Bàn về hạch toán chi phí dự phòng trong chế độ kế toán Việt Nam hiện hành - Pdf 15

Đề án môn học kế toán tài chính
LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây nền kinh tế Việt Nam đang ngày càng phát triển mạnh
mẽ. Đặc biệt là sau khi Việt Nam gia nhập tổ chức WTO đã tạo ra một bước ngoặt
mới trong sự phát triển kinh tế của nước ta, nó mở ra trước mắt các doanh nghiệp
nhiều cơ hội nhưng cũng không ít thách thức và khó khăn. Một yếu tố luôn tồn tại
trong kinh doanh ảnh hưởng lớn đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp chính
là rủi ro. Nền kinh tế thị trường càng phát triển, cạnh tranh ngày càng khốc liệt thì
mức độ rủi ro càng cao. Do vậy để có thể đứng vững trên thương trường các doanh
nghiệp cần xây dựng cho mình những chiến lược kinh doanh hợp lý. Một trong số đó
là cần phải dự đoán và có biện pháp hạn chế rủi ro để chủ động hơn về tài chính.
Hiện nay biện pháp chung đang được áp dụng cho các doanh nghiệp đó là việc trích
lập các khoản dự phòng giảm giá, dự phòng phải trả…
Hiện nay chế độ kế toán do Bộ Tài Chính ban hành đã có những quy định cụ thể
và thống nhất việc tổ chức hạch toán các khoản dự phòng; đồng thời Bộ Tài Chính
cũng đã ban hành các thông tư hướng dẫn giúp cho các doanh nghiệp có thể vận dụng
một cách dễ dàng hơn. Tuy nhiên trong chế độ kế toán Việt Nam hiện hành được ban
hành theo Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 26/3/2006 vẫn còn tồn tại một số
bất cập cần phải hoàn thiện trong hạch toán các khoản chi phí dự phòng như sau:
Không có sự thống nhất của chế độ kế toán Việt Nam hiện hành và Thông tư
hướng dẫn số: 13/2006/TT-BTC về quy định hoàn nhập các khoản dự phòng. Thứ
nhất, Về hoàn nhập các khoản dự phòng thì chế độ kế toán hiện hành quy định ghi
giảm chi phí còn thông tư hướng dẫn lại ghi tăng thu nhập.
Thứ hai, Về trích lập dự phòng bảo hành sản phẩm, hàng hoá, công trình xây lắp.
Theo thông tư tại thời điểm lập dự phòng nếu số thực chi bảo hành lớn hơn số đã
trích lập dự phòng thì phần chênh lệch thiếu được hạch toán vào chi phí bán hàng,
còn theo chế độ kế toán thì phần chênh lệch này sẽ được hạch toán vào các chi phí
tương ứng chứ không chỉ riêng chi phí bán hàng.
Điều này gây khó khăn cho người làm kế toán trong doanh nghiệp khi trích lập và
hoàn nhập các khoản dự phòng, không biết nên theo quy định nào.
Nguyễn Thị Ngọc Lâm Kế toán tổng hợp 46D

năng thanh toán cho các hoạt động bất thường trong tương lai.
Như vậy về bản chất thì dự phòng là ghi nhận trước một khoản chi phí chưa
thực chi vào chi phí sản xuất kinh doanh, giúp cho doanh nghiệp có nguồn tài chính
để bù đắp tổn thất có thể xảy ra trong năm kế hoạch, nhằm bảo toàn vốn kinh doanh;
đảm bảo cho doanh nghiệp phản ánh giá trị vật tư hàng hóa tồn kho, các khoản đầu tư
tài chính không cao hơn giá cả trên thị trường và giá trị của các khoản nợ phải thu
không cao hơn giá trị có thể thu hồi được tại thời điểm lập báo cáo tài chính. Đồng
thời dự phòng sẽ làm tăng tổng chi phí do vậy nó đồng nghĩa với sự tạm thời giảm
thu nhập ròng của niên độ báo cáo, niên độ lập dự phòng.
Nguyễn Thị Ngọc Lâm Kế toán tổng hợp 46D
3
Đề án môn học kế toán tài chính
Ở Việt Nam dự phòng được đề cập đến trong chuẩn mực số 18 (Ban hành và công
bố theo Quyết định số 100/QĐ-BTCngày 28/12/2005 của Bộ trưởng Bộ Tài
chính). Chuẩn mực đã đưa ra các khái niệm và khái niệm liên quan và các quy
định, nguyên tắc liên quan đến dự phòng.Nhìn chung văn bản đã đưa ra những
quan niệm về dự phòng khá sát với chuẩn mực kế toán quốc tế đáp ứng được
yêu cầu chung trong sự hội nhập với kinh tế các nước trên thế giới nói chung,
và lĩnh vự kế toán nói riêng. Bên cạnh đó còn các văn bản cụ thể hoá cho các
quy định trong chuẩn mực như quyết định ban hành chế độ kế toán và các thông
tư hướng dẫn liên quan.
1.2. Xác định và phân loại dự phòng:
Doanh nghiệp chỉ được ghi nhận khoản dự phòng chỉ khi đáp ứng các điều
kiện: Doanh nghiệp có nghĩa vụ hiện tại, không kể là nghĩa vụ pháp lý hay danh
nghĩa, phát sinh từ sự kiện đã xảy ra, có khả năng doanh nghiệp sẽ phải sử dụng
nguồn lực của mình để thanh toán nghĩa vụ này, và doanh nghiệp có thể ước đoán
được một cách tin cậy giá trị của nghĩa vụ này.Giá trị được ghi nhận là khoản dự
phòng chính là ước tính sát thực nhất về khoản chi cần thiết để thanh toán khoản
nghĩa vụ hiện thời tại thời điểm lập bảng cân đối kế toán, đây chính là khoản tiền mà
doanh nghiệp phải thanh toán một cách hợp lý để thực hiện nghĩa vụ tại thời điểm lập

