Luận văn cuối khoá
Lời nói đầu
Kế toán là một trong những công cụ quản lý kinh tế có hiệu quả trong hệ
thống công cụ quản lý kinh tế. Với với việc kiểm tra, giám sát và cung cấp thông
tin kinh tế tài chính phục vụ cho việc ra quyết định kinh doanh tối u cho các nhà
quản trị, kế toán đang là công cụ đợc quan tâm của các nhà quản lý.
Trong sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nớc, kế tóan càng tỏ ra là
một công cụ kinh tế quan trọng không thể thiếu đợc của các nhà quản trị. Kinh tế
thị trờng xuất hiện ngày càng nhiều các loại hình doanh nghiệp, nhiều sản phẩm
hàng hoá, vì thế quá trình cạnh tranh ngày càng trở nên găy gắt. Mục tiêu của tất
cả các doanh nghiệp là đạt đợc lợi nhuận cao nhất, giành thắng lợi trong các cuộc
cạnh tranh. Một trong những biện pháp quan trọng là phải giảm chi phí và hạ giá
thành sản phẩm.
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là những chỉ tiêu quan trọng trong
hệ thống các chỉ tiêu kinh tế phục vụ cho công tác quản lý của doanh nghiệp, nó
có mỗi quan hệ với doanh thu, kết quả hoạt động của doanh nghiệp. Nếu doanh
nghiệp giảm bớt đợc chi phí sản xuất sẽ góp phần hạ thấp đợc giá thành sản phẩm,
tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trờng.Điều đó
đặt ra cho kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm một nhiệm vụ quan
trọng và có ý nghĩa to lớn trong toàn bộ công tác kế toán của doanh nghiệp, họ
luôn phải tìm mọi biện pháp để kiểm tra kiểm soát chi phí một cách có hiệu quả
nhất nhằm tiết kiệm chi phí hạ gái thành sản phẩm, đồng thời cung cấp đợc các
thông tin hữu ích cho các nhà quản trị để họ kịp thời đa ra các quyết định hợp lý
nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh.
Trong thời gian thực tập tại công ty Da Giầy Hà Nội, đợc tiếp xúc với công
việc của bộ phận kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm, mặt khác xét
thấy tầm quan trọng của phần hành kế toán này. Nên em đã mạnh dạn đi sâu
nghiên cứu, tìm hiểu về công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính gía thành
sản phẩm.
Nhờ có sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy giáo Phạm Toàn Thắng và sự hỗ trợ
của công ty Da Giầy Hà Nội đặc biệt là phòng Tài chính- Kế toán, em đã hoàn
để cho công tác quản lý sản xuất, sử dụng vốn có hiệu quả, đảm bảo chủ động
về mặt tài chính nói riêng và chủ động trong hoạt động sản xuất kinh doanh nói
chung.
Nguyễn Thị Hiền Lớp: K39 - 2101
Luận văn cuối khoá
Công tác tính giá thành không chỉ có ý nghĩa đối với doanh nghiệp mà còn
có ý nghĩa lớn đối với Nhà Nớc và các bên liên quan.
Đối với Nhà Nớc thì công tác tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm sẽ giúp cho Nhà Nớc có cái nhìn tổng thể, toàn diện đối với sự phát
triển của nền kinh tế từ đó có các chính sách hợp lý, khuyến khích các doanh
nghiệp làm ăn có hiệu quả đồng thời có các giải pháp để hạn chế tình trang thua
lỗ của một số doanh nghiệp làm ăn không hiệu quả.
Đối với các bên liên quan thì công tác tập hợp chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm cũng có ý nhĩa không nhỏ. Ngân hàng, các nhà đầu t chỉ dành
sự u tiên cũng nh sự đầu t vào các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, các thông
tin về chi phí giá thành sản phẩm, lợi nhuận chính xác và tích cực.
Tóm lại công tác tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm có ý nhĩa vô
cùng quan trọng, nó ảnh hởng trực tiếp đến quyền lợi các doanh nghiệp, cũng
nh các bên có liên quan. Để nó thực sự phát huy đợc vai trò của mình thì công
tác kế toán cần phải tuân theo chế độ pháp luật quy định hiện hành đồng thời
phải phù hợp với đặc thù của doanh nghiệp.
1.1.2 chi phí sản xuất và gía thành sản phẩm
* Chi phí sản xuất.
Hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp bao gồm các khâu, các quá trình sau
đây:
- Hoạt động mua hàng: mua vật t, mua sản phẩm, hàng hoá, TSCĐ
- Hoạt động sản xuất chế tạo sản phẩm, thực hiện cun cấp lao vụ.
