Tổ chức công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở Doanh nghiệp Hà Tùng Anh - Pdf 15

Trường CĐCN Nam ĐỊNH Khoa kinh tế
LỜI NÓI ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường, mỗi doanh nghiệp phải đối mặt với nhiều
khó khăn thử thách. Đó là sự cạnh tranh trên thị trường vê mẫu mã, chất lượng,
uy tín... Trước sự cạnh tranh gay gắt ấy buộc mỗi doanh nghiệp phải phát huy
mọi lợi thế cạnh tranh của mình, đồng thời phải hợp lý hóa quá trình sản xuất
kinh doanh để không ngừng tăng cường sức mạnh trong cạnh tranh của doanh
nghiệp.
Sức mạnh cạnh tranh của các doanh nghiệp không chỉ ở chất lượng sản
nghiệp Nhà nước khẳng định được chỗ đứng của mình trên thị trường.Doanh
nghiệp HÀ TÙNG ANH là một trong số không nhiều doanh nghiệp Nhà nước
như vậy, các sản phẩm bánh kẹo, bột canh của doanh nghiệp ngày càng được
người phẩm đã được thị trường chấp nhận hay các biện pháp quảng cáo khuyếch
trương sản phẩm mà trước hết sức mạnh cạnh tranh đó phụ thuộc rất nhiều vào
giá cả sản phẩm. Vì vậy công tác tập hợp chi phí và tính đúng giá thành sản
phẩm chiếm một vị trí quan trọng, nó tạo điều kiện để doanh nghiệp có thể tìm
ra được biện pháp hợp lý hoá giá thành, nâng cao chất lượng sản phẩm.
Với sự chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế ở nước ta thời gian qua, bên
cạnh một số nhiều doanh nghiệp Nhà nước làm ăn yếu kém đã có không ít doanh
tiêu dùng cả nước ưa chuộng, đem lại cho doanh nghiệp nguồn doanh thu cũng
như lợi nhuận ngày càng cao trong những năm gần đây.
Trong thời gian thực tập tại doanh nghiệp HÀ TÙNG ANH,em da nhận
thức được vai trò của công tác tập hợp chi phí sản xuất, tính giá thành sản phẩm,
em đã đi sâu nghiên cứu công tác hạch toán chi phí và tính giá thành sản phẩm
và hoàn thành báo cáo thực tập kế toán với đề tài:
"Tổ chức công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm ở doanh nghiệp HÀ TÙNG ANH".

Nguyễn Thị Hường_lớp kt47 Chuyên đề tôt nghiệp
1
Trường CĐCN Nam ĐỊNH Khoa kinh tế

1.1. Quá trình hình thành và phát triển của doanh nghiệp HÀ TÙNG ANH.

Doanh nghiệp HÀ TÙNG ANH là doanh nghiệp Nhà nước. Tiền thân của
doanh nghiep là nhà máy bánh kẹo HÀ ANH được thành lập tháng 6 năm 1992.
Ngay từ khi ra đời, nhà máy bánh kẹo HÀ ANH đã sản xuất những sản phẩm
truyền thống của mình như bánh quy, bánh lương khô, kẹo cứng, kẹo mềm.
Năng lượng sản xuất của nhà máy lúc bấy giờ bao gồm:
- Phân xưởng sản xuất mỳ sợi với 3 dây chuyền sản xuất đạt năng suất 1,3
- 2 tấn/ca.
- Phân xưởng keo suất 2,0 tấn - 2,2 tấn/ca.
Nguyễn Thị Hường_lớp kt47 Chuyên đề tôt nghiệp
3
Trường CĐCN Nam ĐỊNH Khoa kinh tế
Năm 1999 nhà máy lắp đặt một dây chuyền sản xuất bánh kem xốp của
cộng hoà liên bang Đức với công suất 0.8tấn/ca. Năm 2000 nhà máy đầu tư
thêm dây chuyền sản xuất bánh kem xốp phủ Sôcôla của Cộng hoà liên bang
Đức có công suất 0,4 tấn/ca. Ngày 29/9/2001 nhà máy có quyết định đổi tên
thành doanh nghiep HÀ TÙNG ANH.
Năm 2002, doanh nghiệp HÀ TÙNG ANH đã đầu tư dây chuyền sản xuất
bột canh Iốt có công suất 1 – 1.2 tấn/ca.
Năm 2003, một bộ phận của doanh nghiep đã liên doanh với Công ty của
DÀI LOAN thành lập liên doanh sản xuất Sôcôla, 70% số sản phẩm này dùng để
xuất khẩu.
Trong những năm qua, doanh nghiệp HÀ TÙNG ANH đã đạt được những
thành công lớn, trong khi có không ít các cơ sở xí nghiệp không trụ được đã bị
giải thể. HÀ TÙNG ANH đã tự tìm được hướng đi và cách làm đúng cho chính
mình, khẳng định được vị trí trên thị trường, tạo được niềm tin cho người tiêu
dùng. Có thể khái quát tình hình hoạt động của doanh nghiệp trong những năm
gần đây qua một số chỉ tiêu dưới đây .
Bảng 1: Một số chỉ tiêu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong

