Tô Hoài và Tác phẩm Vợ chồng A Phủ - Pdf 15

Tác giả Tô Hoài
TÔ HOÀI
1 – Vài nét về tiểu sử và con người
Tô Hoài tên thật là Nguyễn Sen sinh ngày 07 – 9 - 1920 tại làng Nghĩa Đô, phủ Hoài
Đức - tỉnh Hà Đông (nay là phường Nghĩa Đô - quận Cầu Giấy - Hà Nội) trong một
gia đình thợ thủ công. Ông còn có nhiều bút danh khác như: Mai Trung, Duy Phương,
Mắt Biển, Hồng Hoa, Vũ Đột Kích,…
Quê quán : xã Kim An - huyện Thanh Oai - tỉnh Hà Tây.
Tuổi thanh niên, Tô Hoài phải trải qua nhiều nghề khác nhau để kiếm sống như : dạy
học tư, bán hàng, làm kế toán cho hiệu buôn, … Năm 1938, ông chịu ảnh hưởng của
Mặt trận Bình dân và tham gia hoạt động trong tổ chức Hội ái hữu thợ dệt và Thanh
niên dân chủ Hà Nội.
Năm 1943, Tô Hoài gia nhập Hội văn hóa cứu quốc và bắt đầu viết bài cho báo Cứu
quốc và Cờ giải phóng.
Sau Cách mạng tháng Tám, Tô Hoài làm Chủ nhiệm báo “Cứu quốc”. Ông là một
trong số những nhà văn đầu tiên Nam tiến và tham dự một số chiến dịch ở mặt trận
phía Nam (Nha Trang, Tây Nguyên…). Năm 1946, ông được kết nạp vào Đảng.
Năm 1950, ông về công tác tại Hội Văn nghệ Việt Nam. Từ năm 1957 đến năm 1980,
Tô Hoài đã kinh qua nhiều chức vụ khác nhau trong Hội Nhà văn như : Uûy viên
Đảng Đoàn, Phó Tổng thư kí, Chủ tịch Hội Văn nghệ Hà Nội, Giám đốc Nhà xuất bản
Thiếu nhi.
Đến với con đường nghệ thuật từ cuối những năm ba mươi cho đến nay, Tô Hoài đã
sáng tác được một số lượng tác phẩm đồ sộ (hơn một trăm năm mươi đầu sách) ở
nhiều thể loại khác nhau như : tiểu thuyết, truyện ngắn, kí, tiểu luận và kinh nghiệm
sáng tác. Với những đóng góp to lớn cho nền văn học nước nhà, vào năm 1996 ông
được nhà nước tặng giải thưởng Hồ Chí Minh.
* Tác phẩm của Tô Hoài trước Cách mạng tháng Tám :
Dế mèn phiêu lưu kí (1941), Quê người (1941), O chuột (1942), Giăng thề (1943),
Nhà nghèo (1944), Xóm Giếng ngày xưa (1944), Cỏ dại (1944).
* Tác phẩm chính của Tô Hoài sau Cách mạng tháng Tám :
- Truyện ngắn : Núi cứu quốc (1948), Xuống làng (1950), Truyện Tây Bắc (1953,

trong lao động nghệ thuật của ông. Sau này, Tô Hoài đã bộc bạch chân thành qua Tự
truyện về việc ông đến với nghề văn, ông viết : “Tôi vào nghề văn có trong ngoài ba
năm trước Cách mạng tháng Tám, 1945 mà tôi viết như chạy thi được năm truyện
dài, truyện vừa, ba tập truyện ngắn, còn truyện thiếu nhi như Dế mèn thì mấy chục
truyện, cái in, cái chưa in, vương vãi lung tung tôi không nhớ hết. Cũng chẳng có gì
lạ. Viết để kiếm miếng sống lúc ấy tất phải cuốc khỏe như vậy đấy”.
Tác phẩm của Tô Hoài trước cách mạng có thể phân thành hai loại chính là : truyện
về loài vật và truyện về nông thôn trong cảnh đói nghèo.
Qua những truyện về loài vật tiêu biểu như : O chuột, Gã chuột bạch, Tuổi trẻ, Đôi
ghi đá, Một cuộc bể dâu, Mụ ngan, Đực , người đọc nhận thấy, nhà văn thường viết
về cái tốt đẹp, khẳng định cái thiện trong cuộc sống, bày tỏ mong muốn một cuộc
sống hạnh phúc, bình yên trong xã hội, một cuộc sống tốt đẹp mang tính không
tưởng.
Trước hết, với Dế Mèn phiêu lưu kí, tài năng nghệ thuật của Tô Hoài được bộc lộ ở
nhiều phương diện. Bằng cách quan sát, cái nhìn tinh tế về loài vật, kết hợp với
những nhận xét thông minh, hóm hỉnh, nhà văn đã lôi cuốn các em vào thế giới loài
vật bé nhỏ gần gũi, hấp dẫn và kì thú qua hình ảnh của: Dế Mèn, Dế Trũi như anh
em kết nghĩa vườn đào, sẵn sàng quên mình vì bạn, vì nghĩa lớn. Xiến Tóc trầm lặng,
vừa yêu đời vừa chán đời. Chị Cào Cào ồn ào và duyên dáng. Bọ Ngựa kiêu căng,
ngạo mạn. Cóc huênh hoang, dở hơi. Ếch thông thái giả. Anh chàng Kỉm Kìm Kim
hèn đớn. Cậu công tử bột Chim Chả Non có mẽ mà đầu óc lại rỗng tuếch, Từ đời
sống và tích cách của từng con vật, nhà văn nhằm bày tỏ quan niệm của mình về
nhân sinh, về khát vọng chính đáng của người lao động, về một cuộc sống hòa bình,
yên vui, về tình thương, lòng chân thành và sự đoàn kết. Bởi thế câu chuyện về chú
Dế Mèn không chỉ có ý nghĩa dành cho trẻ em, mà còn cả cho người lớn và cho cả xã
hội. Nó thực sự mang giá trị lâu bền trong đời sống tinh thần của con người, cũng vì
thế, dù ở đâu và ở thời kì nào, người đọc vẫn tìm thấy bao điều thú vị, bao bài học ý
nghĩa từ tác phẩm này. Sau này, Tô Hoài tâm sự: “Cách hiểu thế giới đại đồng của
Dế Mèn, Dế Trũi, Xiến Tóc… là cách hiểu chủ nghĩa cộng sản của tôi với vẻ đẹp và cả
cái trống rỗng thiếu sót trong suy nghĩ của tôi”.