- Hoạt động bán hàng, sản phẩm lao, vụ dịch vụ
- Hoạt động khác: hoạt động tài chính, hoạt động bất thờng.
- Hoạt động quản lý
* Chi phí hoạt động chính và hoạt động phụ
Chi phí hoạt động chính và hoạt động phụ bao gồm các chi phí tạo ra doanh
thu bán hàng của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Dựa vào chức
năng và công dụng của chi phí thì chi phí này lại đợc chia thành chi phí trong sản
xuất và chi phí ngoài sản xuất.
Nguyễn Thị Hiền Lớp: K39 - 2101
Luận văn cuối khoá
*Chi phí sản xuất: Là toàn bộ hao phí lao động sống lao động vật hoá và
các khoản chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp phải bỏ ra trong quá trình sản
xuất sản phẩm, lao vụ trong một thời kỳ nhất đinh và đợc biểu hiện bằng tiền.
Chi phí sản xuất của doanh nghiệp bao gồm:
+ Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Bao gồm các chi phí nguyên vật liệu
chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế ... đợc sử dụng trực tiếp cho quá
trình chế tạo ra sản phẩm.
+ Chi phí nhân công trực tiếp: Bao gồm tiền lơng, tiền công phải trả cho
ngời lao động và các khoản trích BHXH, BHYT, KPHCĐ trên tiền lơng tiền công
của công nhân sản xuất trực tiếp sản xuất ra sản phẩm cho doanh nghiệp.
+ Chi phí sản xuất chung: Là các khoản chi phí phát sinh nhằm mục đích
phục vụ và quản lý sản xuất trong phạm vi các phân xởng, tổ đội sản xuất. Chi
phí sản xuất bao gồm các khoản mục chi phí sau:
- Chi phí nhân viên phân xởng: Là khoản chi phí bao gồm tiền lơng và các
khoản trích theo lơng: BHXH, BHYT, KPCĐ của nhân viên quản lý tại phân
xởng tổ đội sản xuất.
- Chi phí vật liệu: Bao gồm chi phí vật liệu đợc dùng chung cho toàn xí
nghiệp với mục đích phục vụ và quản lý phân xởng
- Chi phí dụng cụ: Bao gồm chi phí dụng cụ đợc sử dụng chung cho toàn
doanh nghiệp với mục đích phục vụ và quản lý phân xởng
- Chi phí khấu hao TSCĐ: Là khoản chi phí khấu hao đợc trích của các
TSCĐ do các phân xởng sử dụng và quản lý phục vụ sản xuất sản phẩm.
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: Là toàn bộ chi phí phải trả cho các dịch vụ
nh: Chi phí thanh lý, nhợng bán TSCĐ, tiền phạt do vi phạm hợp đồng, các khoản
phạt, truy thu thuế .
1.2.1.2 Phân loại chi phí theo yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp:
Nghiên cứu chi phí trên phơng diện của quá trình sản xuất thì chi phí sản
xuất kinh doanh đợc chia thành chi phí ban đầu và chi phí luân chuyển nội bộ
Nguyễn Thị Hiền Lớp: K39 - 2101
Luận văn cuối khoá
+ Chi phí ban đầu:
Chi phí ban đầu là các khoản chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để mua
sắm. lo liệu chuẩn bị từ lúc ban đầu trớc khi tiến hành quá trình sản xuất kinh
doanh. Loại chi phí này còn đợc gọi là chi phí ngoại sinh.
Căn cứ vào tính chất kinh tế và hình thái nguyên thuỷ, các chi phí ban đầu
đợc chia thành các yếu tố khác nhau, không kể chi phí đó đợc làm gì và phát
sinh ở địa điểm nào. Chi phí ban đầu đợc chia thành các yếu tố chi phí sau:
+ Chi phí nguyên vật liệu:
- Chi phí nguyên vật liệu bao gồm giá mua và chi phí mua đợc tính vào giá
gốc của nguyên vật liệu đợc sử dụng vào quá trình sản xuất kinh doanh trong kỳ.
