Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
§¹i häc Th¬ng m¹i
LỜI NÓI ĐẦU
Những năm vừa qua, cùng với quá trình phát triển nền kinh tế và với sự
đổi mới sâu sắc của cơ chế kinh tế từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang
cơ chế thị trường đã tạo điều kiện cho ngành thương mại - dịch vụ nước ta
trưởng thành và phát triển, góp phần tích cực vào việc thoả mãn ngày càng tốt
hơn nhu cầu tiêu dùng xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống.
Trong điều kiện hiện nay, với xu hướng toàn cầu hoá, quan hệ buôn
bán thương mại giữa nước ta với các nước bạn ngày càng được mở rộng về
mọi mặt. Do vậy, vai trò của ngành thương mại đã trở nên rất quan trọng,
không chỉ là cầu nối giữa sản xuất với kinh doanh trong nước mà còn mở
rộng sang các nước trên thế giới. Điều này đã góp phần làm cho sản xuất
trong nước phát triển sâu rộng, hàng hoá ngày càng phong phú đa dạng vế
chủng loại, mẫu mã, chất lượng hàng hoá ngày càng được đảm bảo.
Quá trình kinh doanh của doanh nghiệp thương mại có thể hiểu là việc
dự trữ - bán ra các loại hàng hoá thành phẩm, lao vụ, dịch vụ. Trong đó bán
hàng là khâu cuối cùng và có tính quyết định đến hiệu quả của cả quá trình
kinh doanh. Bởi vì, chỉ khi bán được hàng thì mới bảo toàn và tăng nhanh tốc
độ luân chuyển vốn, giữ uy tín với bạn hàng, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với
Nhà nước, cải thiện đời sống và tinh thần của cán bộ công nhân viên, doanh
nghiệp đảm bảo có lợi nhuận để tích luỹ mở rộng phát triển sản xuất kinh
doanh. Đó chính là lí do mà các nhà quản lý dn phải luôn nghiên cứu hoàn
thiện các phương pháp quản lý nhằm thúc đẩy quá trình tiêu thụ hàng hoá.
Trong đó, kế toán là một công cụ sắc bén và quan trọng trong doanh nghiệp
không thể thiếu để tiến hành quản lý các hoạt động kinh tế, kiểm tra việc sử
dụng, quản ký tài sản, hàng hoá nhằm đảm tính năng động, sáng tạo và tự chủ
trong sản xuất kinh doanh. Tính toán và xác định hiệu quả của tiừng hoạt
động sản xuất kinh doanh, làm cơ sở vạch ra chiến lược kinh doanh. Đối với
doanh nghiệp thương mại thì kế toán tiêu thụ hàng hoá là một bộ phận công
Ph¹m Thanh Minh 6CB2KT
Đại học Thơng mại
thiu sút. Em kớnh mong c s ch bo ca cỏc thy, cỏc cụ, cỏc bỏc, v
phũng k toỏn cụng ty chuyờn c hon thin hn.
Em xin chõn thnh cm n !
CHNG I
Lí LUN CHUNG V K TON NGHIP V BN HNG
CC DOANH NGHIP THNG MI
I. C IM NGHIP V BN HNG
1. Khỏi nim
Bỏn hng l khõu cui cựng trong quỏ trỡnh hot ng kinh doanh ca doanh
nghip. Thụng qua bỏn hng, giỏ tr v giỏ tr s dng ca hng hoỏ c thc
hin; vn ca doanh nghip c chuyn t hỡnh thỏi hin vt (hng hoỏ)
sang hỡnh thỏi giỏ tr (tin t), doanh nghip thu hi vn b ra, bự p c
chi phớ v cú ngun tớch lu m rng kinh doanh v.v.
2.c im
2.1i tng phc v
V i tng phc v ca doanh nghip thng mi l ngi tiờu dựng ,bao
gm cỏc cỏ nhõn, cỏc n v sn xut, kinh doanh khỏc v cỏc c quan, t
chc xó hi.