rồi, Tết đến, tiếng pháo nổ đón xuân về vô tình đã làm tan tác gia đình chúng. Nghe
tiếng pháo “kinh khủng nổ vang động trong cây, cả nhà cuống cuồng bay đi”. Cuộc
sống của đôi vợ chồng chim gi đá rồi sẽ như thế nào trong cảnh tan tác đó đã khiến
cho người đọc phải ngậm ngùi, xót xa. Còn Mụ ngan với “cái tính ngu tối, chậm chạp”
đến mức những đứa con của mình gặp nạn, hay bị chết vẫn vô tình, thản nhiên. Kể
cả khi bị đá, bị đuổi đánh,“bị bỏ tù” thì “chúng vẫn không hiểu chi”. Hơn thế nữa khi
“chồng mụ” bị làm thịt, mụ vẫn “thản nhiên”, mụ ngan chỉ nhớ rõ “khi có hạt ngô đo
đỏ, hạt thóc vàng vàng, tàu lá xanh xanh thì xô đến mà khởi sự ăn”.
Cùng với hình ảnh của những loài vật trên là của chú chó Đực ham vui, “la cà” với
“hàng tá nhân tình” nên bị người ta thiến. Đực “buồn thỉu, buồn thiu, đi lừ khừ quên
cả ăn uống”. Tuổi xuân của Đực qua nhanh, nó trở nên “lạnh lùng với cuộc đời và
lạnh lùng với tháng ngày”, nó “lặng lẽ sống cái cuộc đời tàn cục buồn thiu”, “héo hắt
dần”. Tác phẩm kết thúc với sự xuất hiện của một con chó khác cũng “khỏe và béo
lẳn” nhưng rồi thân phận của nó chắc gì đã khác với con Đực.
Tóm lại, thế giới loài vật trong tác phẩm của Tô Hoài thật độc đáo. Thế giới ấy gợi lên
ở người đọc sự liên tưởng về nhiều vấn đề trong đời sống xã hội. Có lẽ, từ trước cho
đến nay, trong văn học Việt Nam chưa có nhà văn nào viết về loài vật nhiều và đặc
sắc như Tô Hoài.
Bên cạnh truyện viết về loài vật, mảng truyện viết về cảnh sống đói nghèo cũng
được nhà văn đã miêu tả chân thật và sinh động. Cuộc sống cùng quẫn bế tắc của
những kiếp người nghèo khổ, lang thang, phiêu bạt nơi đất khách quê người, những
người thợ thủ công bị phá sản xuất hiện dần qua từng trang sách với tất cả niềm cảm
thông chân thành của nhà văn. Đó là thân phận của bà lão Vối trong truyện Mẹ già
buộc lòng nhẫn nhục sống nương nhờ vào con. Chỉ vì một con lợn sổng chuồng mà
bà bị chính con gái mình chửi rủa chì chiết đủ điều. Với cách nghĩ của con gái bà thì
bà chẳng khác gì người đi ở mướn, chị ta đã quát : “Thế tôi nuôi bà để làm gì mà bà
lại không trông được con lợn?”, thậm chí, không cho bà ngủ ở nhà trên mà đuổi bà
xuống bếp nằm ngủ ở đống rơm. Sáng ngày hôm sau cả nhà ăn uống nhưng hình
như họ đã quên là có bà hiện diện trong cuộc sống của gia đình mình. Đó là số phận
của chị Hối trong truyện Ông cúm bà co, bị ốm nhưng không có thuốc men chữa

2.2 – Sau Cách mạng tháng Tám:
Sau Cách mạng tháng Tám, Tô Hoài có sự chuyển biến mạnh mẽ về tư tưởng và
sáng tác. Tâm trạng trăn trở, phân vân định hướng không dừng lại quá lâu ở Tô Hoài.
Ông đã nhanh chóng chiếm lĩnh hiện thực cuộc sống và sáng tạo thành công nhiều
tác phẩm có giá trị ở các thể loại loại khác nhau. Trong đó, tiểu thuyết Miền Tây của
ông đạt giải thưởng Bông sen vàng của Hội Nhà văn Á Phi vào năm 1970.
Bước chuyển trong sáng tác của Tô Hoài được thể hiện rõ ở cả chủ đề và đề tài. Tô
Hoài không bó hẹp nội dung và đối tượng phản ảnh trong phạm vi của một vùng dân
nghèo ngoại thành Hà Nội nơi ông từng gắn bó, mà ông còn hướng đến một không
gian rộng lớn, đến với cuộc sống của nhiều lớp người, nhiều vùng đất khác nhau, nổi
bật nhất là miền núi Tây Bắc. Tây Bắc không còn là miền đất xa lạ, nó đã trở thành
quê hương thứ hai của Tô Hoài. Ông viết về Tây Bắc không chỉ bằng tài năng nghệ
thuật, vốn sống phong phú, mà còn bằng cả tình yêu đằm thắm thiết tha như chính
quê hương mình. Bởi lẽ, với Tô Hoài: “Đất nước và người miền Tây đã để thương, để
nhớ cho tôi nhiều quá”, hình ảnh Tây Bắc “lúc nào cũng thành nét, thành người,
thành việc trong tâm trí tôi”, nó có sức ám ảnh mạnh mẽ khơi dậy nguồn cảm hứng
sáng tạo và thúc đẩy nhà văn viết thành công nhiều tác phẩm về miền đất này. Trên
cơ sở đó, có thể xem ông là nhà văn của miền núi Tây Bắc, là một trong những người
đặt nền móng cho nền văn học viết về đề tài Tây Bắc.
Tác phẩm đầu tiên của Tô Hoài viết về miền núi là tập truyện Núi Cứu quốc(1948). Ở
tác phẩm này ông đã thể hiện được cảnh sống vất vả, thiếu thốn, nhưng giàu nghĩa
tình đối với cách mạng, cũng như ý chí quyết tâm chiến đấu của đồng bào miền núi.
Tuy nhiên, tác phẩm này còn nặng về thể hiện, miêu tả các tài liệu, bề mặt của vấn
đề mà ít đi vào khám phá chiều sâu, bản chất của nó để rồi “chết chìm trong tài liệu”
như nhà văn đã tâm sự trong Một số kinh nghiệm viết văn của tôi. Vì thế, tác phẩm
trên còn thiếu sự sinh động, thiếu sức hấp dẫn đối với người đọc.
Phải đến Truyện Tây Bắc, Tô Hoài mới có được sự thành công đặc sắc ở mảng đề tài
về miền núi Tây Bắc. Bằng tài năng nghệ thuật và vốn sống phong phú về Tây Bắc,
ông đã thể hiện được một cách chân thật, sinh động những nỗi đau thương, khổ nhục
của họ dưới ách áp bức nặng nề của kẻ thù thực dân phong kiến. Tập Truyện Tây Bắc

nghệ thuật trong cách triển khai cốt truyện, dựng cảnh, cách khai thác các chi tiết
nghệ thuật, và nhất là việc xây dựng thành công một số nhân vật mang tính điển
hình tạo nên ở người đọc dấu ấn sâu bền như : Giàng Súa, Thào Khay, Vừ Sóa Tỏa.
Đặc biệt, nhà văn có sự kết hợp hài hòa bút pháp hiện thực và bút pháp lãng mạn
trong quá trình sáng tạo. Chính điều này đã góp phần làm nên vẻ đẹp rất chân thật
mà cũng rất giàu chất thơ mộng lãng mạn cho Miền Tây.
Sống trong cuộc đời mới, nhà văn Tô Hoài cũng “ôn chuyện cũ”, ngòi bút của ông
hướng về xã hội trước Cách mạng tháng Tám từ cách nhìn, sự suy ngẫm sâu sắc hơn
theo thời gian và những trải nghiệm trong cuộc sống. Ở tiểu thuyết Mười năm, với
tầm nhận thức mới và từ chỗ đứng của cuộc sống hiện tại nhiều đổi thay mang ý
nghĩa lớn trong đời sống dân tộc, Tô Hoài đã phản ảnh chân thật và sinh động hơn
cảnh sống bi thảm, đói nghèo, cùng quẫn ở một vùng quê ven đô, nơi mà nhà văn đã
chứng kiến và trải qua cùng với bao số phận khác. Đồng thời, qua Mười năm, nhà
văn cũng thể hiện được quá trình giác ngộ cách mạng của quần chúng cũng như sức
mạnh của họ trong các phong trào đấu tranh chống lại sự áp bức bóc lột của chế độ
thực dân phong kiến. Đi đầu trong phong trào đấu tranh là lớp thanh niên như Lạp,
Trung, Lê, Ba, Họ tiếp thu ánh sáng lí tưởng mới, và hăng hái nhiệt tình tham gia
các hoạt động để đem lại sự đổi thay cho cuộc sống.
Ở Mười năm, còn một số chi tiết có thể gạt bỏ để tác phẩm có thể hoàn thiện hơn,
nhưng điều cần nhận thấy, ở tác phẩm này Tô Hoài với tầm nhận thức mới đã phát
huy được sự sắc sảo trong cách quan sát và bút pháp thể hiện.
Sau tiểu thuyết Mười năm, Tô Hoài còn viết nhiều tác phẩm khác về ngoại thành Hà
Nội như : Quê người, Quê nhà, Những ngõ phố, người đường phố, và gần đây là
Chuyện cũ Hà Nội (hai tập). Điều đó cho thấy vốn sống, nguồn tư liệu, cũng như
nguồn cảm hứng sáng tác của Tô Hoài về Hà Nội vô cùng phong phú đa dạng. Từ các
tác phẩm viết về Hà Nội của ông, người đọc có điều kiện hiểu hơn về phong tục, nếp
sinh hoạt, tên gọi phố phường, con người Hà Nội trải dài suốt cả thế kỉ XX trong cuộc
sống đời thường và cả trong chiến tranh.
Không chỉ thành công ở thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết, Tô Hoài còn đạt được
thành tựu đặc sắc ở thể kí. Nhiều tác phẩm kí của ông xuất hiện sau những chuyến