1.3. Vai trò của dự phòng
Như đã trình bày khoản mục dự phòng đóng một vai trò quan trọng và là một trong
những khoản mục trọng yếu trên bảng cân đối kế toán. Nó không chỉ quan trọng đối
với doanh nghiệp mà còn quan trọng đối với các nhà đầu tư, các đối tác của doanh
nghiệp, nhà nước. Vai trò của dự phòng như được thể hiện trên các phương diện sau:
Phương diện kinh tế:
Các khoản dự phòng là khoản mục trọng yếu trên bảng cân đối kế toán của doanh
nghiệp. Nó giúp cho những người sử dụng thông tin tài chính: nhà đầu tư, ngân hàng,
khách hàng, nhà cung cấp…có thể phân tích đánh giá chính xác kết quả hoạt động
của doanh nghiệp trong quá khứ và dự đoán xu hướng trong tương lai thông qua quy
mô của từng khoản mục dự phòng cụ thể người sử dụng thông tin tài chính đánh giá
rủi ro trong các hoạt động khác nhau từ đó ra quyết định đầu tư hoặc hợp tác kinh
doanh với doanh nghiệp
Phương diện tài chính:
Dự phòng có tác dụng làm giảm lãi của niên dộ nên doanh nghiệp tích luỹ được một
quỹ tiền tệ đáng lẽ đã được phân chia nhưng lại được giữ lại. Số vốn này được sử
dụng để bù đắp các khoản giảm giá tài sản và các rủi ro phát sinh trong niên độ sau.
Thực chất các khoản dự phòng là một nguồn tài chính của doanh nghiệp tạm thời
nằm trong tài sản lưu động trước khi sử dụng.
Ngoài ra dự phòng còn là một công cụ đắc lực để các nhà quản lý điều chỉnh lợi
nhuận trong niên độ hiện tại phục vụ cho mục đích của mình. Khi doanh nghiệp cần
Nguyễn Thị Ngọc Lâm Kế toán tổng hợp 46D
6
Đề án môn học kế toán tài chính
thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài thì kế toán sẽ ghi giảm chi phí, tăng lợi nhuận làm
cho tình hình tài chính của doanh nghiệp sáng sủa hơn, có triển vọng hơn. Ngược lại
khi cần doanh nghiệp có thể làm tăng dự phòng, làm tăng chi phí, giảm lợi nhuận để
nhận được sự hỗ trợ của nhà nước hay để đạt được những mục đích khác.
Phương diện thuế:
Dự phòng được ghi nhận như một khoản chi phí trước thuế làm giảm lợi nhuận tức