2.2 Cỏc phng thc v hỡnh thc bỏn hng
Cỏc doanh nghip kinh doanh thng mi cú th bỏn hng theo nhiu phng
thc khỏc nhau nh bỏn buụn, bỏn l hng hoỏ, ký gi, i lý. Trong mi
phng thc bỏn hng li cú th thc hin di nhiu hỡnh thc khỏc nhau
(trc tip, chuyn hng, ch chp nhn,..)
2.2.1 Phng thc bỏn buụn:
L phng thc bỏn hng cho cỏc n v thng mi, cỏc doanh nghip sn
xut ,. . . thc hin bỏn ra hoc gia cụng, ch bin bỏn ra. c im ca
hng hoỏ bỏn buụn l hng hoỏ vn nm trong lnh vc lu thụng cha i vo
Phạm Thanh Minh 6CB2KT
3
hàng (bên mua), hai liên gửi về phòng kế toán làm thủ tục thanh toán tiền bán
hàng. Số hàng đã giao nhận xong được coi là tiêu thụ.
Ph¹m Thanh Minh 6CB2KT
4
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
§¹i häc Th¬ng m¹i
- Bán buôn hàng hoá qua kho theo hình thức chuyển hàng: Theo hình
thức này, căn cứ vào hợp đồng đã ký kết, hoặc theo đơn đặt hàng doanh
nghiệp thương mại xuất kho hàng hoá, dùng phương tiện vận tải của mình
hoặc đi thuê ngoài, chuyển hàng đến kho của bên mua hoặc một địa điểm nào
đó bên mua quy định trong hợp đồng. Hàng hoá chuyển bán vẫn thuộc quyền
sở hữu của doanh nghiệp thương mại, chỉ khi nào được bên mua kiểm nhận,
thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán thì số hàng chuyển giao mới được coi
là tiêu thụ. Chí phí vận chuyển do doanh nghiệp thương mại chịu hay bên
mua chịu là do sự thoả thuận từ trước giữa hai bên. Nếu doanh nghiệp thương
mại chịu chi phí vận chuyển, phải thu tiền của bên mua .
2.2.2 Bán lẻ hàng hoá
Bán lẻ hàng hoá là phương thức bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng
hoặc các tổ chức kinh tế hoặc các đơn vị kinh tế tập thể mua về mang tính
chất tiêu dùng nội bộ. Bán hàng theo phương thức này cóđặc điểm là hàng
hoá đã ra khỏi lĩnh vực lưu thông và đi vào lĩnh vực tiêu dùng. Giá trị và giá
trị sử dụng của hàng hoá đã được thực hiện. Bán lẻ thường bán đơn chiếc
hoặc số lượng nhỏ, giá bán thường ổn định. Phương thức bán lẻ có thể thực
hiện dưới các hình thức sau:
- Hình thức bán lẻ thu tiền tập trung: Là hình thức bán hàng mà trong
đó, tách rời nghiệp vụ thu tiền của người mua và nghiệp vụ giao hàng cho
người mua. Mỗi quầy hàng có một nhân viên thu tiền làm nhiệm vụ thu tiền
của khách, viết hoá đơn hoặc tích kê cho khách để khách đến nhận hàng ở
quầy hàng do nhân viên bán hàng giao. Hết ca bán hàng, nhân viên bán hàng
căn cứ vào hoá đơn và tích kê giao hàng cho khách hoặc kiểm kê hàng hoá
toán tiền hàng và được hưởng hoa hồng đại lý. Số hàng chuyển giao cho các
cơ sở đại lý, ký gửi vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp thương mại cho
đến khi doanh nghiệp thương mại được cơ sở đại lý ký gửi thanh toán tiền hay
chấp nhận thanh toán hoặc thông báo về số hàng đã bán được, doanh nghiệp
mới mất quyền sở hữu về số hàng này.
- Hình thức bán hàng nhận đại lý: Theo hình thức này doanh nghiệp sẽ
nhận bán hàng cho doanh nghiệp khác. Doanh nghiệp có trách nhiệm về số
hàng đã nhận, tổ chức bán hàng và thanh toán kịp thời, đầy đủ tiền hàng cho
người giao đại lý khi hàng hoá đã được tiêu thụ. Hình thức bán hàng này có
đặc điểm là hàng hoá không thuộc sở hữu bán của doanh nghiệp và khi bán
được hàng thì doanh nghiệp được hưởng hoa hồng tính trên giá bán.