cũng không nằm ngoài không gian nghệ thuật và đối tượng khám phá, thể hiện nói
trên.
3.2 - Lối viết đậm đà màu sắc dân tộc
Đặc điểm phong cách nghệ thuật này của Tô Hoài được biểu hiện cụ thể ở các điểm
sau:
- Cách đặt tên cho tác phẩm của Tô Hoài có khi được xuất phát từ thành ngữ dân
gian: “ Đất khách, quê người”; “ Hoa đồng cỏ dại”; “ Giăng thề còn đó trơ trơ”.
- Cách kể chuyện, dẫn truyện của Tô Hoài có sức lôi cuốn, hấp dẫn người đọc, biểu
hiện rõ ở tác phẩm Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ, Dế Mèn phiêu lưu kí .
- Tô Hoài thường đi vào khám phá và thể hiện truyền thống nhân nghĩa của con
người Việt Nam như : trọng nghĩa khinh tài, khí tiết, thủy chung,…
- Tô Hoài khai thác đề tài lịch sử để ngợi ca phẩm chất cao đẹp của con người Việt
Nam, tiêu biểu là tác phẩm Đảo hoang, Chuyện ông Gióng.
3.3 - Cách quan sát thông minh hóm hỉnh và rất tinh tế.
Cách quan sát thông minh hóm hỉnh và rất tinh tế là khả năng nổi trội của Tô Hoài
trong quá trình sáng tạo nghệ thuật. Khả năng này của ông được biểu hiện rõ ngay
từ trước cách mạng qua những truyện viết về loài vật. Càng về sau càng được phát
huy ở nhiều tác phẩm khác. Những trang văn của Tô Hoài khi miêu tả cảnh sắc thiên
nhiên, phong tục tập quán, lễ hội ở vùng ngoại thành Hà Nội và vùng núi Tây Bắc
đều để lại cho người đọc ấn tượng sâu bền, cũng như luôn mang đến cho họ nguồn
tư liệu rất phong phú về lịch sử, địa lí và đời sống văn hóa tinh thần của dân tộc. Đặc
biệt, khi miêu tả ngoại hình và diễn biến tâm lí của nhân vật, Tô Hoài đã chọn lựa
những chi tiết độc đáo có sức gợi cảm nhằm tác động mãnh liệt đến tình cảm nhận
thức của người đọc về thân phận của nhân vật. Nhà văn còn sử dụng yếu tố ngoại
cảnh để góp phần làm nổi bật hơn nội tâm của nhân vật trong từng hoàn cảnh, tình
huống cụ thể. Chính vì thế, các nhân vật trong tác phẩm của Tô Hoài thường mang
nét riêng và gợi cho người đọc biết bao điều suy ngẫm.
3.4 - Đặc sắc trong cách sử dụng ngôn ngữ.
Ngôn ngữ trong tác phẩm của Tô Hoài là ngôn ngữ xuất phát từ đời sống quần
chúng. Tô Hoài quan niệm đó là kho của cải vô giá và ông đã biết cách chọn lựa,

buồn rười rượi"
Đây là thủ pháp nhằm tạo tình huống: có vấn đề trong lối kể chuyện truyền thống
giúp tác giả mở lối dẫn người đọc cùng tham gia hành trình tìm hiểu những bí ấn của
số phận nhân vật.
- Phần tiếp theo của đoạn trích kể về số phận éo le và những phẩm chất tốt đẹp của
nhân vật Mị. Chú ý vào hai nét chính: Cô Mị với cuộc đời cực nhục, khổ đau và cô Mi
với sức sống tiềm tàng dẫn tới sứ Phản kháng mãnh liệt, táo bạo.
+ Vì món nợ truyền kiếp khiến Mị trở thành con dâu gạt nợ cho nhà thống lí Pá Tra.
Khái niệm con dâu gạt nợ : Con dâu gạt nợ thì bề ngoài là con dâu nhưng thực chất
bên trong là con nợ. Điều cực nhục và khổ đau của số phận nhân vật mà đó là: một
con nợ thông thường dù khốn khổ vẫn còn hi vọng một ngày nào đó thoát khỏi thân
phận con nợ khi đã thanh toán đầy đủ cho chủ nợ. Phương thức thanh toán có thể
bằng tiền, bằng vật chất, bằng số ngày công làm việc cho chủ nợ , Oái ăm chỗ, Mị là
con nợ nhưng Mị cũng lại là con dâu. Là con dâu, linh hồn Mị đã bị đem trình ma nhà
thống lí rồi, Mị không thể chạy đâu cho thoát! Mị sẽ phải kéo lê cái thân phận khốn
khổ của mình cho đến bao giờ? cho đến tàn đời!
Thực ra, cái nguy cơ bị biến thành một thứ con nợ chung thân Mị đã linh cảm từ
trước. Cô đã nghĩ cách cứu mình (thực chất là cứu tình yêu của mình) và trả món nợ
của gia đình bằng cách đề nghị cha để cô "đi làm nương"; cô đã van xin cha: "đừng
bán con cho nhà giàu". Nhưng sự thông minh của một cô gái mới lớn không thắng
được hoàn cảnh và mưu chước thâm độc của cha con thống lí. Mị bị tròng hai thứ dây
trói là làm con nợ (bắt buộc) và làm con dâu (ép buộc) vì cha con thống lí Pá Tra đã
muốn như thế.
Phải sống với kẻ mà mình không yêu là nỗi khổ và nỗi đau của Mị. Có đến mấy tháng
trời, đêm nào Mị cũng khóc. Rồi không thể chịu đựng hơn được nữa, Mị tính chuyện
ăn là ngón để tìm sự giải thoát: Người con gái hiếu thảo ấy, trước khi chết về lạy cha
mà cũng để xin cha cho mình được chết. Mấy lời thống thiết của người cha già chịu
nhiều khổ não trong đời đã khiến Mị không thể nghĩ cho nỗi buồn của riêng bản thân
Mị. Cô quay trớ lại nhà thống lí.
Từ đấy, Mị chấp nhận cảnh ngộ sống "lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa". Âm