1201
6547
5000
1250
6700
6.
Thu nhập bình quân
Cán bộ công nhân
viên/tháng
1000đ 700 800 980 1200 1500
Nguyễn Thị Hường_lớp kt47 Chuyên đề tôt nghiệp
4
Trường CĐCN Nam ĐỊNH Khoa kinh tế
1.2. Đặc điểm về tổ chức sản xuất và tổ chức quản lý sản xuất
* Về tổ chức sản xuất của doanh nghiệp: doanh nghiệp HÀ TÙNG ANH
có 6 phân xưởng, sản xuất trong đó có 5 phân xưởng sản xuất chính và một phân
xưởng sản xuất phụ.
- Phân xưởng bánh I: sản xuất bánh lương khô, bánh quy dứa, quy bơ.
Trong phân xưởng có các tổ nhào trộn, tổ lò, tổ bao gói.
- Phân xưởng bánh II: sản xuất các loại bánh kem xốp, bánh phủ Sôcôla.
- Phân xưởng bánh III: sản xuất các loại bánh quy hộp, bánh Marie,
Petít...
- Phân xưởng bánh kẹo: sản xuất các loại bánh cứng, mềm, trái cây, sữa
dừa, Sôcôla...
- Phân xưởng bột canh: Chuyên sản xuất các loại bột canh 200gr, bột canh
Iốt 200gr, 175gr, 270gr, bột canh Iốt ngũ vị.
- Phân xưởng cơ điện: Là phân xưởng sản xuất phụ đảm nhiệm việc sửa
chữa và bảo dưỡng máy móc của các phân xưởng sản xuất. Trong phân xưởng
cơ điện có các tổ chức sản xuất: Tổ lò hơi, tổ hàn gò, tổ điện, tổ sửa chữa.
Do các phân xưởng có nhiệm vụ sản xuất các loại sản phẩm khác nhau,

trưởng
Phó giám đốc
kỹ thuật
Phòng
kế
hoạch
vật tư
Phòng
tài vụ
Ban
bảo
vệ
Phòng
tổ chức
Phòng
hành
chính
Phòng
kỹ
thuật
Ban
xây
dựng
cơ bản
Giám đốc Công ty
Phó giám đốc
Kinh doanh
Kế toán trưởng
Phó giám đốc
kỹ thuật

