị.
II) Nội dung chuẩn mực kế toán TSCĐ thuê tài chính (VSA 06)
2.1) Nội dung chuẩn mực kế toán TSCĐ thuê tài chính của Việt Nam.
a) Phân loại thuê tài sản.
Việc phân loại thuê tài sản áp dụng trong chuẩn mực này đợc căn cứ
vào mức độ chuyền giao các rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu tài
sản thuê từ bên cho thuê và bên thuê. Thuê tài sản đợc phân loại là thuê tài
Tại thời điểm thuê , bên thuê ghi nhận TSCĐ thuê tài chính là tài sản và
nợ phải trên bảng cân đối kế toán với cùng một giá trị bằng giá trị hợp lý của
tài sản thuê. Nếu giá trị hợp lý của tài sản thuê cao hơn giá trị hiện tại của
khoản thanh toán tiền thuê tối thiểu cho việc thuê tài sản thì ghi theo giá trị
hiện tại của khoản thanh toán tiền thuê tối thiểu. Tỷ lệ chiết khấu để tính giá
trị hiện tại của khoản thanh toán tiền thuê tối thiểu cho việc thuê tài sản là
lãi suất ngầm định trong hợp đồng thuê tài sản hoặc lãi suất ghi trong hợp
đồng.Trờng hợp không thể xác định đợc lãi suất ngầm định trong hợp đồng
thuê thì sử dụng lãi suất bên đi vay của bên thuê tài sản để tính giá trị hiện
tại của khoản thanh toán tiền thuê tối thiểu. Giá trị hợp lý hoặc giá trị hiện
tại của khoản thanh toán tiền thuê tối thiêut ghi nhận giá trị TSCĐ thuê tài
chính là cha có thuế giá trị gia tăng (kể cả TSCĐ thuê tài chính dùng vào
hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ thuộc đối tợng chịu thuế
GTGT tính theo phơng pháp khấu trừ, phơng pháp trực tiếp và không chịu
thuế GTGT).
Các chi phí trực tiếp phát sinh ban đầu liên quan đến hoạt động thuê tài
chính đợc tính vào nguyên giá của tài sản thuê.
Khoản thanh toán tiền thuê tài sản thuê tài chính phải đợc chia ra thành chi
phí tài chính ( số tiền lãi thuê tài chính ) và khoản phải trả nợ gốc từng kỳ. Số
tiền lãi thuê tài chính phải đợc hạch toán vào chi chí tài chính từng kỳ, đợc xác
định bằng công thức:
kỳtừng
lãi tiềnphí Chi
=
lại còn
gốc nợdư Số
*
ịnhđ cố kỳịnhđ
suất lãi lệ Tỷ
Trong trờng hợp số thuế GTGT do bên cho thuê đã trả khi mua TSCĐ để
(4)
(6) toán kếcủa kỳ sinhphát tháng Số
(5) toán kế kỳtrong
sinhphát tế thựcphí chi tháng Số
*nsả tài từng
chophí Chi
(3) (%)
hoávốn
lệ Tỷ
=
(8) gốc vayn khoảcác
quyềngia nâqu nhìb dư Số
(7) kỳtrong sinhphát
vayn khoảcáccủa tế thực vaylãi tiền số Tổng
*100%
(8) gốc nợ
n khoảcác quyềngia
nâqu nhìb dư Số
=
(9) gốc vay
(6) toán kế kỳ
của sinhphát tháng Số
(5) toán kế kỳtrong sinh
phát vayn khoảtừngmà tháng Số
* n khoảtừng
của dư Số
Việc vốn hoá chi phí lãi thuê sẽ đợc tạm ngừng lại trong các trong các giai
Thuê tài sản đợc chia làm hai loại:
- Cho thuê tài chính là chuyền giao thực chất toàn bộ rủi ro và lợi
ích liên quan tới sở hữu tài sản. Quyền sở hữu về sau có thể đợc chuyền
giao hoặc không.
- Cho thuê hoạt động là những hợp đồng cho thuê không phải là cho
thuê tài chính. Việc phân loại này đợc thực hiện từ khi bắt đầu cho thuê.
Nguyên tắc chú trọng nội dụng hơn hình thức của hợp đồng cho thuê là
yếu tố chỉ dẫn cho việc phân loại. Nó đợc dựa trên mức độ rủi ro và lợi
ích đi kèm việc sở hữu tài sản cho thuê thuộc về ngời đi thuê hay ngời
cho thuê.