2.3 Các phương thức thanh toán :
Ph¹m Thanh Minh 6CB2KT
6
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
§¹i häc Th¬ng m¹i
Tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố như trị giá lô hàng bán, mức độ thường
xuyên trong quan hệ mua bán, mức độ tín nhiệm lẫn nhau, . . . mà doanh
nghiệp thương mại và người mua có thể thoả thuận lựa chọn sử dụng các
phương thức, hình thức thanh toán khác nhau.
2.3.1 Phương thức thanh toán trực tiếp: Là quá trình bán hàng và thu tiền
phát sinh cùng một thời điểm. Theo phương thức thanh toán này, có các hình
thức sau :
- Hình thức thanh toán bằng tiền mặt, ngân phiếu: Là hình thức thanh
toán trực tiếp giữa người mua và người bán. Khi bên bán chuyển giao hàng
hóa, dịch vụ thì bên mua xuất tiền, ngân phiếu để trả trực tiếp tương ứng với
giá cả mà hai bên đã thỏa thuận. Thanh toán theo hình thức này đảm bảo khả
năng thu tiền nhanh, tránh được rủi ro trong thanh toán nhưng thường chỉ áp
dụng trong trường hợp hàng hóa có giá trị không lớn.
- Hình thức trao đổi hàng: Theo hình thức này, khi bên bán chuyển
mình để trả cho người thụ hưởng có tên trên tờ lệnh đó hoặc cho người cầm tờ
lệnh đó.
- Hình thức thanh toán trả bằng thư: Là hình thức thanh toán trong đó
bên mua yêu cầu Ngân hàng mở thư tín dụng tiến hành trả tiền cho bên bán
nếu bên bán xuất trình được bộ chứng từ thanh toán phù hợp với các nội dung
đã ghi trong thư tín dụng. Hình thức thanh toán này, được áp dụng rất phổ
biến, đặc biệt là trong kinh doanh xuất nhập khẩu, trong trường hợp bên mua
và bên bán chưa có mối quan hệ tín nhiệm lẫn nhau vì theo phương thức này
nó bảo đảm cả quyền lợi cho người mua và người bán.
- Phương thức thanh toán nhờ thu
Là phương thức thanh toán mà trong đó người bán sau khi đã hoàn
thành nghĩa vu giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ cho người mua sẽ tiến
hànhuỷ thác cho Ngân hàng của mình thu nợ số tiền ở người mua trên cơ sở
hối phiếu của người bán lập ra .
Ngày nay, trong hoạt động kinh doanh thương mại việc thanh toán
không trực tiệp được áp dụng phổ biến là trong hoạt động kinh doanh xuất
nhập khẩu. Theo phương thức này, nó tiết kiệm mà đảm bảo sự an toàn về
vốn cho cả người mua và người bán, chống lạm phát ổn định giá cả và thúc
đẩy sự phát triển của hệ thống liên Ngân hàng. Quá trình thanh toán trở lên
đơn giản và thuận lợi hơn. Tuy nhiên, do đặc điểm của nền kinh tế nước ta là
Ph¹m Thanh Minh 6CB2KT
8
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
§¹i häc Th¬ng m¹i
nền kinh tế nhiều thành phần, sản xuất vừa và nhỏ là chủ yếu trong đó các hộ
kinh tế các thể chiếm tỷ trọng lớn mà hầu hết họ không mở tài khoản riêng tại
Ngân hàng nên việc thanh toán trực tiếp còn nhiều hạn chế.
2.3.3 Phương thức thanh toán chậm
Theo phương thức này, khi người bán giao hàng cho người mua thì
người mua không thanh toán ngay mà ký chấp nhận nợ từ đó hình thành
doanh của doanh nghiệp. Trị giá vốn hàng bán là toàn bộ chi phí kinh doanh
liên quan đến quá trình bán hàng bao gồm: giá vốn hàng xuất kho, chi phí bán
hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp phân bổ cho số hàng đã bán.