1.3. Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất các sản phẩm chủ yếu của
doanh nghiệp HÀ TÙNG ANH.
Hiện nay doanh nghiệp HÀ TÙNG ANH sản xuất và tiêu thụ gần 40 loại
sản phẩm bánh kẹo các loại. Mỗi loại sản phẩm có đặc trưng riêng do thành
phần cấu tạo nên chúng không hoàn toàn giống. Các loại sản phẩm này được sản
xuất trên các dây chuyền công nghệ tại 5 phân xưởng sản xuất. Trên cùng một
dây chuyền công nghệ có thể sản xuất ra nhiều loại sản phẩm khác nhau nhưng
có sự tách biệt về thời gian.
Ví dụ: - Dây chuyền sản xuất bánh kem xốp có thể sản xuất ra các loại
bánh kem xốp như kem xốp Sôcôla 170gr, 150gr, kem xốp 470gr, 270gr, Xốp
hộp, xốp phomát...
- Dây chuyền sản xuất bánh quy ở phân xưởng Bánh I. Có thể sản xuất
bánh mem, bánh quy hoa quả, bánh lương khô thường, bánh lương khô Cacao...
Quy trình công nghệ sản xuất ở doanh nghiệp theo kiểu giản đơn chế biến
liên tục, khép kín không thể gián đoạn về mặt thời gian và kỹ thuật, sản xuất với
mẻ lớn, công tác sản xuất được tiến hành theo hướng cơ giới hoá một phần thủ
công. Mỗi loại sản phẩm ở các phân xưởng được sản xuất theo các công đoạn
khác nhau với nhiều thao tác cụ thể, được phân chia tỉ mỉ để phục vụ việc xác
lập định mức công việc và định mức lao động cho mỗi sản phẩm.
Nguyễn Thị Hường_lớp kt47 Chuyên đề tôt nghiệp
7
Trường CĐCN Nam ĐỊNH Khoa kinh tế
Sơ đồ 2: Dây chuyền sản xuất bánh quy tại phân xưởng bánh I
Trong dây chuyền công nghệ sản xuất này, từ công đoạn phối liệu đến khi
thành sản phẩm, quá trình sản xuất diễn ra liên tục. Chất lượng sản phẩm phụ
thuộc vào các loại nguyên vật liệu (gồm có nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ)
được đưa vào khâu phế liệu. Trong công đoạn sản xuất, ngoài chi phí nguyên vật
liệu là chủ yếu còn có chi phí nhân công trực tiếp sản xuất, các khoản trích theo
lương cũng chiếm tỷ trọng lớn. Khâu bao gói sản phẩm, chi phí bao bì là chi phí
chiếm tỷ lệ trọng cao. Quy trình sản xuất bánh quy trên, nguyên liệu (gồm bột

Trường CĐCN Nam ĐỊNH Khoa kinh tế
Nguyên liệu làm bánh kem xốp có bột mỳ, bột sắn, muối, dầu thực vật,
sữa, đường...
Sơ đồ 4: Dây chuyền sản xuất kẹo cứng tại phân xưởng kẹo
Nguyên liệu làm kẹo gồm có đường kính, nha, phụ, gea...
Ngoài các chi phí về nguyên liệu chính, nguyên liệu phụ, chi phí nhân
công... nằm trong chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm còn có chi phí về khấu
hao tài sản cố định, chi phí về điện nước, chi phí công cụ, dụng cụ... Vì vậy việc
tập hợp đúng, đủ và chính xác là đòi hỏi tất yếu và quan trọng đối với doanh
nghiệp nhằm làm giảm tối đa chi phí sản xuất hạ giá thành sản phẩm.
II. Tổ chức kế toán tại doanh nghiệp HÀ TÙNG ANH.
Phòng tài vụ doanh nghiệp có chức năng giúp Giám đốc doanh nghiệp chỉ
đạo, thực hiện công tác kế toán, thống kê, thu nhập và xử lý thông tin kinh tế,
thực hiện hoạch toán kinh tế trong nội bộ doanh nghiệp. Từ đó kiểm tra và đánh
giá hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tình hình và hiệu quả sử
dụng vốn nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Tài vụ doanh nghiệp có các nhiệm vụ cụ thể sau:
Nguyễn Thị Hường_lớp kt47 Chuyên đề tôt nghiệp
9
Hoà đường Nấu Làm lạnh
Máy gói
Máy lăn côn
Vuốt kẹo
Tạo
nhân
Bơm nhân
Sàng và
làm lạnh
Gói tay
Dập hình

toán
lương
Kế
toán
vật

Kế
toán
chi
phí
giá
thành
Kế
toán
tiêu
thụ
Kế
toán
thanh
toán
Kế
toán
ngân
hàng
Kế
toán
công
nợ
Thủ
quỹ