phòng được sửa đổi, bổ sung theo thời gian phù hợp với sự đổi mới quy chế tài chính
và kế toán.
2.1.2. Giai đoạn từ 2002 đến nay
Kể từ đầu năm 2002, trích lập các khoản dự phòng được thực hiện theo
Thông tư số 107/2001/TT-BTC ngày 31/12/2001 và sau đó được thay thế bằng
Thông tư số 13/2006/TT-BTT ngày 27/3/2006. Như vậy, Thông tư số 13/2006 là văn
bản pháp lý có hiệu lực hiện hành về trích lập dự phòng. Trong giai đoạn này chế độ
kế toán chi phí dự phòng dần hoàn thiện hơn về tất cả mọi mặt như: mở rộng phạm vi
áp dụng không chỉ giới hạn trong các đơn vị nhà nước mà áp dụng cho các thành
phần kinh tế khác trong nền kinh tế bao gồm cả các công ty có vốn đầu nước ngoài.
Nguyễn Thị Ngọc Lâm Kế toán tổng hợp 46D
8
Đề án môn học kế toán tài chính
Đồng thời đối tượng trích lập dự phòng cũng được mở rộng phù hợp với yêu cầu của
nền kinh tế. Các quy định đó ngày càng chặt chẽ hơn đảm bảo được áp dụng có hiệu
quả trong các doanh nghiệp.
2.2. Kế toán chi phí dự phòng trong chế độ kế toán Việt Nam hiện hành
2.2.1.Dự phòng phải thu khó đòi:
* Một số vấn đề chung về dự phòng phải thu khó đòi.
Khái niệm: Dự phòng phải thu khó đòi: là dự phòng phần giá trị bị tổn thất của
các khoản nợ phải thu mà có thể không thu hồi được do khách nợ không có khả năng
thanh toán.
Để lập dự phòng đơn vị cần phải có những bằng chứng đáng tin cậy về các
khoản nợ phải thu khó đòi (khách hàng bị phá sản hoặc bị tổn thất, thiệt hại lớn về tài
sản…nên không có khả năng thanh toán.Các khoản nợ phải thu được theo dõi cho
từng đối tượng, từng nội dung, từng khoản nợ trong đó chi tiết nợ phải thu khó đòi.
Phải có chứng từ gốc hoặc các chứng từ khác xác minh số nợ mà khách hàng chưa
trả.
Căn cứ lập dự phòng: Khi doanh nghiệp có các khoản nợ phải thu quá hạn
thanh toán ghi trong hợp đồng kinh tế, các khế ước vay nợ, bản cam kết hợp đồng

Có TK 139
Nếu số dự phòng nợ phải thu khó đòi cần trích lập ở kỳ kế toán này nhỏ hơn số
dự phòng nợ phải thu khó đòi đã trích lập ở kỳ kế toán trước chưa sử dụng hết,
thì số chênh lệch được hoàn nhập ghi giảm chi phí:
Nợ TK 139
Có TK 642
Trong niên độ kế toán sau, khi đơn vị xác định các khoản nợ phải thu khó đòi thực sự
là không đòi được được phép xóa nợ. Việc xoá khoản nợ phải thu khó đòi phải theo
chính sách tài chính hiện hành. Căn cứ vào quyết định xoá nợ về các khoản nợ phải
thu khó đòi, ghi:
Nợ TK 139
Nợ TK 642
`-
Nguyễn Thị Ngọc Lâm Kế toán tổng hợp 46D
10
Đề án môn học kế toán tài chính
Có TK 131,138
Đồng thời ghi vào bên Nợ TK 004 “ Nợ khó đòi đã xử lý” (Tài khoản ngoài bảng cân
đối kế toán)
Đối với những khoản nợ phải thu khó đòi đã được xử lý xoá nợ, nếu sau đó lại thu
hồi lại được nợ, kế toán căn cứ vào giá trị thực tế của khoản nợ đã thu hồi được
Nợ TK 111, 112...
Có TK 711
đồng thời ghi đơn vào bên có TK 004
Đơn vị có thể bán các khoản nợ phải thu khó đòi cho Công ty mua, bán nợ. Khi các
doanh nghiệp hoàn thành thủ tục bán các khoản nợ phải thu (đang phản ánh trên
bảng cân đối kế toán) cho công ty mua, bán nợ và thu được từ tiền
Nợ TK 111,112...
Nợ TK 139
Nợ các TK liên quan( số chênh lệch giữa)

Lượng vật tư hàng hóa
thực tế tồn kho tại thời
điểm lập báo cáo tài
chính
x
Giá gốc hàng
tồn kho theo
sổ kế toán
-
Giá trị thuần có
thể thực hiện
được của hàng
tồn kho
* Tài khoản và Phương pháp kế toán một số nghiệp vụ kinh tế chủ yếu.
TK 159 - dự phòng giảm giá hàng tồn kho.
Bên nợ: Giá trị dự phòng giảm giá hàng tồn kho được hoàn nhập ghi giảm giá
vốn hàng bán trong kỳ.
Bên có: Giá trị dự phòng giảm giá hàng tồn kho đã trích lập tính vào giá vốn
hàng bán trong kỳ.
Số dư bên có: Giá trị dự phòng giảm giá hàng tồn kho hiện có ở cuối kỳ.
Cuối kỳ kế toán năm (hoặc quý), khi lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho lần đầu tiên
ghi :
Nợ TK 632
Có TK 159
Nguyễn Thị Ngọc Lâm Kế toán tổng hợp 46D
12


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status