Đối với doanh nghiệp thương mại, trị giá vốn hàng xuất kho để bán bao
gồm trị giá mua thực tế và chi phí mua của một số hàng hóa đã xuất kho. Trị
giá mua thực tế của hàng hóa xuất kho được xác định theo một trong số các
phương pháp sau:
- Phương pháp tính theo giá đích danh
- Phương pháp bình quân gia quyền
- Phương pháp nhập trước, xuất trước
- Phương pháp nhập sau, xuất trước
Trong một thị trường ổn định, khi giá cả không thay đổi thì việc tính trị
giá mua của hàng hóa xuất kho theo bất cứ phương pháp nào là không quan
trọng vì khi đó tất cả các phương pháp đều cho một kết quả tương tự nhau.
Tuy nhiên, nếu giá cả thay đổi ở các kỳ khác nhau thì các phương pháp khác
nhau sẽ cho kết quả khác nhau. Vì vậy, việc lựa chọn một phương pháp tính
giá mua thực tế của hàng hóa xuất kho đòi hỏi doanh nghiệp phải nhất quán
qua các kỳ hách toán, nó đảm bảo nguyên tắc nhất quán trong kế toán.
Ph¹m Thanh Minh 6CB2KT
10
Giá ghi
trên HĐ
(chưa thuế
VAT)
Thuế phải
nộp ở
khâu mua
(nếu có)
Trị giá mua
thực tế của
Hàng hoá được coi là đã hoàn thành việc bán trong doanh nghiệp
thương mại, được ghi nhận doanh thu bán hàng phải đảm bảo các điều kiện
Ph¹m Thanh Minh 6CB2KT
11
Trị giá vốn
h ng à đã bán
Trị giá vốn h ng à
xuất kho để bán
= +
Chi phí bán h ng v chi phí à à
QLDN của số h ng à đã bán
Trị giá
mua của
hàng
xuất kho
Chi phí
mua phân
bổ cho
hàng hóa
đã xuất
kho
=
Chi phí mua phân
bổ cho hàng đầu kỳ
Chi phí mua hàng
phát sinh trong kỳ
+
⋅⋅
Trị giá mua của
hàng còn đầu kỳ
nhất định. Theo quy định hiện hành, được coi là hàng báh phải thoả mãn các
điều kiện sau:
- Hàng hoá phải thông qua quá trình mua, bán và thanh toán theo một
phương thức thanh toán nhất định
- Doanh nghiệp thương mại mất quyền sở hữu về hàng hóa và nắm
được quyền sở ữu về tiền tệ hoặc có quyền được đòi tiền ở khách hàng
- Hàng hóa bán ra phải thuộc diện kinh doanh của doanh nghiệp, do
doanh nghiệp mua vào hoặc gia công chế biến hay nhận góp vốn, nhận cấp
phát, tặng thưởng,. . .
Ngoài ra, trong một số trường hợp sau cũng được coi là hàng bán:
+ Hàng hóa xuất để đổi lấy hàng hóa khác, còn được gọi là hàng đối
lưu hay hàng đổi hàng.
+ Hàng hóa xuất để thanh toán tiền lương, tiền thưởng cho công nhân
viên thanh toán thu nhập cho các thành viên của doanh nghiệp
+ Hàng hóa xuất để làm quà biếu tặng, quảng cáo, chào hàng
+ Hàng hóa xuất dùng trong nội bộ, phục vụ cho hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp
+ Hàng hóa hao hụt, tổn thất trong quá trình vận chuyển bán ra theo
hợp đồng bên bán chịu
+ Hàng xuất là nguyên liệu để sản xuất chế biến sản phẩm rồi bán ra
+ Hàng xuất để tham gia hội chợ triển lãm
+ Hàng xuât để góp vốn liên doanh,. . .
2.5.2 Thời điểm xác định hàng bán và ghi chép (Thời điểm ghi nhận
doanh thu)
Ph¹m Thanh Minh 6CB2KT
12
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
§¹i häc Th¬ng m¹i
Theo hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam quyết định số
149/2001/QĐ-BTC ngày 31/12/2001 của Bộ trưởng Bộ Tài chính thì doanh
- Quản lý về số lượng, chất lượng và giá trị của hàng gửi bán. Hàng hoá
đem gửi bán cho bên mua đang trên đường đi hoặc bên mua đã nhận được
hàng nhưng chưa thanh toán thì số hàng đó vẫn thuộc quyến sở hữu của
doanh nghiệp. Bởi vậy, doanh nghiệp cần phải quản lý, theo dõi lô hàng đó.