người. Lẽ phải đơn sơ ấy, qua tiếng sáo, đã vọng vào tâm hồn cô gái có một thời
từng thổi sáo rất hay.
- diễn biến tâm lí nhân vật Mị trong đềm uống rượn đón xuân về, khi nghe tiếng sáo
gọi bạn, khi niềm khao khát sống trở lại, khi bị A Sử trói đứng, khi chứng kiến tình
cảnh của A Phủ cho tới khi cầm đao cắt đây trói cứu người bạn cùng cảnh ngộ và
quyết định bỏ trốn khỏi Hồng Ngài
Sự hồi sinh của tâm hồn nhân vật được tác giả miêu tả tinh tế, phù hợp với tính cách
của người con gái ấy. Tuy nhiên, cần chú ý việc nhà văn sử dụng khá nhiều những
yếu tố bên ngoài tác động vào nhân vật, được miêu tả rất tự nhiên như: khung cành
mùa xuân, tiếng sáo gọi bạn tình, bữa rượu cúng ma đón năm mới Tất cả đã hoá
thành những lực tác động âm thầm đánh thức nỗi căm ghét bất công và tàn bạo
cùng ý thức phản kháng lại cường quyền, đánh thức cả niềm khao khát một cuộc
sống tự do, hoang dã và hồn nhiên vẫn được bảo lưu đâu đó tróng dòng máu truyền
lại từ lối sống của tổ tiên du mục xa xưa, làm sống dậy cái sức sống ẩn tàng trong cơ
thể trẻ trung và tâm hồn vốn ham sống của Mị.
- Hành động của nhân vật Mị xuất phát từ những thôi thúc của nội tâm :
+ Mị lén lấy hũ rượn, cứ uống ực từng bát trong một trạng thái thật khác thường.
Rượu làm cơ thể và đầu óc Mị say, nhưng tâm hồn cô thì từ phút ấy, đã tỉnh lại sau
bao tháng ngày câm nín, mụ mị vì sự dày đoạ. Cái cách uống ừng ực như thế, khiến
người ta nghĩ: như thể cô đang uống đắng cay của cái phần đời đã qua, như thể cô
đang uống cái khao khát của phần đời chưa tới.
+ Lòng Mị đã phơi phới trở lại và cái ý nghĩ lạ lùng mà rất chân thực "Nếu có nắm lá
ngón trong tay lúc này, Mị sẽ ăn cho chết ngay, chứ không buôn nhớ lại nữa". Nghịch
lí trên cho thấy: khi niềm khao khát sống hồi sinh, tự nó bỗng trở thành một mãnh
lực không ngờ, xung dột gay gắt, quyết một mất một còn với cái trạng thái vô nghĩa
lí của thực tại. Sở trường phân tích tâm lí cho phép ngòi bút tác giả lách sâu vào
những bí mật của đời sống nội tâm, phát hiện nét đẹp và nét riêng của tính cách.
+ Mị xắn mỡ bỏ vào đĩa đèn cho căn buồng sáng lên, Mị mặc áo váy mới để chuẩn bị
đi chơi Mị với những kí ức tươi dẹp thời thanh xuân quên cả cảnh mãnh đang bị
trói,

Một người to lớn chạy vụt ra vung tay ném con quay rất to vào mặt A Sử. Con quay
gỗ ngát lăng nào giữa mặt. Nó vừa kịp bưng tay lên. A Phủ đã xộc tới, nắm cái vòng
cổ, kẹo dập đầu xuống, xé vai áo, đánh tới tấp"
Một đoạn văn ngắn với hàng loạt các động từ cùng lối miêu tả các động tác nhanh,
gấp: chạy vụt ra, ném, lăng, xộc tới, nắm cái uổng cổ, kéo dập đầu xuống, xé lai áo,
đánh tới tấp cho thấy sức mạnh và tính cách con người A Phủ qua hành động.
Ở vùng núi cao, bọn chúa đất như thống lí Pá Tra là một thứ trời con, con trai thống
lí là con trời, không ai dám đụng tới. Nhưng A Phủ không sợ. Với A Phủ, A Sử chỉ là
đứa phá đám cuộc chơi, cần phải đánh. Thế thôi.
A Phủ đã phải trả một cái giá rất đắt cho hành động táo tợn ấy. Nhưng là người đơn
giản, A Phủ không quan tâm. Khi đã phải sống thân phạn của kẻ làm công trừ nợ, A
Phủ vẫn là một chàng trai của tự do, dù phải quanh năm một thân một mình "đốt
rừng, cày nương, cuốc nương, săn bò tót, bẫy hổ, chăn bò, chăn ngựa " nhưng cũng
là quanh năm A Phủ "bôn ba rong ruổi ngoài gò ngoài rừng" làm phăng phăng mọi
thứ, không khác với những năm tháng trước kia. Khi rừng đôi, vì mải bẫy nhím, để
hổ bắt mất bò, A Phủ điềm nhiên vác nửa con bò hổ ăn đó về. A Phủ nói chuyện đi
"lấy con hổ về" một cách thản nhiên và coi đó là một chuyện rất dễ dàng. A Phủ cãi
lại thống lí cũng rất điềm nhiên: A Phủ không biết sợ các uy của bất cứ ai. Con hổ
hay thống lí Pá Tra cũng thế thôi. Kể cả khi lẳng lặng đi lấy cọc và dây mây, rồi đóng
cọc để người ta trói đứng mình chết thế mạng cho con vật bị mất, A Phủ cũng làm
các việc ấy một cạch thản nhiên, không nói. Là người mạnh mẽ và gan góc, A Phủ
không sợ cả cái chết
Có thể nói, nhân vật A Phủ đã được khắc hoạ thành công. Sở trường quan sát nhạy
bén và khả năng thiên phú trong việc nắm bắt cá tính con người là hai yếu tố đã giúp
nhà văn, chỉ với mấy nét đơn sơ mà tạo dựng được một hình tượng đặc sắc.
Đề bài :Phân tích tâm trạng và hành động của nhân vật Mị trong đêm cứu A
Phủ________________________________________
Mị là nhân vật trung tâm trong truyện ngắn "Vợ chồng A Phủ" mà nhà văn Tô Hoài
đã giành nhiều tài năng và tâm huyết để xây dựng. Truyện được trích từ tập "truyện
Tây Bắc" (1953) của Tô Hoài. Trong chuyến đi cùng bộ đội vào giải phóng miền Tây