Yếu tố chi phí này bao gồm chi phí nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên
liệu, phụ tùng thay thế, và các chi phí nguyên vật liệu khác
- ý nghĩa của việc nhận biết yếu tố chi phí nguyên vật liệu là giúp cho các
nhà quản lý doanh nghiệp xác định đợc tổng giá trị nguyên vật liệu cần thiết cho
nhu cầu sản xuất kinh doanh trong kỳ.trên cơ sở đó mà các nhà quản trị biết đợc
tổng mức luân chuyển và mức dự trữ cần thiết của nguyên liệu một cách hợp lý
trách tình trạng ứ đọng quá lớn và tình trạng thiếu hụt nguyên liệu trong quá trình
sản xuất làm giảm hiệu quả.Và đây cũng chính là cơ sở để có kế hoạch trong
công tác thu mua tìm kiếm thị trờng cho các mặt hàng thiết yếu.
+Chi phí nhân công:
- Yếu tố chi phí nhân công là các khoản tiền lơng phải trả cho ngời lao động
cùng với các khoản trích theo lơng nh: BHXH,BHYT,KPCĐ theo tiền lơng của
vào của quá trình sản xuất. Chi phí luân chuyển nội bộ là chi phí tổng hợp đợc
cấu thành bởi nhiều yếu tố chi phí đơn nhất ban đầu.
Phân loại chi phí theo yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất thành chi phí
ban đầu và chi phí luân chuyển nội bộ có ý nghĩa rất quan trọng đối với quản lý
vĩ mô cũng nh với quản trị doanh nghiệp.
+ Chi phí sản xuất kinh doanh ban đầu theo yếu tố là cơ sở lập và kiểm tra
việc thực hiện dự toán chi phí sản xuất theo yếu tố.
+Chi phí sản xuất kinh doanh ban đầu theo yếu tố là cơ sở để lập các kế
hoạch cân đối trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân cũng nh ở từng doanh nghiệp
Nguyễn Thị Hiền Lớp: K39 - 2101
Luận văn cuối khoá
(cân đối giữa dự toán chi phí với kế hoạch cung ứng vật t, kế hoạch lao động tiền
lơng, kế hoạch khấu hao TSCĐ)
+ Là cơ sở xác định mức tiêu hao vật chất và tính thu nhập quốc dân của
toàn doanh nghiệp cũng nh toàn bộ nền kinh tế.
1.2.1.3 Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo khả năng quy nạp vào các
đối tợng kế toán chịu chi phí
Theo tiêu thức này chi phí sản xuất kinh doanh đợc chia thành chi phí trực
tiếp và chi phí gián tiếp.
* Chi phí trực tiếp: là chi phí liên quan trực tiếp đến từng đối tợng chịu kế
toán tập hợp chi phí nh: chi phí liên quan trực tiếp tới một loại sản phẩm, một
công việc một lao vụ hoặc một hoạt động, một địa điểm và hoàn toàn có thể quy
nạp trực tiếp cho từng đối tợng chịu chi phí.Loại chi phí này thờng chiếm tỷ
trọng lớn trong tổng chi phí ví dụ nh: chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công
trực tiếp.
* Chi phí gián tiếp: Là chi phí có liên quan đến nhiều đối tợng kế toán tập
hợp chi phí khác nhau nên không thể quy nạp trực tiếp đợc, vì vậy cần phải tập
hợp quy nạp phân bổ cho từng đối tựơng tập hợp chi phí theo phơng pháp phân
bổ gián tiếp.
Khi thực hiện phân bổ chi phí cho từng đối tợng, doanh nghiệp cần phải lựa
công trực tiếp, chi phí hoa hồng đại lý...
- Biến phí không tỷ lệ thuận
Đó là biến phí mà tổng số thì có tốc độ tăng nhanh hơn tốc độ tăng của khối
lợng hoạt động. Do vậy chi phí cho một đơn vị hoạt động cũng tăng lên. Ngợc lại
có một số loại chi phí khả biến có tốc độ tăng chậm hơn tốc độ tăng của khối l-
ợng hoạt động. Do vậy chi phí cho một đơn vị hoạt động lại giảm đi
* Chi phí bất biến:
Đinh phí là nhng chi phí mà tổng số không thay đổi khi có sự thay đổi về
mức độ hoạt động của đơn vị. Nếu xét tổng chi phí thì định phí không thay đổi .
Ngợc lại nếu xét chi phí này trên một đơn vị khối lợng hoạt động thì nó tỉ lệ
nghịch với mức độ hoạt động.
Nguyễn Thị Hiền Lớp: K39 - 2101
Luận văn cuối khoá
Nh vậy thì doanh nghiệp có hoạt động hay không thì vẫn tồn tại chi phí bất
biến. Ngợc lại khi doanh nghiệp tăng mức hoạt động thì định phí trên một đơn vị
khối lợng hoạt động sẽ giảm dần.