- Quản lý về giá cả hàng hóa: Giá cả là một trong những yếu tố cạnh
tranh, vì vậy đòi hỏi nhà quản lý phải định giá cho thật hợp lý, phải xây dựng
biểu giá cho từng mặt hàng, nhóm hàng, từng phương thức bán phù hợp cho
từng địa điểm kinh doanh và quản lý việc thực hiện giá bán hàng mà chú
trọng giám sát việc thi hành giá của nhân viên bán hàng tránh những biểu hiện
tiêu cực như tuỳ ý nâng giá. Để quản lý tốt thì doanh nghiệp sử dụng kế toán
như một công cụ đắc lực và sắc bén nhất. Kế toán nghiệp vụ bán hàng là một
bộ phận trực tiếp về giá cả hàng hóa, việc phản ánh giá cả hàng hóa vào sổ kế
toán căn cứ vào các chứng từ xuất nhập kho hàng hóa, chứng từ về bán hàng
có xác nhận của cả hai bên: bên mua và bên bán.
- Quản lý việc thu hồi tiền hàng và xác định kết quả: Để đảm bảo được
việc thu hồi tiền bán hàng một cách nhanh chóng và đầy đủ, xác định kết quả,
người quản lý phải tính đúng, đủ và theo dõi tình hình thanh toán của từng
khách hàng. Thực hiệnđược công việc này sẽ tạo điều kiện cho vốn được quay
vòng nhanh, và có thể được kịp thời huy động vốn khi cần thiết. Vì vậy, kế
toán cần theo dõi chặt chẽ thời hạn thanh toán tiền hàng của khách hàng, có
thể đôn đốc khách hàng để kịp thời thu hồi tiền ngay khi đến hạn, tránh bị
chiếm dụng vốn kinh doanh .
Bên cạnh đó việc quản lý nghiệp vụ bán hàng cũng cần bám sát một số
yêu cầu như: quản lý sự vận động của từng loại hàng hóa trong quá trình xuất
nhập tồn kho trên các chỉ tiêu số lượng, chất lượng và giá trị. Nắm bắt theo
dõi chặt chẽ từng phương thức bán hàng, từng thể thức thanh toán, từng khách
hàng và từng loại hàng hóa tiêu thụ. Tính toán xác định từng loại hoạt động
Ph¹m Thanh Minh 6CB2KT
14
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
15
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
§¹i häc Th¬ng m¹i
- Tham mưu cho ban lãnh đạo về các giải pháp để thúc đẩy quá trình
bán hàng
II Phương pháp kế toán nghiệp vụ bán hàng
1.Chứng từ sử dụng
Chứng toán kế toán bao gồm 2 hệ thống:
- Hệ thống chứng từ kế toán bắt buộc: là các chứng từ mang bản chất
phản ánh mối quan hệ giữa các pháp nhân có yêu cầu quản lý chặt chẽ, mang
tính phổ biến rộng rãi.
- Hệ thống chứng kế toán hướng dẫn: chủ yếu là các loại chứng từ sử
dụng trong nội bộ doanh nghiệp, Nhà nước chỉ giữ vai trò hướng dẫn nội
dung để các ngành, các thành phần kinh tế tham khảo để từ đó xây dựng hệ
thống chứng từ cho phù hợp với điều kiện thực tế của doanh nghiệp .
Đối với quá trình tiêu thụ hàng hóa, một số chứng từ mang tính chất băt
buộc:
+ Hoá đơn kiêm phiếu xuất kho
+ Hoá đơn giá trị gia tăng, hoá đơn bán hàng
+ Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ
+ Phiếu xuất kho hàng gửi bán đại lý
+ Báo các bán hàng
+ Bảng kê bán lẻ hàng hóa, dịch vụ
+ Bảng thanh toán hàng đại lý (ký gửi)
+ Thẻ quầy hàng
+ Giấy nộp tiền
+ Bảng kê nhận hàng và thanh toán hàng ngày
Ph¹m Thanh Minh 6CB2KT
16
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
-K/c DT thuần để xác
định kết quả
Phản ánh DT bán hàng
tăng trong kì
TK511N C
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
§¹i häc Th¬ng m¹i
- Tài khoản 5114 “Doanh thu trợ cấp, trợ giá”: Tài khoản này phản ánh
khoản mà Nhà nước nước cấp, trợ gía cho Doanh nghiệp trong trường hợp
doanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ theo yêu cầu của Nhà nước.