Các khoản cho thuê tài chính gồm có:
- Chuyển giao quyền sở hữu tài sản cho bên đi thuê khi hết hạn cho
thuê.
- Bên đi thuê khá chắc chắn là sẽ thực hiện quyền lựa chọn mua theo
giá thơng lợng.
- Thời hạn cho thuê chiếm phần lớn thời gian sử dụng hữu ích của
tài sản.
- Giá trị hiện tại của số tài sản thanh toán tối thiểu xấp xỉ giá trị hợp
lý của tài sản cho thuê.
- Tài sản cho thuê có tính chất đặc biệt và chỉ thích hợp cho bên đi
thuê.
Phạm Thị Thuỳ Linh Kế toán 43 A
7
Đề án môn học chuyên ngành
- Bên đi thuê sẽ phải chịu tổn thất do huỷ bỏ hợp đồng.
- Biến động lợi nhuận, tổn thất từ giá trị thanh lý đợc chuyển sang
cho ngời đi thuê.
- Giá cho thuê thêm thời hạn tiếp theo có thể thấp hơn nhiều so với
giá thị truờng
b)Việc kế toán TSCĐ thuê tài chính.
nhận trên sổ sách, báo cáo kế toán trong kỳ phải có sự phân biệt giữa nợ ngắn
hạn và dài hạn, số tiền thanh toán thuê lại tối thiểu trong tơng lai dự tính thu đ-
ợc dới hình thức cho thuê lại không thể huỷ bỏ vaò ngày lập bảng cân đối kế
toán. Riêng đối với tiền cho thuê bất thờng đợc ghi nhận vào thu nhập trong kỳ.
2.3) So sánh Chuẩn mực kế toán TSCĐ thuê tài chính của Việt Nam
(VAS 06 ) với Chuẩn mực kế toán quốc tế về TSCĐ thuê tài chính
(IAS 17 ).
Những điểm giống nhau.
Phạm Thị Thuỳ Linh Kế toán 43 A
8
Đề án môn học chuyên ngành
Việc phân loại tài sản cho thuê là thuê tài chính hay thuê hoạt động đợc
thực hiện từ khi bắt đầu cho thuê và tuân theo nguyên tắc coi trọng nội
dung hơn hình thức của hợp đồng thuê.
Kế toán của bên thuê
Tại thời điểm khởi đầu thuê tài sản, TSCĐ thuê tài chính phải đợc ghi nhận
là tài sản và nợ phải trả trong Bảng cân đối kế toán của bên đi thuê cùng với
một giá trị. Bên cạnh đó, việc tính toán giá trị hiện tại của khoản thanh toán trên
thuê tối thiểu sẽ phải sử dụng lãi suất ngầm định trong hợp đồng thuê (là tỷ lệ
chiết khấu tại thời điểm khởi đầu thuê tài sản, để tình giá trị hiện tại của khoản
thanh toán tiền thuê tối thiểu và giá trị còn lại không đợc đảm bảo để cho tổng
cuả chúng đúng bằng giá trị hợp lý của tài sản thuê) hoặc lãi suất bên đi vay của
bên đi thuê (là lãi suất mà bên thuê sẽ phải trả cho một hợp đồng thuê tài chính
tơng tự hoặc là lãi suất tại thời điểm khởi đầu thuê tài sản mà bên thuê sẽ phải
trả để vay một khoản cần thiết cho việc mua tài sản với một thời hạn và với một
đảm bảo tơng tự). Các chi phí trực tiếp ban đầu liên quan tới các hoạt động cho
thuê đợc vốn hoá vào tài sản nh chi phí đàm phán, ký kết hợp đồng khoản
thanh toán cho hợp đồng CTTC phải đợc tách ra thành chi phí tài chính và
khoản phải trả nợ gốc. Chi phí tài chính phải đợc tính theo từng kỳ kế toán trong
suốt thời hạn thuê theo tỷ lệ lãi suất định kỳ cố định trên số d nợ còn lại cho
thuê tại thời điểm khởi đầu thuê tài sản, nếu giá trị hợp lý của tài sản thuê cao
hơn giá trị hiện tại của khoản thanh toán tiền thuê tối thiểu cho việc thuê tài sản
thì ghi theo giá trị hiện tại của khoản thanh toán tiền thuê tối thiểu. Ơ điểm này
thì VAS 06 sát thực tế hơn và đón trớc vấn đề có thể xảy ra .