các khoản phải trả nhà cung cấp. Công ty có tài khoản tại ngân hàng đầu tư và
phát triển Hà Nội, Ngân hàng công thương .Kế toán ngân hàng theo dõi tài
khoản 112, 331, 311, 341.
Nguyễn Thị Hường_lớp kt47 Chuyên đề tôt nghiệp
11
Trường CĐCN Nam ĐỊNH Khoa kinh tế
Kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm: Có nhiệm vụ hàng
tháng thực hiện hạch toán chi tiết và tổng hợp chi phí sản xuất, tính giá thành và
các chi phí thời kỳ kế toán phần hành này phụ trách các tài khoản 621, 622, 627,
641, 642.
Kế toán tổng hợp: Có nhiệm vụ tổng hợp toàn bộ các số liệu phụ trách
các tài khoản còn lại, lên bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, lập
các báo biểu kế toán. Cuối mỗi quý lập bảng giải trình, bảng quyết toán vào cuối
năm để giải trình lên cấp trên.
Thủ quỹ: Căn cứ vào các chứng từ hợp pháp tiến hành xuất - nhập quỹ,
đồng thời tiến hành ghi số quỹ.
Ngoài ra để đảm bảo cho công tác kế toán được chính xác thực sự đi sâu
sát với thực tế sản xuất, thuận lợi cho việc tập hợp số liệu ghi số kế toán, đối
chiếu, kiểm tra, ở mỗi phân xưởng đều có các nhân viên thống kê. Các nhân viên
này theo dõi tình hình sử dụng lao động, vật tư một cách giản đơn và hàng
tháng lập các báo cáo gửi lên phòng kế toán.
2.2. Tổ chức hạch toán tổng hợp tại doanh nghiệp
* Doanh nghiệp HÀ TÙNG ANH sử dụng hình thức ghi số kế toán tổng
hợp là hình thức “Nhật ký chung” hình thức ghi số này rất phù hợp với việc sử
dụng kế toán trên máy vi tính của doanh nghiệp. Gồm có các số: Nhật ký
chung, Sổ cái cái tài khoản và Số thẻ kế toán chi tiết.
Quy trình ghi số tổng hợp theo hình thức “Nhật ký chung” tại doanh
nghiep được thực hiện như sau:
Nguyễn Thị Hường_lớp kt47 Chuyên đề tôt nghiệp
12

* Doanh nghiệp áp dụng phương pháp tính trị giá vốn thành phẩm xuất
kho theo phương pháp bình quân gia quyền.
* Cách thức tập hợp chi phí theo từng bộ phận, tưng khu vực và phân bổ
chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp theo tổng số tấn sản phẩm bán
ra.
Nguyễn Thị Hường_lớp kt47 Chuyên đề tôt nghiệp
14
Trường CĐCN Nam ĐỊNH Khoa kinh tế
Phần hai
Tình hình hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
tại doanh nghiệp HÀ TÙNG ANH
(lấy ví dụ tháng 01/2007 để minh hoạ)
Là một doanh nghiệp hạch toán kinh doanh độc lập, doanh nghiệp phải
chịu trách nhiệm trước kết quả hoạt động sản xuất - kinh doanh của mình. Kế
toán với chức năng cung cấp thông tin chính xác về hoạt động sản xuất - kinh
doanh của doanh nghiệp, đặc biệt trong cơ chế thị trường cạnh tranh khốc liệt
hiện nay. Có thể thấy rằng trong các khâu kế toán, kế toán tập hợp chi phí sản
xuất và tính giá thành sản phẩm đóng một vài trò rất quan trọng vì nó vừa phản
ánh một cách chi tiết, vừa tổng hợp tình hình sử dụng vật tư lao động, trang
thiết bị, vốn bằng tiền trong sản xuất. Thông qua số liệu do phần hành kế toán
này cung cấp, các nhà quản trị có thể đề ra quyết định phù hợp cho sự phát triển
của sản xuất - kinh doanh và quản trị doanh nghiệp.
2.1. Nội dung chi phí sản xuất ở doanh nghiệp.
* Chi phí sản xuất trực tiếp: gồm có nguyên liệu chính (đường, bột mì, bơ,
sữa các loại...) nguyên liệu phụ (trứng gà, dầu Shortening, muối, tinh dầu...)
nhiên liệu (than Kiple) bao bì (túi đựng, đề can...)
* Chi phí nhân công trực tiếp: Là các khoản tiền công phải trả cho công
nhân sản xuất trực tiếp và các khoản trích theo lương của công nhân sản xuất
trực tiếp (Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn).
* Chi phí sản xuất chung của doanh nghiệp bao gồm các chi phí liên quan