Nguyên tắc hạch toán: Kế toán chỉ phản ánh vào tài khoản 511 khối
lượng hàng hóa, sản phẩm, lao vụ, dịch vụ giao cho khách hàng đã xác định
thực sự tiêu thụ. Giá bán đơn vị hàng hóa dùng làm căn cứ tính doanh thu
thực hiện trong kỳ hạch toán là giá bán thực tế tức là ghi trong hoá đơn bán
hàng và các chứng từ có liên quan đến bán hàng. Không được phản ánh vào
tài khoản 511, những khoản sau:
- Trị giá hàng hóa, dịch vụ cung cấp trong nội bộ doanh nghiệp.
- Trị giá hàng hóa vật tư, bán thành phẩm xuất giao cho bên ngoài gia
công, chế biến.
- Số tiền thu được về nhượng bán thanh lý TSCĐ.
- Trị giá hàng hóa gửi bán chưa xác định tiêu thụ.
- Các khoản thu nhập về cho thuê TSCĐ, thu nhập hoạt động tài chính,
thu nhập bất thường khác.
Đối với hàng hóa nhận bán đại lý thì doanh thu chính là hoa hồng được
hưởng về số hàng đã bán do bên giao đại lý trả.
Đối với hàng bán trả góp, kế toán phản ánh doanh thu bán hàng theo
giá bán thực tế còn phần lãi khách hàng phải trả do trả chậm được hạch toán
như một khoản thu nhập hoạt động tài chính.
Trường hợp nhận gia công thì doanh thu là số tiền gia công được
hưởng.
doanh thu cuối kỳ
TK532N C
Khoản giảm giá đã
chấp nhận với người
mua
Kết chuyển số giảm giá
để xác địn doanh thu
thuần
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
§¹i häc Th¬ng m¹i
Tài khoản 532 cuối kỳ không có số dư
* Tài khoản 157 “Hàng gửi bán”: Tài khoản này dùng để phản ánh trị
giá mua của hàng hóa chuyển bán, gửi bán đại lý, ký gửi, dịch vụ đã hoàn
thành nhưng chưa xác định là tiêu thụ, chi tiết theo từng loại hàng hóa, từng
lần gửi hàng từ khi gửi đi cho đến khi được chấp nhận thanh toán. . .
Kết cấu tài khoản 157 như sau:
* Tài khoản 632 “Giá vốn hàng bán”: Tài khoản này dùng để xác định
giá trị vốn của hàng hóa, dịch vụ đã tiêu thụ trong kỳ. Tài khoản 632 không
có số dư và có thể được mở chi tiết theo từng mặt hàng, từng dịch vụ, từng
thương vụ, . . .Tuỳ theo yêu cầu cung cấp thông tin và trình độ cán bộ kế toán
cũng như phương tiện tính toán của từng doanh nghiệp.
Kết cấu của tài khoản 632 như sau:
Ph¹m Thanh Minh 6CB2KT
20
- Trị giá h ng hóa gà ửi bán
tăng trong kỳ
- Giá th nh thà ực tế dịch vụ đã
ho n th nh nhà à ưng chưa được
chấp nhận thanh toán
TK157N C
Kết cấu của tài khoản 131 như sau:
* Tài khoản 3331 “Thuế GTGT phải nộp”: Tài khoản này dùng để phản
ánh số thuế GTGT đầu ra, số thuế GTGT phải nộp, đã nộp, còn phải nộp vào
ngân sách Nhà nước.
