Bệnh mạch vành mạn cập nhật
(Kỳ 1)
I. ĐẠI CƯƠNG
A - MÔ TẢ. BỆNH CĂN
Bệnh mạch vành (BMV) là bệnh của sự tổn thương các thành động mạch
vành tim, mà nguyên nhân của tổn thương ấy trong >90% trường hợp là do các
mảng xơ vữa-huyết khối tại các động mạch vành (thường chỉ ở các mạch vành lớn
bề mặt).
Các mảng xơ vữa-huyết khối nói trên làm cho động mạch vành nào bị bệnh
như thế sẽ không hoàn thành tốt chức năng chuyển máu, y học gọi trạng thái sinh
lý bệnh ấy là 'suy vành' hoặcthiểu năng vành. Nhưng tất cả hậu quả thiệt thòi do
trạng thái ấy đều dồn cho cơ tim gánh chịu, chính xác là từng vùng nhỏ 'cục bộ' cơ
tim tương ứng (vốn do nhánh MV đó phụ trách nuôi) sẽ bị một trạng thái sinh lý
bệnh gọi là thiếu máu cục bộ (TMCB - ischemia) (xin chớ gọi "tắt" là TM -
anemia!): cụ thể là bị sự giảm tưới máu, giảm Cung (cung cấp máu mang ôxy) khi
tĩnh và nhất là khi hoạt động. Chính TMCB chỉ ở một vùng cơ tim như vừa nêu là
cốt lõi các đặc điểm bệnh học, lâm sàng, cận lâm sàng và cả một phần điều trị học
của bệnh này. Bởi vậy cách gọi "Bệnh tim thiếu máu cục bộ" (BTTMCB) - IHD
là bệnh danh được WHO chính thức khuyến cáo.
Tự bệnh nhân (bn) cảm nhận triệu chứng nổi bật là các cơn Đau ngực với
khá nhiều đặc trưng. William Heberden từ hơn 220 năm trước đã mô tả triệu
chứng này với thuật ngữ Angina pectoris (Cơn đau thắt ngực).
B - XẾP LOẠI CÁC THỂ BỆNH TRONG BMV MẠN
BMV mạn (tức BTTTMCB mạn) là một 'bệnh danh tập hợp' bao gồm bốn
thể lâm sàng:
* BMV MẠN ỔN ĐỊNH hoặc ĐAU THẮT NGỰC MẠN ỔN ĐỊNH
(ĐTNMÔĐ) (Chronic stable Angina pectoris)
Cần chú ý chữ ĐTN trong ĐTNMÔĐ ở đây là một bệnh danh (tên một thể
bệnh), không lẫn với tên triệu chứng đau ngực gọi là 'cơn ĐTN'. Thể bệnh
ĐTNMÔĐ này có nhiều triệu chứng, trong đó nổi bật triệu chứng đau ngực từng
cơn ngắn ấy. Lại cần chú ý chữ THẮT trong chữ 'cơn ĐTN' hoàn toàn không quy
Nhận thấy một số bn lớn tuổi Suy tim hoặc Loạn nhịp tim mà không tìm
được nguyên nhân là 1 bệnh tim nào cả, và xét góc độ BMV thì cả đời họ chưa
bao giờ cảm nhận 1 cơn đau ngực kiểu MV, hoặc chưa hề trải qua NMCT, nhưng
cuối cùng xét ra vẫn là do xơ vữa động mạch vành. Cho nên BMV Mạn phải bao
gồm thêm 2 nhóm đặc biệt ấy:
LOẠN NHỊP TIM do BMV
SUY TIM do BMV
C - SINH LÝ BỆNH của BMV MẠN
1. Thiếu máu cục bộ (TMCB) cơ tim
Điều mà sinh lý bệnh cần nhấn mạnh trước tiên chính là TMCB này.
( * ) TMCB thầm lặng rất đáng được tìm hiểu sâu vì giúp ta thêm ý niệm về
Tổng gánh TMCB cơ tim và giúp tiến hành điều trị BMVmạn không chỉ nhằm lúc
có cơn đau ngực.
Ngoài nhóm bệnh nhân TMCB thầm lặng đơn thuần (typ 1) 'vô triệu chứng'
nêu trên mà vô tình được phát hiện nhân thống kê yếu tố nguy cơ hoặc thăm khám
cận lâm sàng toàn diện ở những nghề đặc biệt như phi công, lái xe tải , còn có
TMCB thầm lặng sau NMCT (typ 2) vào thời kỳ NMCT đã sang giai đoạn mạn
('NMCT cũ'). Lại có TMCB thầm lặng typ 3 tìm thấy ở 50% bn đã có chẩn đoán
ĐTN Mạn Ổn Định với những 'cơn TMCB có đau'.Tức là 'cơn TMCB không đau'
(thầm lặng) tồn tại song song (mà chiếm 75%) xen kẽ với những 'cơn TMCB có
đau' (lại chỉ chiếm 25%)! (Cách chia thành 3 typ như trên là từ năm 1987 "Phân
loại TMCB cơ tim thầm lặng" của Cohn).
Gộp chung lại, 'TMCB cơ tim thầm lặng' chiếm tới 2,5% trung niên nam,
càng nhiều hơn trong số bệnh nhân tiểu đường, nhất là khi đã -bị biến đổi ở hệ
thần kinh tự chủ.
Các cơn của TMCB thầm lặng lại dồn nhiều vào buổi sáng sớm và tựa như
giải thích vì sao NMCT và các biến cố MV khác lên tỷ lệ cao cũng vào những giờ
của sáng sớm.
Thống kê còn cho thấy thể bệnh 'TMCB thầm lặng' có tiên lượng không hề
tốt hơn thể bệnh ĐTN (tức có triệu chứng đau). Vậy không nên gọi là TMCB 'yên'