2.3. Phương pháp kế toán tập hợp chi phí sản xuất và hệ thống tài khoản, sổ
sách kế toán tập hợp chi phí sản xuất - tính giá thành sản phẩm ở doanh
nghiệp
Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất ở doanh nghiệp là từng loại sản phẩm,
nếu đối với các chi phí liên quan trực tiếp tới sản xuất loại sản phẩm nào thì
được tập hợp ngay cho sản phẩm đó. Tuy vậy, có những chi phí liên quan đến
việc sản xuất nhiều loại sản phẩm sẽ được kế toán tiến hành phân bổ cho từng
loại sản phẩm theo những tiêu thực phân bổ thích hợp. Như vậy, kế toán doanh
Nguyễn Thị Hường_lớp kt47 Chuyên đề tôt nghiệp
16
Trường CĐCN Nam ĐỊNH Khoa kinh tế
nghiệp đã áp dụng hai phương pháp phân bổ trực tiếp và phương pháp phân bổ
gián tiếp.
Do doanh nghiệp tổ chức kế toán theo phương pháp kê khai thường
xuyên nên các tài khoản được sử dụng trong công tác tập hợp chi phí sản xuất
bao gồm:
* Tài khoản 621: Chi phí nguyên liệu trực tiếp để tập hợp chi phí nguyên
vật liệu phát sinh trong tháng cho việc sản xuất sản phẩm, tài khoản nay được
chi tiết cho 5 phân xưởng sản xuất.
- Tài khoản 6211: tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp phát sinh ở
phân xưởng bánh I.
- Tài khoản 6212: tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp phát sinh ở
phân xưởng bánh II.
- Tài khoản 6213: tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp phát sinh ở
phân xưởng kẹo.
- Tài khoản 6215: tập hợp chi phí nguyên vật liệu phát sinh ở phân xưởng
bột canh.
* Tài khoản 622: chi phí nhân công trực tiếp, dùng để tập hợp các chi phí
về tiền lương và các khoản trích theo lương của công nhân sản xuất trực tiếp.
Tài khoản 622 cũng được chi tiết thành 5 tiểu khoản từ 1 - 5 cho 5 phân xưởng

dây máy, lò xo, trục máy...
Tài khoản 1525 - thiết bị dụng cụ vật liệu xây dựng cơ bản như sơ các
loại, xi măng...
- Tài khoản 1562 - bao bì các loại: túi P.E, hộp Carton, khay nhựa, giấy
gói lương khô...
- Tài khoản 1527 - nguyên liệu khác
- Tài khoản 1528 - phế liệu thu hồi gồm các loại bao bì rách hỏng, bột mì,
đường rơi vãi...
Để thuận lợi cho công tác quản lý và sử dụng nguyên vật liệu, Công ty đã
mã hoá và lập thành danh mục. Khi mã hoá, chữ số thứ hai trong mã số nhóm
của loại nguyên, nhiên vật liệu dó.
Nguyễn Thị Hường_lớp kt47 Chuyên đề tôt nghiệp
18
Trường CĐCN Nam ĐỊNH Khoa kinh tế
Ví dụ: Bột mì, đường thuộc nhóm 1(1521) có mã số là 01001 và 01002,
túi P.E mềm là bao bì thuộc nhóm (1526) có mã số là 06001.
Căn cứ vào kế hoạch sản xuất từng tháng và lượng nguyên, nhiêu vật liệu
định mức tiêu hao cho từng tấn sản phẩm, phòng kế hoạch vật tư tính ra lượng
nguyên nhiên vật liệu định mức để sản xuất từng loại sản phẩm trong tháng, từ
đó phong kế hoạch vật tư sẽ lập ra “phiếu lĩnh vật tư theo vượt mức” cho từng
phân xưởng.
Lượng nguyên, nhiên liệu
(j) cần cho sản xuất sản
xuất sản phẩm (i)
=
Định mức nguyên vật
liệu (j) để sản xuất 1
tấn sản phẩm (i)
x
Sản lượng kế