đang hòa nhập với mùa xuân, với cuộc đời. Đêm ấy thật là một đêm có ý nghĩa với
Mị. Đó là đêm cô thực sự sống cho riêng mình sau hàng ngàn đêm cô sống vật vờ
như một cái xác không hồn. Đó là một đêm cô vượt lên uy quyền và bạo lực đế sống
theo tiếng gọi trái tim mình.
Sau đêm mùa xuân ấy, Mị lại tiếp tục sống kiếp đời trâu ngựa. Thế nhưng viết về vấn
đề này, Tô Hoài khẳng định: cái khổ cái nhục mà Mị gánh chịu như lớp tro tàn phủ
khuất che lấp sức sống tiềm tàng trong lòng Mị. Và chỉ cần có một luồng gió mạnh
đủ sức thổi đi lớp tro buồn nguội lạnh ấy thì đốm lửa ấy sẽ bùng cháy và giúp Mị
vượt qua cuộc sống đen tối của mình. Giá trị nhân đạo của tác phẩm ngời lên ở chỗ
đó.
Và cuối cùng, luồng gió ấy cũng đến. Đó chính là những đêm mùa đông dài và buồn
trên núi rừng Tây Bắc đang về. Mùa đông rét buốt như cắt da cắt thịt, vì thế đêm
nào Mị cũng ra bên ngoài bếp lửa để thổi lửa hơ tay. Trong những đêm đó Mị gặp A
Phủ đang bị trói đứng chờ chết giữa trời giá rét. Thế nhưng Mị vẫn thản nhiên thổi
lửa hơ tay "dù A Phủ là cái xác chết đứng đó cũng thế thôi". Tại sao Mị lại lãnh cảm,
thờ ơ trước sự việc ấy? Phải chăng việc trói người đến chết là một việc làm bình
thường ở nhà thống lý Pá Tra và ai cũng quen với điều đó nên chẳng ai quan tâm
đến. Hay bởi Mị "sống lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi" nên Mị lãnh đạm, thờ ơ
trước nỗi đau khổ của người khác. Một đêm nữa lại đến, lúc đó mọi người trong nhà
đã ngủ yên cả rồi, Mị lại thức dậy đến bếp đốt lửa lên để hơ tay. Lửa cháy sáng, "Mị
lé mắt trông sang, thấy hai mắt A Phủ cũng vừa mở, một dòng nước mắt lấp lánh bò
xuống hai hõm má đã xám đen lại". Đó là dòng nước mắt của một kẻ nô lệ khi phải
đối mặt với cái chết đến rất gần. Chính "dòng nước mắt lấp lánh ấy" đã làm tan chảy
lớp băng giá lạnh trong lòng Mị. Lòng Mị chợt bồi hồi trước một người, trùng cảnh
ngộ. Đêm mùa xuân trước Mị cũng bị A Sử trói đứng thế kia, có nhiều lần khóc nước
mắt rơi xuống miệng, xuống cổ không biết lau đi được. Mị chợt nhận ra người ấy
giống mình về cảnh ngộ, mà những người cùng cảnh ngộ rất dễ cảm thông cho nhau.
Mị nhớ lại những chuyện thật khủng khiếp lúc trước kia, “chúng nó bắt trói đến chết
người đàn bà ngày trước cũng ở trong cài nhà này”. Lí trí giúp Mị nhận ra “Chúng nó
thật độc ác”. Việc trói người đến chết còn các hơn cả thú dữ trong rừng. Chỉ vì bị hổ

nói với A Phủ sau bao nhiêu năm câm nín: “A Phủ. Cho tôi đi! Ở đây thì chết mất”.
Đó là lời nói khao khát sống và khát khao tự do của nhân vật Mị. Câu nói ấy chứa
đựng biết bao tình cảm và làm quặn đau trái tim bạn đọc. Đó chính là nguyên nhân -
hệ quả của việc Mị cắt đứt sợi dây vô hình ràng buộc cuộc đời của mình. Thế là Mị và
A Phủ dìu nhau chạy xuống dốc núi. Hai người đã rời bỏ Hồng Ngài - một nơi mà
những kỉ niệm đẹp đối với họ quá ít, còn nỗi buồn đau, tủi nhục thì chồng chất không
sao kể xiết. Hai người rời bỏ Hồng Ngài và đến Phiềng Sa, nhưng những ngày phía
trước ra sao họ cũng chưa biết đến…
Rõ ràng, trong đêm mùa đông này, sức sống tiềm tàng đóng một vai trò hết sức
quan trọng. Chính nó đã giúp Mị vượt lên trên số phận đen tối của mình. Mị cứu A
Phủ cũng đồng nghĩa với việc Mị tự cứu lấy bản thân mình. Qua đoạn trích trên, Tô
Hoài đã ca ngợi những phẩm chất đẹp đẽ của người phụ nữ miền núi nói riêng và
những người phụ nự Việt Nam nói chung. Tô Hoài đã rất cảm thông và xót thương
cho số phận hẩm hiu, không lối thoát của Mị. Thế nhưng bằng một trái tim nhạy cảm
và chan chứa yêu thương, Tô Hoài đã phát hiện và ngợi ca đốm lửa còn sót lại trong
trái tim Mị. Tư tưởng nhân đạo của nhà văn sáng lên ở đó. Đồng thời qua tác phẩm,
Tô Hoài cũng đã khẳng định được chân lí muôn đời: ở đâu có áp bức bất công thì ở
đó có sự đấu tranh để chống lại nó dù đó là sự vùng lên một cách tự phát như Mị.
Quả thật qua đó tác phẩm này giúp ta hiểu được nhiều điều trong cuộc sống.
Với truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” nói riêng và tập “Truyện Tây Bắc” nói chung, ta
hiểu vì sao Tô Hoài lại thành công trong thể loại truyện ngắn đến như vậy. Nét phong
cách nghệ thuật: màu sắc dân tộc đậm đà chất thơ chất trữ tình thấm đượm, ]. Tác
phẩm “Truyện Tây Bắc” xứng đáng với giải nhất truyện ngắn - giải thưởng do Hội
nghệ sĩ Việt Nam trao tặng năm 1954 - 1955. Và “Vợ chồng A Phủ” thực sự để lại ấn
tượng tốt đẹp trong lòng bạn đọc bởi những giá trị nghệ thuật, giá trị hiện thực và
giá trị nhân đạo của nó. Truyện ngắn này quả là một truyện ngắn tiêu biểu cho
phong cách Tô Hoài.
Đối với riêng em, truyện “Vợ chồng A Phủ” giúp em cảm thông sâu sắc trước nỗi khổ
của người phụ nữ trong xã hội phong kiến miền núi, từ đó giúp em ngày càng trân
trọng khát vọng của họ hơn. Đây quả là một tác phẩm văn chương đích thực bởi nó

Tưởng đâu đấy sẽ là một dấu chấm hết cho cuộc đời của người đàn bà Mèo ấy,
nhưng đằng sau cái đống tro tàn của lòng Mị, vẫn còn thấp thoáng đâu đó những tia
lửa nhỏ của khát vọng sống. Và chỉ cần một cơn gió tác động, nó sẽ bừng lên thành
lửa ngọn – ngọn lửa của sự khát khao mãnh liệt được sống – chứ không chấp nhận
tồn tại với thân phận nô lệ như vậy. Và cũng vì thế, người ta khó có thể nào quên cái
mùa xuân muộn năm ấy ở Hồng Ngài. Khi những dấu hiệu của Tết đang đến gần:
ngọn khói, tấm váy hoa xòe được đem phơi, lũ trẽ ầm ĩ chơi quay trong sân, tiếng
sáo gọi bạn tình văng vẳng đến trước ngõ mỗi nhà… thì tất cả mọi người dân đã sẵn
sàng cho một cái Tết thật sôi nổi, đầm ấm.
Cái không khí mùa xuân sặc sỡ đa thanh đa sắc ấy đã phần nào tác động đến tâm
hồn giá lạnh nơi Mị. Cùng với men rượu ngà ngà của buổi cúng ma của nhà Thống
Lý, Mị như lịm đi bên mâm rượu thầm nhớ về ngày xưa – cái ngày Mị còn nghe văng
vẳng tiếng sáo gọi bạn tình, ngày mà Mị còn được tự do với tình yêu của mình. Càng
nghĩ về ngày xưa, Mị lại càng thấm thía được nỗi đau thân phận nô lệ nhục nhã, tủi
hổ như đang len lỏi vào từng suy nghĩ của mình. Càng nghĩ, càng tủi, Mị lại muốn tìm
một sự giải thoát nơi chén rượu ấy với từng bát “ực” như một sự phản kháng của
riêng mình. Và như nhận thức được bản thân, Mị lại tìm đến căn buồng tối ấy – như
một sự tìm kiếm đến một không gian riêng. Mị nhận ra cái cuộc hôn nhân không tình
yêu đó đã đày đọa đời Mị biết bao lâu. Cái cảm giác muốn được chết đã quay lại nơi
Mị cùng với sự thấp thoáng của tiếng sao văng vẳng đâu đây: “Anh ném pao, em
không bắt – Em không yêu, quả pao rơi rồi”. Ngày xưa, Mị cũng là một cô gái trẻ,
tràn đầy sức sống, cũng là con người tài hoa với việc thổi kèn lá, kèn môi rất giỏi. Vì
thế, ta không ngạc nhiên gì khi tiếng sáo văng vẳng nơi xa kia, cùng với hơi rượu
nồng nàn đã khơi dậy nơi Mị những bổi hổi, bồi hồi về những ngày trước kia. Mị cảm
thấy phơi phới, cảm thấy mình còn trẻ lắm, còn rất trẻ và muốn đi chơi,cũng muốn
hòa nhập bản thân mình vào lễ hội tưng bừng ấy. Nghĩ là làm, Mị đến góc nhà, “lấy
ống mỡ, xắn một miếng bỏ thêm vào đĩa đèn cho sáng”. Hành động nhỏ ấy nhưng đã
cho ta thấy được biết bao nhiêu điều: Mị đã dần nhận thức được không gian mình
đang sống, đang cần một chút ánh sáng – dù chỉ heo hắt – để soi sáng con đường,
soi sáng cả cuộc sống tối tăm mù mịt của mình nơi địa ngục trần gian ấy. Ngay sau