Tuy vậy định phí cũng không tồn tại thuần nhất dới một hình thức mà nó
tồn tại dới nhiều hình thức.
- Định phí tuyệt đối:
Là những chi phí mà xét tổng số thì không thay đổi khi có sự thay đổi của
khối lợng hoạt động. Khi đó chi phí cho một hoạt động giảm đi. Ví dụ: Chi phí
khấu hao TSCĐ theo phơng pháp đờng thẳng, tiền lơng trả theo thời gian
- Định phí tơng đối:(định phí cấp bậc)
Là những loại chi phí chỉ có tính chất cố định tơng đối. Nó chỉ cố định trong
một giới hạn mức độ hoạt động nhất định, sau đó nếu khối lợng hoạt động tăng
lên thì khoản chi phí này tăng lên một mức mới tơng ứng.
- Định phí bắt buộc:
Là định phí không thay thế thay đổi đợc một cách nhanh chóng vì chúng th-
ờng liên quan đến TSCĐ và cấu trúc tổ chức cơ bản của một doanh nghiệp
- Định phí tuỳ ý:
doanh đợc thực hiện.
Gía thành sản xuất thực tế: Là giá thành đợc tính toán trên cơ sở chi phí sản
xuất thực tế và số lợng sản phẩm đã hoàn thành. Giá thành thực tế phản ánh kết
quả phấn đấu của doanh nghiệp trong việc tiết kiệm chi phí sản xuất và hạ giá
thành và do bộ phận kỹ thuật của doanh nghiệp tính toán khi quá trình sản xuất
đã kết thúc.
* Căn cứ vào phạm vi tính toán chi phí va nội dung chi phí cấu thành
trong giá thành thì giá thành đợc chia thành:
- Gía thành sản xuất toàn bộ:
Giá thành toàn bộ là giá thành bao gồm toàn bộ chi phí cố định và chi phí
biến đổi thuộc chi phí nguyên vật liệu trực tiếp chi phí nhân công trực tiếp và chi
phí sản xuất chung.
Giá thành toàn bộ có ý nghĩa quan trọng trong quản trị doanh nghiệp, giá
thành sản xuất toàn bộ đóng vai trò chủ yếu trong các quyết định mang tính chất
chiến lợc dài hạn.Tuy nhiên đối với doanh nghiệp sản xuất nhiều loại sản phẩm
Nguyễn Thị Hiền Lớp: K39 - 2101
Luận văn cuối khoá
thì việc xác định giá thành toàn bộ một cách thờng xuyên gặp rất nhiều khó khăn
và phức tạp.
Nguyễn Thị Hiền Lớp: K39 - 2101
Luận văn cuối khoá
- Giá thành sản xuất theo biến phí:
Giá thành theo biến phí chỉ bao gồm các biến phí sản xuất kể cả biến phí
trực tiếp và biến phí gián tiếp. Nh vậy trong phơng pháp xác định giá thành sản
xuất theo biến phí, các chi phí cố định đợc trực tiếp tính ngay vào báo cáo kết
quả kinh doanh nh các chi phí thời kỳ trong niên độ mà không tính vào giá thành
sản xuất.
Do giá thành chỉ bao gồm biến phí sản xuất nên còn gọi là giá thành bộ
phận. Trên cơ sở giá thành bộ phận, doanh nghiệp sẽ xác định đợc lãi gộp trên
biến phí và cho phép mô hình hoá một cách đơn giản mỗi quan hệ giá thành, khối
biệt cho loại sản phẩm nào đã hoàn thành hay cha, còn khi nói đến giá thành là
xác định một lợng chi phí sản xuất nhất định, tính cho một đại lợng kết quả hoàn
thành nhất định.
Qúa trình sản xuất là một quá trình hoạt động liên tục, còn việc tính giá
thành sản phẩm lại tại một điểm có tính chất chu kỳ. Tại thời điểm tính giá thành
có một lợng sản phẩm sản phẩm cha hoàn thành chứa đựng trong đó một lợng chi
phí- đó là chi phí dở dang cuối kỳ. Tại thời điểm đầu kỳ có thể có một khối lợng
sản phẩm sản xuất cha hoàn thành ở kỳ trớc chuyển sang, chứa đựng trong nó
một lợng chi phí- đó là chi phí sản xuất kinh doanh dở dang cuối kỳ. Nh vậy giá
thành sản phẩm hoàn thành trong kỳ bao gồm chi phí sản xuất của kỳ trớc
chuyển sang và chi phí phát sinh trong kỳ.