Trường CĐCN Nam ĐỊNH Khoa kinh tế
Nếu trong tháng kế hoạch sản xuất được điều chỉnh tăng, phòng kế hoạch
vật tư sẽ lập thêm phiếu xuất kho nguyên vật liệu căn cứ vào số lượng sản phẩm
tăng thêm và định mức hao phí nguyên vật liệu cho từng sản phẩm.
Để quản lý chặt chẽ, phản ánh được chi phí thực tế phát sinh tại các phân
xưởng, doanh nghiệp có nhân viên thống kê theo dõi việc dùng, sử dụng nguyên
vật liệu tại phân xưởng. Nhân viên thống kê có nhiệm vụ thống kê số lượng
nguyên nhiên liệu tiêu hao cho sản xuất sản phẩm hàng ngày tại phân xưởng.
Cuối tháng nhân viên thống kê tập hợp lượng tiêu hao của từng loại nguyên
nhiên vật liệu cho sản xuất từng loại sản phẩm và lập “Báo cáo sử dụng vật tư” .
Chi phí vật liệu phụ, bao bì cũng được tập riêng cho từng loại sản phẩm,
một số loại nguyên vật liệu phụ khác, nhiên liệu được dùng sản xuất nhiều loại
sản phẩm thì được tập hợp lại toàn bộ, cuối tháng nhân viên thống kê cần tiến
hành phân bổ cho từng loại sản phẩm. Trên thực tế dược sử dụng để phân bố là
theo sản lượng thực tế của sản phẩm trong tháng. Các loại vật liệu phụ cần phân
bố là các loại tinh dầu, phẩm màu, hương liệu dầu Shortening, NH
4
HCO
3
,
NaHSO
3
,... than Kiple.
Ví dụ: Công thức phân bổ than:
Khối lượng than sản
xuất sản phẩm (i)
=
Tổng khối lượng than phát sinh
Tổng số lượng của các sản phẩm
của phân xưởng

Tổng cộng 49.326
Sau khi tập hợp và phân bố tất cả các loại nguyên nhiên vật liệu, bao bì
cho các sản phẩm trong phân xưởng, thống kê phân xưởng bánh I hoàn thành
“Báo cáo sử dụng vật tư và cuối tháng giử cho kế toán vật tư.
Căn cứ vào các chứng từ nhập, xất vật tư của thủ kho doanh nghiệp thủ
kho phân xưởng, kế toán vật tư tiến hành phân loại chứng từ theo từng loại, từng
nhom vật liệu và đối tượng sử dụng. Từ đó tính ra giá trị vật tư xuất dùng theo
phương pháp đơn giá bình quân gia quyền.
Đơn giá bình
quân của vật
liệu (j)
=
Giá trị thực tế nguyên vật
liệu (j) tồn đầu tháng
Số lượng vật liệu (j) tồn
đầu tháng
+
Giá trị thức tế nguyên vật
liệu (j) nhập trong tháng
Số lượng vật liệu (j)
nhập trong tháng.
Ví dụ: Đầu tháng 01/2007 bột sữa gầy tồn 1532 kg trị giá 54.571.370đ -
trong tháng, bột sữa gầy được nhập hai lần, căn cứ hoá đơn GTGT và phiếu
nhập kho
Lần1: Giá mua chưa có VAT là: 89.375.000đ, chi phí thu mua 450.000đ,
hàng mua được bớt giá 500.000đ. Khối lượng thực nhập 2497 kg (hao hụt trong
định mức 3kg).
Lần 2: Giá mua chưa thuế GTGT là : 36.874.000đ, khôi lượng thực nhập
998 kg (hao hụt định mức 2kg).
Khi đó giá đơn vị 1 kg sữa gầy xuất dùng trong tháng là:

01002 Đường 365,4 5.327,6 1.946.705 6211 1521
01004 Bột sữa gầy 46,83 39.959,9 1.684.002 6211 1521
02001 Muối 0,2 847 169,4 6211 1522
02005 Trứng gà 150 763 114.450 6211 1522
02007 Vanilla 0,15 20.108 3.016 6211 1522
02208 Tinh dầu cam 1,8 47.512 85.521 6211 1522
02410 NH
4
HCO
3
0,3 38.593,8 11.578 6211 1522
03001 Than Kiple 176 1.715,7 301.963 6211 1522
06002 Túi PE Quy hquả 4860 87,6 425.736 6211 1526
153c Băng dính 2 12.000 24.000 6211 153c
06312 Bìa lót đáy thùng 330 126 41.580 6211 1526
06402 Hộp Carton Quy hq 330 1.143 377.190 6211 1526
Tổng cộng x x 9.164.816 x x
Máy tính cũng bị động nhập số liệu về xuất nguyên vật liệu (cả về
số lượng và giá trị) vào sổ chi tiết vật tư và đưa ra “Bảng tổng hợp nhập –
xuất - tồn nguyên vật liệu”, đồng thời cũng tự động nhập số liệu vào sổ
cái Tài khoản 621 và Tài khoản 152.
Cuối tháng kế toán thực hiện bút toán kết chuyển chi phí nguyên
vật liệu trực tiếp ở từng phân xưởng. Đối với phân xưởng bánh I, kế toán
ghi vào Nhật ký chung bằng bút toán:
Nợ Tài khoản 1541: 248.433.726
Có Tài khoản 6211: 248.433.726
Bảng 7:
Doanh nghiệp HÀ TÙNG ANH
Chi tiết chứng từ bút toán
Ngày 31/01/2007

Nợ Có
Xuất vật tư cho bavia Quy hoa quả -
bột mì
1521 4.148.906
Xuất vật tư cho bavia Quy hoa quả -
đường
1521 1.946.705
Xuất vật tư cho bavia Quy hoa quả -
bột sữa gầy
1521 1.684.002
Xuất vật tư cho bavia mềm – bột mì 1521 18.708.379
Xuất vật tư cho bavia mềm - đường 1521 8.793.209
Xuất vật tư cho bavia mềm – bột sữa
gầy
1521 7.683.920
Xuất vật tư cho bavia lương khô
thường – bột mì
1521 70.590.660
Xuất vật tư cho bavia lương khô
thường - đường
1521 15.358.405
Xuất vật tư cho bavia lương khô
thường – bột sữa gầy
1521 12.798.128
Xuất vật tư cho bavia lương khô
Cacao - bột mì
1521 41.711.664
Xuất vật tư cho bavia lương khô
Cacao - đường
1521 9.544.928

1522
...
Cộng đối ứng 1522 5.390.937
Nguyễn Thị Hường_lớp kt47 Chuyên đề tôt nghiệp
25
Bảng 8: Sổ cái Tài khoản 6211 Doanh nghiệp HÀ TÙNG ANH
Nguyên vật liệu trực tiếp - phân xưởng bánh I
Từ ngày 01/01/2007đến 31/01/2007

Trích đoạn Phương pháp kế toán tập hợp chi phí sản xuất và hệ thống tài khoản, sổ sách kế toán tập hợp chi phí sản xuất tính giá thành sản phẩm ở Công ty Hạch toán tập hợp và phân bổ chi phí nguyên vật liệu dùng trực tiếp cho sản xuất sản phẩm Bảng 8: Sổ cái Tài khoản 6211 Công ty bánh kẹo Hải Châu Công ty bánh kẹo Hải Châu kế toán tập hợp chi phí sản xuất chung
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status