Tài khoản 3331 được áp dụng chung cho đối tượng nộp thuế cho cả
phương pháp khấu trừ và phương pháp trực tiếp. Nội dung ghi chép của tài
khoản 3331 như sau:
Ph¹m Thanh Minh 6CB2KT
21
- Số tiền phải thu của
khách h ng tà ăng trong kỳ
- Số tiền đã thanh toán
với khách h ng trong kà ỳ
TK131N C
- Số tiền khách h ng à đã
thanh toán trong kỳ
- Số tiền khách h ng à
ứng trước hoặc trả thừa
trong kỳ
Dư nơ: số phải thu của
khách h ng hià ện còn
cuối kỳ
Dư có: Số phải trả
khách h ng hià ện còn
cuối kỳ
Số thuế GTGT đầu ra đã khấu
trừ
Số thuế GTGT được miễn
giảm
Số thuế GTGT đã nộp vào
khoản 512”Doanh thu bán hàng nội bộ (5121). Trình tự và phương pháp hạch
toán tương tự như hạch toán bán hàng ở các doanh nghiệp thương mại kế toán
hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên.
Ph¹m Thanh Minh 6CB2KT
23
TK156 TK632 TK911 TK511 TK111,112
Trị giá vốn
h ng à đã tiêu
thụ
K/c giá vốn
h ng bánà
K/c doanh thu
thuần
Số tiền
người mua
trả lần đầu
TK131TK3331
TK711
Số tiền còn
phải thu ở
người mua
Lãi do bán
trả góp
Thuế
GTGT
nếu có
TK911 TK5113 TK111,112
Cuối kỳ k/c doanh thu thuần
Cuối kỳ k/c doanh thu thuần
Hoa hồng đại lýHoa hồng đại lý
Sổ kế toán bao gồm sổ chi tiết và sổ tổng hợp được mở, ghi chép quản
lý lưu trữ và bảo quản theo chế độ kế toán hiện hành.
Ph¹m Thanh Minh 6CB2KT
24
Trị giá vốn h ng chà ưa tiêu thụ
đầu kỳ
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
§¹i häc Th¬ng m¹i
Tổ chức hệ thống sổ kế toán là việc xây dựng nên các mẫu sổ cần thiết,
có thể liên hệ chặt chẽ với nhau, quy định việc ghi chép các nghiệp vụ kinh tế
theo đúng phương pháp kế toán trên cơ sở số liệu chứng từ kế toán. Tổ chức
sổ kế toán phải đảm bảo nguyên tắc: mỗi doanh nghiệp chỉ có một hệ thống sổ
kế toán chính thức; kết cấu, phương pháp ghi sổ phải phù hợp với trình độ
nhân viên kế toán, nhân viên quản lý,...Nếu như tổ chức chứng từ kế toán
nhằm cung cấp các thông tin riêng rẽ về nghiệp vụ kinh tế phat sinh và làm cơ
sở hoạt động tổng hợp và chi tiết thì tổ chức sổ sách kế toán sẽ là khâu công
việc tiếp theo để xử lý các thông tin ban dầu nhằm cung cấp các thông tin một
cách tổng hợp, có hệ thống theo từng thời điểm không gian và thời gian về đối
tượng quản lý. Vì vậy có thể nói rằng tổ chức hợp lý hệ thống sổ kế toán là
khâu công việc quan trọng. Một hệ thống sổ kế toán khoa học là một hệ thống
sổ đơn giản, gọn nhẹ, tiện lời cho công việc ghi chép, giảm tới mức thấp nhất
công việc ghi chép của kế toán nhưng vẫn đảm bảo cung cấp thông tin đầy đủ
về các mặt đáp ứng tốt nhất yêu cầu quản lý.
Căn cứ vào quy mô và điều kiện hoạt động của doanh nghiệp và vào
các hình thức tổ chức sổ kế toán, từng DN sẽ lựa chọn cho mình một hình
thức tổ chức sổ kế toán cho phù hợp. Theo quy định các doanh nghiệp có thể
lựa chọn áp dụng một trong những hình thức tổ chức sổ kế toán sau:
4.1 Hình thức kế toán chứng từ ghi sổ
Đặc trưng cơ bản của hình thức kế toán chứng từ ghi sổ là: căn cứ trực
tiếp để ghi sổ kế toán tổng hợp là “chứng từ ghi sổ”. Việc ghi sổ kế toán tổng