ngọn sóng ngầm luôn thường trực trong tâm hồn người đàn bà ấy, sẵn sàng tuôn
trào ra, mãnh liệt hơn lúc nào hết!
Phân tích nhân vật Mị trong truyện "Vợ chồng A Phủ"
Phân tích nhân vật Mị trong truyện "Vợ chồng A Phủ"
I . Mở bài
Tô Hoài là nhà văn lớn của nền văn xuôi hiện đại VN với số lượng tác phẩm đạt kỉ
lục .Vợ chồng A Phủ là truyện ngắn thành công nhất trong ba truyện ngắn viết về đề
tài Tây Bắc của ông .Tác phẩm có một giá trị hiện thực và nhân đạo đáng kể . Truyện
viết về cuộc sống của người dân lao động vùng núi cao, dưới ách thống trị tàn bạo
của bọn thực dân phong kiến miền núi . Đặc biệt truyện đã xây dựng thành công
nhân vật Mị , qua đó ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn, sức sống tiềm tàng và khả năng đến
với cách mạng của nhân dân Tây Bắc .
II. Thân bài
Vợ chồng A Phủ in trong tập truyện Tây Bắc (1954). Tập truyện được tặng giải nhất-
giải thưởng Hội văn nghệ Việt Nam 1954- 1955.Tác phẩm ra đời là kết quả của
chuyến đi thực tế của nhà văn cùng với bộ đội giải phóng Tây Bắc năm 1952 .
Vợ chồng A Phủ mở đầu bằng cách giới thiệu nhân vật Mị ở trong cảnh tình đầy nghịc
lý và cuốn hút độc giả :
“Ai ở xa về, có dịp vào nhà thống lí Pá Tra thường trông thấy có một cô gái ngồi quay
sợi gai bên tảng đá trước cửa, cạnh tầu ngựa . Lúc nào cũng vậy, dù quay sợi, thái cỏ
ngựa, dệt vải, chẻ củi hay đi cõng nước dưới khe suối lên, cô ấy cũng cúi mặt, mặt
buồn rười rượi” .
Cách giới thiệu tạo ra những đối nghịch về một cô gái âm thầm lẻ loi, âm thầm như
lẫn vào các vật vô tri: cái quay sợi, tảng đá, tàu ngựa ; cô gái là con dâu nhà thống lí
quyền thế, giàu có nhưng sao mặt lúc nào “buồn rười rượi”. Khuôn mặt đó gợi ra một
số phận đau khổ , bất hạnh nhưng cũng ngầm ẩn một sức mạnh tiềm tàng .
Mị trước đó vốn là một người con gái đẹp . Mị có nhan sắc, và có khả năng âm nhạc,
cô giỏi sáo và giỏi , uốn chiếc lá trên môi, thổi lá cũng hay như thổi sáo” . Cô còn
một tâm hồn tràn đầy khát khao cuộc sống, khát khao yêu đương . Quả thế, Mị đã
được yêu, và đã khát khao yêu, trái tim từng đã bao nhiêu lần hồi hộp trước trước

Bức tranh Hồng Ngài mùa xuân năm ấy có sức làm say đắm lòng người tuổi trẻ . Gió
rét, sắc vàng ửng của cỏ tranh, sự biến đổi màu sắc kì ảo của các lòai hoa đẹp đã
góp phần làm nên cuộc nổi loạn trong một tâm hồn đã bấy nhiêu năm tê dại vì đau
khổ . Tác nhân quan trọng là hơi rượu . Ngày tết năm đó Mị cũng uống rượu, Mị lén
uống từng bát , “uống ừng ực” rồi say đến lịm người đi . Cái say cùng lúc vừa gây sự
lãng quên vừa đem về nỗi nhớ . Mị lãng quên thực tại (nhìn mọi người nhảy đồng ,
người hát mà không nghe, không thấy và cuộc rượu tan lúc nào cũng không hay)
nhưng lại nhớ về ngày trước (ngày trước, Mị thổi sáo cũng giỏi …), và quan trọng hơn
là Mị vẫn nhớ mình là một con người, vẫn có cái quyền sống của một con người : “Mị
vẫn còn trẻ . Mị muốn đi chơi . Bao nhiêu người có chồng cũng đi chơi ngày Tết .
Huống chi Mị và A Sử, không có lòng với nhau mà vẫn phải ở với nhau” .
Nhưng tác nhân có tác dụng nhiều nhất trong việc dìu hồn Mị bềnh bồng về với
những khát khao hạnh phúc yêu đương có lẽ vẫn là tiếng sáo bởi tiếng sáo là tiếng
gọi của mùa xuân, của tình yêu và tuổi trẻ . Tiếng sáo rập rờn trong đầu Mị, nó đã
trở nên tiếng lòng của người thiếu phụ .
Mị đã thức dậy với sức sống tiềm tàng và cảm thức về thân phận . Cho nên trong
thời khắc âý, ta mới thấy Mị đầy rẫy những mâu thuẫn . Lòng phơi phới nhưng Mị
vẫn theo quán tính bước vào buồng , ngồi xuống giường, trông ra cái lỗ vuông mờ
mờ trăng trắng . Và khi lòng ham sống trỗi dậy thì ý nghĩ đầu tiên là được chết ngay
đi .
Nhưng rồi nỗi ám ảnh và sức sống mãnh liệt của tuổi xuân cứ lớn dần , cho tới khi nó
lấn chiếm hẳn trọn bộ tâm hồn và suy nghĩ của Mị, cho tới khi Mị hoàn toàn chìm hẳn
vào trong ảo giác : “Mị muốn đi chơi . Mị cũng sắp đi chơi” . Phải tới thời điểm đó Mị
mới có hành động như một kẻ mộng du : quấn lại tóc , với thêm cái váy hoa, rồi rút
thêm cái áo . Tất cả những việc đó , Mị đã làm như trog một giấc mơ, tuyệt nhiên
không nhìn thấy A Sử bước vào, không nghe thấy A Sử hỏi “.
Rồi cái gì đến đã đến . A Sử trói Mị vào cột, rồi lẳng lặng khoác thêm vòng bạc đi
chơi , bỏ mặc Mị trong trạng thái mộng du đang chìm đắm với những giấc mơ về một
thời xuân trẻ, đang bồng bềnh trong cảm giác du xuân . Tâm hồn Mị đang còn sống
trong thực tại ảo, sợi dây trói của đời thực chưa thể làm kinh động ngay lập tức giấc