Về việc công bố của bên đi thuê: trong VAS 06 có đa thêm thông tin về
căn cứ xác định tiền thuê phát sinh thêm, điều khoản gia hạn hợp đồng thuê
hoặc quyền đợc mua lại tài sản. Còn IAS 17 quy định cung cấp thêm một số
thông tin nh: các khoản nợ đối ứng với các tài sản thuê phải đợc trình bày tách
biệt với các khoản nợ khác và phải phân biệt phần nợ ngắn hạn và nợ dài hạn,
nhng yêu cầu về khấu hao đối với nhà xởng, máy móc, thiết bị cho thuê, số tiền
thanh toán thuê lại tối thiểu trong tơng lai dự tính thu đợc dới hình thức cho
thuê lại không thể huỷ bỏ vào ngày lập Bảng cân đối kế toán.
Những sự khác biệt trên là do IAS đa ra những quy định chung nhất cho tất
cả các nớc. Khi đa vào áp dụng ở mỗi nớc, nó phải chịu ảnh hởng của điều kiện
kinh tế xã hội, cùng với chế độ chính trị... của nớc đó. Do vậy mỗi nớc phải có
hệ thống Chuẩn mực kế toán riêng phù hợp với thực tiễn, không thể áp dụng
máy móc Chuẩn mực kế toán quốc tế. Đó là sự áp dụng sáng tạo để phù hợp và
từng bớc hoàn thiện. IAS s là những quy định chung còn VAS s là những quy
định cụ thể áp dụng cho Việt Nam.
III) Nội dung hạch toán TSCĐ thuê tài chính.
3.1) Thủ tục chứng từ.
Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra thờng xuyên
liên tục do vậy mà TSCĐ nói chung và TSCĐ thuê tài chính nói riêng của
doanh nghiệp cũng thờng xuyên biến động. Điều này thuỳ thuộc vào đờng
lối chính sách, chiến lợc kinh doanh của doanh nghiệp cũng nh các đối thủ
cạnh tranh. Để quản lý tốt TSCĐ, đặc biệt là TSCĐ thuê tài chính, kế toán
phải phản ánh theo dõi chặt chẽ đầy đủ mọi trờng hợp biến động. Khi có tài
sản tăng do bất kỳ nguyên nhân nào đều phải có ban kiểm nghiệm TSCĐ
làm thủ tục nghiệm thu, đồng thời cùng với bên giao lập Biên bản giao
nhận TSCĐ ( Mẫu số 01- 01 TSCĐ /BB) theo mẫu quy định trong Chế
dụng nh tài sản của doanh nghiệp. Nguyên giá của TSCĐ thuê tài chính là giá
cha có thuế GTGT do bên thuê đã trả khi mua TSCĐ để cho thuê. Nếu TSCĐ
thuê tài chính dùng vào hoạt động sản suất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ thuộc
đối tợng chịu thuế GTGT tính theo phơng pháp khấu trừ thuế thì số thuế GTGT
phải trả từng kỳ đợc ghi vào bên nợ TK 133 thuế GTGT đợc khấu trừ
( 1332). Nếu TSCĐ này dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch
vụ thuộc đối tợng không chịu thuế GTGT hoặc chịu thuế GTGT theo phơng
pháp trực tiếp thì số thuế GTGT phải trả từng kỳ đợc ghi vào chi phí sản xuất
kinh doanh trong kỳ. Trờng hợp bên thuê nhận nợ cả số thuế GTGT mà bên cho
thuê đã trả khi mua TSCĐ để cho thuê thì số thuế GTGT đợc theo dõi trên tài
khoản 138 phải thu khác và số phân bổ để khấu trừ thuế GTGT hoặc chi phí
kinh doanh trong kỳ theo từng kỳ nhận hoá đơn thanh toán tiền thuê.
Tài khoản này không phản ánh giá trị của các TSCĐ đi thuê hoạt động. Nó
đợc mở chi tiết để theo dõi từng loại, từng tài sản đi thuê. Việc ghi nhận nguyên
giá của TSCĐ thuê tài chính tại thời điểm khởi đầu thuê đựoc thực hiện theo
quy định của Chuẩn mực kế toán số 06 Thuê tài sản.
Giá trị hiện tại của khoản thanh toán tiền thuê tối thiểu đuợc tính theo
công thức:
PV
=
+1
1=
n
t
t
i
a
)(
Trong đó :