Giá thành Chi phí sản xuất Chi phí sản xuất Chi phí sản xuất
= + -
sản phẩm dở dang đầu kỳ phát sinh trong kỳ dở dang cuối kỳ
Giá thành tại thời điểm đầu kỳ có thể có một khối lợng sản phẩm sản xuất
châ hoàn thành ở kỳ trớc chuyển sang, chứa đựng trong nó một lợng chi phí, đó
là chi phí sản xuất kinh doanh dở dang cuối kỳ. Nh vậy giá thành sản phẩm hoàn
thành trong kỳ bao gồm chi phí sản xuất của kỳ trớc chuyển sang và chi phí phát
sinh trong kỳ.
Mặt khác việc giới hạn chi phí tính vào giá thành sản phẩm gồm những chi
phí nào còn tuỳ thuộc vào quan điểm tính toán xác định chi phí doanh thu kết
Nguyễn Thị Hiền Lớp: K39 - 2101
Luận văn cuối khoá
quả, cũng nh những quy định chế độ kế toán hiện hành nh vậy việc tính giá thành
sản phẩm mang tính chất chủ quan. Do đó đòi hỏi các nhà quản trị cần phải
nhận thức rõ ràng đầy đủ để sử dụng những thông tin cho thích hợp.
Trong công thức nói trên giá thành sản phẩm đợc hiểu là giá thành sản xuất,
chi phí là chi phí liên quan đến quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm không bao
Đối tọng tính giá thành là các sản phẩm, công việc, lao vụ dịch vụ, mà
doanh nghiệp đã hoàn thành, cần đợc tính tổng giá thành và giá thành đơn vị.
Cũng nh đối tợng tập hợp chi phí thì khi xác định đối tợng tính giá thành
cần phải căn cứ vào nhiều yếu tố nh: Đặc điểm tổ chức sản xuất và cơ cấu sản
xuất, quy trình công nghệ sản xuất, chế tạo sản phẩm, các yêu cầu quản lý, yêu
cầu cung cấp thông tin, cho việc ra các quyết định trong doanh nghiệp; khả năng
và trình độ quản lý, hạch toán.
- Nếu doanh nghiệp tổ chức sản xuất kiểu đơn chiếc thì từng sản phẩm,
công việc là đối t ọng tính giá thành ví dụ: Từng công trình, hạng mục công
trình trong doanh nghiệp XDCB, từng con tàu trong công nghiệp đóng tàu.
- Nếu doanh nghiệp sản xuất hàng loạt thì từng loại sản phẩm, từng đơn đặt
hàng là đối t ợng tính giá thành.
- Nếu doanh nghiệp có quy trình sản xuất giản đơn thì đối tọng tính giá
thành là sản phẩm, dịch vụ, lao vụ, đã hoàn thành của quá trình sản xuất.
- ở các doanh nghiệp có quy trình sản xuất phức tạp kiểu liên tục, sản phẩm
phải trải qua nhiều giai đoạn công nghệ thì tuỳ theo yêu cầu quản lý và dặc điểm
sử dụng của sản phẩm mà đối tợng tính giá thành có thể là thành phẩm hoàn
thành ở giai đoạn cuối cùng, và cũng có thể là thành phẩm và nửa thành phẩm ở
từng giai đoạn công nghệ.
- Đối với các sản phẩm có quy trình sản xuất phức tạp kiểu song song thì
đối tợng tính giá thành có thể từng bộ phận, chi tiết sản phẩm hoặc sản phẩm lắp
ráp hoàn chỉnh.
Các yêu cầu quản lý đặc biệt là yều cầu cung cấp thông tin cần thiết cho
việc ra các quyết định trong quá trình quản trị của doanh nghiệp là căn cứ quan
trọng trong việc xác định đối tợng tính giá thành sản phẩm. Điều này thể hiện rõ
mục đích thông tin kế toán. Việc xác định đối tợng kế toán chi tiết hay tổng quát
còn phụ thuộc và trình độ hạch toán, khả năng quản lý của doanh nghiệp.