người còn đầy sức sống và khát vọng thay đổi số phận .
Nhà văn Tô Hoài đã viết về Mị với tất cả lòng yêu thương, thông cảm, và chỉ có lòng
yêu thương thông cảm, Tô Hoài mới phát hiện ra vẻ đẹp tiềm tàng trong tâm hồn
những con người ham sống như Mị .
III . Kết bài
Vợ chồng A Phủ qua việc khắc hoạ sâu sắc cuộc đời , số phận , tính cách Mị đã tố cáo
hùng hồn, đanh thép những thế lực phong kiến , thực dân tàn bạo áp bức bóc lột,
đọa đày người dân nghèo miền núi . Đồng thời nó cũng khẳng định khát vọng tự do
hạnh phúc , sức sống mạnh mẽ và bền bỉ của những người lao động . Đặc biệt đề cao
sự đồng cảm giai cấp, tình hữu ái của những người lao động nghèo khổ . Chính điều
này đem lại sức sống và sự vững vàng trước thời gian của Vợ chồng A Phủ .
(Sưu tầm)
VỢ CHỒNG A PHỦ ( TÔ HOÀI )
Đề 1 : Hãy trình bày hoàn cảnh sáng tác, xuất xứ, tóm tắt cốt truyện, chủ đề,
giá trị hiện thực, nhân đạo của tp Vơ chồng A Phủ ?
Vợ chồng APhủ in trong tập truyện Tây Bắc, kết quả của chuyến Tô Hoài đi cùng bộ
đội vào giải phóng Tây Bắc (1952). Trong chuyến đi dài 8 tháng này, ông đã sống
gắn bó và nghĩa tình với các đồng bào các dân tộc Thái, Mường, Hmông…Tập truyện
Tây Bắc gồm 3 truyện " Cứu đất cứu mường", Mường Giơn", " Vợ chồng A Phủ". Tập
truyện đã thể hiện một cách xúc động cuộc sống tủi nhục của đồng bào miền núi Tây
Bắc dưới ách phong kiến thực dân. Trong cảnh đâu thương tột cùng đó, cách mạng
đã đến với họ và họ đã thức tỉnh.
Truyện "Vợ chồng A Phủ" viết về chặng đường đời của Mị và A Phủ những ngày sống
ở Hồng Ngài nhà Thống lí Pá Tra sang Phiềng Sa , nên vợ nên chồng và đến với cách
mạng. Tác phẩm đoạt giải nhất của Hội văn nghệ Việt Nam ( 1954-1955)
Tóm tắt
Mị, một cô gái xinh đẹp, yêu đời, có khát vọng tự do, hạnh phúc, bị bắt về làm con
dâu gạt nợ cho nhà Thống lí Pá Tra.
Lúc đầu Mị phản kháng nhưng dần dần trở nên tê liệt, chỉ "lùi lũi như con rùa nuôi
trong xó cửa".

Gợi ý:
“Vợ chồng A Phủ” là truyên thành công nhất trong tập “Truyện Tây Bắc” của Tô Hoài.
Trong truyện này, nhân vật Mỵ có hồn hơn cả. Mị có hai mặt tưởng như đối lập
nhưng thực ra lại rất thống nhất. Mặt thứ nhất là Mỵ bị chà đạp nặng nề đã sinh ra
buồn rầu và dần dần sinh ra cam chịu, mất cả sức sống. Mặt thứ hai là ngay trong
tình trạng đó, Mỵ vẫn cựa quậy, vẫn tiềm tàng, tiềm ẩn một sức sống để từ đó bước
vươn dậy và cuối cùng phá cũi tháo lồng và tìm lại được lẽ sống cho mình.
Mị bị bắt làm con dâu gạt nợ nhà thống lí Pá-Tra là tấn bi kịch đau đớn nhất trong
cuộc đời nàng. A Sử đối với nàng như đối với một người nô lệ. Nhưng vì nàng là
ngươi con gái giàu tình thương, có đức hi sinh nên nàng đành cam chịu để trừ nợ cho
cha. Ở lâu trong cái khổ, Mỵ quen khổ rồi. Bây giờ Mỵ tưởng mình cũng là con trâu
con ngựa. “Con ngựa, con trâu làm còn có lúc, đêm nó còn được đứng gãi chân, đứng
nhai cỏ, đàn bà con gái nhà này thì vùi vào công việc cả đêm cả ngày ”. Quá đau
khổ, nàng đã phản kháng bỏ nhà Pá Tra trở về. Nàng định lạy cha rồi ăn lá ngón
chết. Nhưng khi nghe cha nói: “Mày về lạy tao để mày đi chết đấy à? Mày chết
nhưng nợ tao vẫn còn, quan lại bắt tao trả nợ… Không được con ơi!”. Mị bưng mặt
khóc, ném nắm lá ngón rồi trở về nhà Pá Tra. Vì quá thương cha mà nàng đành cam
chịu cuộc sống nô lệ ở nhà thống lí.
Nhưng trong tâm trạng, trong bản chất cuộc sống của Mị tiềm ẩn một sức sống
mãnh liệt. Trong nỗi buồn, trong suy nghĩ, trong ý muốn tự tử của nàng đã biểu lộ
tinh thần không muốn cam chịu, không muốn chấp nhận cuộc sống lầm than, tủi cực
hiện tại. Sức sống bị đè nén chỉ cần có cơ hội là nó sẽ bộc phát. Những đêm tình
mùa xuân đã tới, tâm hồn Mị bị xáo trộn. Nàng đã lắng nghe tiếng ai thổi sáo rủ bạn
đi chơi. Mị nghe tiếng sáo vọng lại, tha thiết bổi hổi. Mị ngồi nhẩm bài hát của người
đang thổi:
“Mày có con trai con gái rồi
Mày đi làm nương
Ta không có con trai con gá
Ta đi tìm người yêu”
Mị lén lấy hũ rượu, cứ uống ừng ực từng bát. Rồi say, Mị lịm mặt ngồi đấy hồi tưởng

cắt nút dây mây trói A Phủ. Mị thì thào: “Đi ngay…!”. Mị cắt sợi dây trói A Phủ cũng
chính là nàng đã cắt sợi dây vô hình trói nàng vào gia đình thống lí Pá Tra. Nàng đã
chạy theo A Phủ, A Phủ nói: “Đi với tôi” và hai người lẳng lặng đỡ nhau chạy xuống
dốc núi. Hình ảnh đó nói lên sự can đảm liều lĩnh của Mị. Hành động táo bạo này có ý
nghĩa quyết định trong cuộc đời Mị. Mị và A Phủ đã nương tựa vào nhau và thành vợ
chồng A Phủ để xây dựng cuộc đời mới. Hành động giải thoát của Mị có xen lẫn ý
thức tự phát và tự giác. Có lẽ ý thức tự phát mạnh hơn. Đó chính là kết quả biểu lộ
tất yếu của một sức sống vốn đã tiềm tàng, tiềm ẩn của Mị trước đó. Hành động giải
phóng và tự giải phóng này của Mị có nguồn gốc từ cái buồn rười rượi, từ cái cách
uống ừng ực từng bát rượu và ngay cả ý định muốn tự sát của Mị.
Nguồn gốc sâu xa của hành vi đó là ở tấm lòng giàu tình cảm, giàu lòng thương
người của Mị, còn nguyên do trực tiếp là tiếng sáo của những đêm tình mùa xuân đã
thức dậy trong tâm hồn nàng lòng yêu đời, niềm tha thiết với cuộc sống tự do.
Có thể nói sức sống tiềm tàng của Mị là sức hấp dẫn của nhân vật này trong thời
gian Mị ở Hồng Ngài. Tô Hoài đã đặt Mị trong mối xung đột xã hội gay gắt, những thế
lực tàn bạo của xã hội phong kiến thống trị cũa người H-mông đã chà đạp lên số
phận của nàng, tưởng như nàng không còn con đường nào thoát khỏi sự huỷ diệt.
Vậy mà chính sức sống tiềm ẩn của nàng đã tự cứu nàng. Tô Hoài đã miêu tả một
cách xuất sắc sự vận động nội tâm của nhân vật và dẫn đến hành động phản kháng
tháo cũi phá lồng giải thoát. Chính sức sống mãnh liệt của Mị khi gặp ánh sáng cách
mạng thì như hạt giống tốt gieo lên mảnh đất phù sa. Mị đã trở thành nhân tố tích
cực trong đội du kích Phiềng Sa của A Phủ sau này cũng là điều dễ hiểu.
Sưu tầm.
Phân tích diễn biến tâm trạng Mị trong đêm cởi trói cho A Phủ.
Gợi ý:
Phân tích đề
Giống như đề số 3, để làm tốt đề này, cần tham khảo kĩ đề số 1 (phân tích sức sống
tiềm tàng của nhân vật Mị thể hiện trong cảnh ngộ từ khi bị bắt làm con dâu gạt nợ
nhà Pá Tra đến khi trốn khỏi Hồng Ngài). Thực ra, về nội dung, đề này cũng là một
phần của đề số 1 (phần cuối). Tuy nhiên, khi tách ra thành một đề độc lập, sự phân

- Từ cứu người đến cứu mình :
Khi cởi trói cho A Phủ xong, Mị đứng lặng trong bóng tối. Song, chính ngay lúc ấy,
trong lòng người đàn bà khốn khổ kia mọi chuyện diễn ra rất nhanh. Mị cũng vụt
chạy ra. Trời tối lắm. Nhưng Mị vẫn băng đi. Vì ở đây thì chết mất.
Đây không phải là hành động mang tính bản năng. Đúng hơn, cùng với sự trỗi dậy
của ký ức, khát vọng sống tự do, đã khiến Mị chạy theo người mà mình vừa cứu. Mị
giải thoát cho A Phủ Phủ và giải thoát cho cả bản thân mình! Hành động táo bạo và
bất ngờ ấy là kết quả tất yếu của sức sống tiềm tàng khi người con gái yếu ớt dám
chống lại cả cường quyền và thần quyền.
3. Kết luận :
Qua tâm trạng của Mị trong đêm cởi trói cho A Phủ, chúng ta thấy được cả sức sống
tiềm tàng ở một người phụ nữ bị đoạ đày vả về thể xác lẫn tinh thần, tưởng chừng
như mất đi hết đời sống tâm hồn. Phải yêu thương và có một niềm tin mãnh liệt vào
con người nhà văn mới có được cái nhìn nhân đạo như vậy.
Tô Hoài đã miêu tả diễn biến tâm trạng của nhân vật Mị rất tự nhiên, hợp lý và chân
thực. Không thấy diễn biến tâm trạng của nhân vật sẽ không hiểu được hành động
của nhân vật đó. Hành động cuối cùng của Mị - cởi trói cho A Phủ - có vẻ bất ngờ
nhưng lại hợp với quy luật tâm lý con người, quy luật của cuộc sống. Nhà văn không
chỉ đem đến cho bạn đọc những nhân vật biết hành động mà quan trọng hơn là vì
sao có hành động ấy. Tô Hoài đã rất thành công khi xây dựng một nhân vật có sức
sống bên trong mãnh liệt đằng sau khuôn mặt vô hồn, vô cảm của Mị. Bởi vậy, có
người đã xem đây là “một nhân vật thành công bậc nhất trong văn xuôi cách mạng
đương đại Việt Nam” ( Trần Đình Sử )
Sưu tầm Sức sống tiềm tàng của Mị
MB:
Sự nghiệp sáng tác của nhà văn Tô Hoài tính đến nay đã già nửa thế kỉ. Hơn 60 năm
cầm bút ông là tác giả của hàng trăm đầu sách, hàng nghìn bài báo, thể loại phong
phú, đa dạng. Thế nhưng nhắc đến Tô Hoài ta ko thể quên đc tp "Dế mèn phiêu lưu
kí"- tp tiêu biểu trước Cách mạng tháng 8. Sau Cách mạng, Tô Hoài lại nổi lên với tập
truyện Tây Bắc mà linh hồn của nó là Vợ chồng A Phủ. Những năm gần đây người ta

diệt.
b. Mị toan tự tử:
Mặc dù Mị phản ứng quyết liệt, Mị ko chấp nhận vào nhà thống lí Pá Tra thế nhưng
Mị đang sống trong xã hội tiền quyền và thần quyền. Đó là xã hội phong kiến ở miền
xuôi thế nên những người hiền lành nết na như Mị ko thoát đc. Mị bị bắt cóc, bị lường
gạt về cúng trình ma nhà thống lí Pá Tra chỉ đợi ngày chết rũ xương ở đó. Biết được
điều này "có đến mất tháng trời đêm nào Mị cũng khóc". Mị ko chấp nhận cuộc sống
ở nhà thống lí Pá Tra, ý định tự tử đã đến với Mị. Mị cầm nắm lá ngón trên tay về lạy
chào cha để định quyên sinh. Nhưng khi về đến gia đình, Mị mới nhìn thấy rõ bi kịch
gia đình mình, bố Mị nói như van xin trong làn nước mắt: "Mày về lạy chào tao để
mày đi chết đấy à? Mày chết nợ tao vẫn còn, quan lại bắt tao trả nợ. Mày mà chết rồi
ko lấy ai làm nương ngô giả đc nợ người ta. Tao thì ốm yếu quá rồi. Ko đc, con ơi!"
Sau khi Mị nghe những lời nói như van xin của cha, cô đứng trước 1 hoàn cảnh éo le,
oái oăm, cay cực. Mị sống ko muốn, Mị chết ko xong. Tuy nhiên việc Mị đã đến ý
định tự tử lại thể hiện sức sống tiềm tàng, điều đó phải chăng là nghịch lý?
Mới nghe qua tưởng là nghịch lí nhưng ngẫm nghĩ lại trong hoàn cảnh của Mị đó lại là
1 điều hợp lí sâu sắc bởi vì Mị muốn chết như 1 con người còn hơn fải sống như 1 con
vật. Mị muốn chết ngay 1 lần để đc làm người còn hơn fải sống cs chết dần, chết
mòn, chết khô, chết héo, chết cả thể xác lẫn tâm hồn. Thế nhưng nếu làm theo sức
sống tiềm tàng đang trỗi dậy mạnh mẽ trong lòng thì Mị fải trà đạp lên chữ "hiếu", Mị
ko thể giày xéo lên tình phụ tử. Vì chữ "hiếu" Mị đành vứt nắm lá ngón, gạt nước mắt
quay trở lại nhà thống lí. Nhà thống lí Pá Tra ở Hồng Ngài chả khác nào thiên la địa
võng, dấn thân vào đó là dấn thân vào chỗ chết, vào địa ngục trần gian. Biết đc điều
nàynhưng Mị vẫn chấp nhận vì thương cha. Đọc đến đây ta nhớ đến bi kịch của Thuý
Kiều hơn 200 năm trước "bán mình chuộc cha". Hôm nay bi kịch ấy lại đổ dồn lên đôi
vai gầy của người con gái Mèo nghèo khổ. Giữa những năm đó, miền Bắc nước ta
đang tiến lên CNXH nhưng ánh sáng của Đảng chưa rọi tới cs của những người vùng
cao. Là 1 chiến sĩ trên diễn đàn văn chương, nói như HCM: "VH nghệ thuật là 1 mặt
trận, anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy". Tô Hoài thông qua "vợ chồng A Phủ"
đem ánh sáng của Đảng rọi lên kiếp đời thổ ti lang tảo ở bản Mèo để "cứu đất cứu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status