Nguyễn Thị Hiền Lớp: K39 - 2101
Luận văn cuối khoá
1.3.3 Mỗi quan hệ giữa đối tọng kế toán tập hợp chi phí sản xuất và đối tọng
Luận văn cuối khoá
cho từng đối tợng kế toán tập hợp chi phí đợc. Trong trờng hợp này phải tập hợp
chung cho nhiều đối tợng, sau đó dùng tiêu thức phân bổ thích hợp để phân bổ
khoản chi phí này cho từng đối tọng kế toán chi phí theo công thức:
- Xác định hệ số phân bổ
Tổng chi phí cần phân bổ
Hệ số phân bổ =
Tổng tiêu chuẩn dùng để phân bổ
- Xác định mức chi phí phân bổ cho từng đối tợng:
C = T * H
Trong đó:
C: Chi phí sản xuất phân bổ cho đối tợng thứ i
T: Tiêu chí phân bổ cho đối tợng thứ i
H: Hệ số phân bổ
Đại lợng của tiêu chuẩn phân bổ đợc lựa chọn tuỳ thuộc vào từng trờng hợp
cụ thể. Độ chính xác của thông tin về chi phí phụ thuộc vào tính hợp lý khoa học
của tiêu thức phân bổ đợc lựa chọn.
1.5 Kế toán tập hợp chi phí sản xuất
1.5.1 Kế toán tế toán tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là toàn bộ chi phí nguyên vật liệu chính,
nửa thành phẩm mua ngoài, vật liệu phụ, nhiên liệu sử dụng trực tiếp cho việc sản
xuất chế tạo sản phẩm hoặc thực hiện lao vụ dịch vụ.
Khi phát sinh các khoản chi phí về nguyên vật liệu trực tiếp, kế toán căn cứ
vào phiếu xuất kho vật liệu và các chứng từ khác có liên quan để xác định giá
vốn của số nguyên vật liệu xuất dùng cho sản xuất chế tạo sản phẩm( theo phơng
pháp mà doanh nghiệp đó lựa chọn).
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp để sản xuất sản phẩm phần lớn là chi phí
trực tiếp nên đợc tập hợp trực tiếp cho từng đối tợng liên quan căn cứ vào phiếu
xuất kho vật liệu và báo cáo sử dụng vật liệu ở từng phân xởng (đội, địa điểm sản
ở địa
điểm sản
xuất
Trị giá
NVL
xuất sủ
dụng
trong kỳ
Chi phí
NVL
trực tiếp
trong
kỳ
Trị giá
NVL
còn lại
cuối kỳ
chưâ sử
dụng hết
Trị giá
phế liệu
thu hồi
( nêu có)
Luận văn cuối khoá
- Bên Có: Trị giá vốn nguyên vật liệu sử dụng không hết, nhập lại kho
- Trị giá của phế liệu thu hồi( nếu có)
- Kết chuyển chi phí nguyên vật liệu trực tiếp để tính giá thành sản phẩm
Tài khoản 621 không có số d cuối kỳ.
Trình tự kế toán một số nghiệp vụ chủ yếu:
Nguyễn Thị Hiền Lớp: K39 - 2101
chịu chi phí liên quan. Trờng hợp chi phí nhân công trực tiếp liên quan đến nhiều
đối tợng mà không hạch toán đợc nh( tiền lơng phụ, các khoản phụ cấp, hoặc
tiền lơng theo thời gian của công trình sản xuất thực hiện nhiều công tác khác
nhau trong ngày ) thì đ ợc tập hợp chung sau đó chọn tiêu thức thích hợp để
phân bổ cho các đối tợng bị chi phí có liên quan.
Tiêu chuẩn để phân bổ chi phí nhân công trực tiếp có thể là:
- Chi phí tiền công định mức
- Giờ công định mức
- Giờ công thực tế
- Khối lợng sản phẩm sản xuất
Một điều cần chú ý là chi phí nhân công trực tiếp bao gồm tiền lơng và các
khoản trích theo lơng liên quan đến quá trình sản xuất trong kỳ không kể các
khoản đó đã thanh toán cho ngời lao động hay cha.
Để kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp kế toán sử dụng tài khoản 622-
chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
Tài khoản 622 đợc mở chi tiêt theo từng đối tợng tập hợp chi phí đã xác
định
Kết cầu của tài khoản này nh sau:
Bên Nợ: Chi phí nhân công trực tiếp trong kỳ
Bên Có: Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp để tính giá thành sản phẩm.
Tk 622 không có số d cuối kỳ
Trình tự một số nghiệp vụ chủ yếu:
Sơ đồ kế toán chi phí nhân công trực tiếp
Nguyễn Thị Hiền Lớp: K39 - 2101
Luận văn cuối khoá
TK 334 TK622 TK 154(631)
(1)Tiền lơng phải trả (4)Kết chuyển chi phí nhân
cho công nhân sản xuất trực tiếp tính giá thành sản phẩm
TK 335
(2)Trích trớc tiền lơng