Luận Văn Tốt Nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Trên con đường hội nhập kinh tế quốc tế, nền kinh tế Việt Nam vừa có cơ hội
lớn lại gặp những thách thức không nhỏ đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là
ngành dệt may được coi là một trong những ngành trọng điểm của nền công
nghiệp Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đang
được xem là ngành sản xuất mũi nhọn, có tiềm lực khá mạnh, chiếm lĩnh thị phần
lớn trên thế giới.
Trong giai đoạn hiện nay, khi giá cả leo thang và tình hình lạm phát diễn
biến phức tạp, để tăng sức cạnh tranh lành mạnh, thúc đẩy sự phát triển bền vững
của các doanh nghiệp thì phải chú trọng đến vấn đề cốt lõi của sản xuất là làm ăn
có lãi, muốn có lãi phải tổ chức kế toán chi phí sản xuất chính xác, hợp lý và tính
đúng, tính đủ giá thành sản phẩm. Với chức năng ghi chép, tính toán, phản ánh và
giám đốc thường xuyên, liên tục sự biến động của vật tư, nguyên vật liệu, kế toán
sử dụng thước đo giá trị để quản lý chi phí.
Việc phân tích đúng đắn kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh chỉ có thể
dựa trên giá thành sản phẩm chính xác, là tiền đề xác định kết quả hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp. Tránh tình trạng “ lãi giả, lỗ thật” như một số năm trước
đây khi nền kinh tế đang trong thời kế hoạch hoá tập trung, các doanh nghiệp hoạt
động theo chỉ tiêu pháp lệnh, vật tư, tiền vốn do cấp trên cấp, giá thành là giá
thành kế hoạch định sẵn. Vì vậy, công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm chỉ mang tính hình thức. Chuyển sang nền kinh tế thị trường, các
doanh nghiệp được chủ động hoạt động sản xuất kinh doanh theo phương hướng
riêng và phải tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh của mình. Để có thể cạnh
tranh được trên thị trường, công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm còn phải thực hiện đúng theo những quy luật khách quan. Như vậy, kế toán
chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là phần không thể thiếu được đối với
các doanh nghiệp sản xuất khi thực hiện chế độ kế toán, hơn nữa, nó có ý nghĩa to
lớn và chi phối chất lượng công tác kế toán trong toàn doanh nghiệp.
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác kế toán chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm đối với kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
động sống, lao động vật hoá mà doanh nghiệp đã bỏ ra để tiến hành các hoạt động
sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định (tháng, quý, năm). Nói cách khác,
CPSX là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí mà doanh nghiệp phải tiêu dùng để
thực hiện quá trình sản xuất ra sản phẩm trong một kỳ.
- Chi phí về lao động sống gồm: chi phí tiền lương, tiền công, các khoản trích
nộp theo quy định.
- Chi phí về lao động vật hoá gồm: chi phí về nguyên vật liệu, công cụ, dụng cụ
dùng cho sản xuất, chi phí về năng lượng, chi phí khấu hao tài sản cố định
(TSCĐ)....
1.1.2. Phân loại chi phí sản xuất :
Trong một doanh nghiệp sản xuất thì chi phí sản xuất bao gồm rất nhiều loại.
Do đó để quản lý chặt chẽ việc sử dụng tiết kiệm và hợp lý chi phí cũng như để tổ
chức tốt công tác kế toán thì cần phải tiến hành phân loại chi phí sản xuất. Xuất phát
từ mục đích, yêu cầu khác nhau của quản lý và hạch toán, ta có các cách phân loại
chi phí như sau:
* Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung kinh tế ( yếu tố của chi phí sản xuất
kinh doanh ) :
Căn cứ vào tính chất, nội dung kinh tế của chi phí sản xuất để phân thành các
yếu tố chi phí, mỗi yếu tố chi phí chỉ bao gồm những chi phí có cùng một nội dung
kinh tế, không phân biệt công dụng cụ thể hay địa điểm phát sinh của chi phí đó.
Theo quy định hiện hành ở Việt Nam, toàn bộ chi phí sản xuất trong kỳ được chia
làm 5 yếu tố sau:
- Chi phí nguyên liệu, vật liệu: Gồm toàn bộ các nguyên liệu, vật liệu chính, vật
liệu phụ, phụ tùng thay thế, công cụ, dụng cụ,.... mà doanh nghiệp đã sử dụng cho
hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ (loại trừ giá trị vật liệu dùng không hết nhập
lại kho và phế liệu thu hồi).
- Chi phí nhân công: Bao gồm tiền lương và các khoản tính theo lương phải trả
cho công nhân trực tiếp sản xuất ra sản phẩm và nhân viên quản lý phân xưởng.
- Chi phí khấu hao tài sản cố định (TSCĐ): Bao gồm toàn bộ số tiền triết khấu
hao TSCĐ sử dụng cho sản xuất của doanh nghiệp.
theo quan hệ với khối lượng công việc hoàn thành. Theo cách này, chi phí được
chia thành biến phí và định phí .
- Biến phí là những chi phí thay đổi về tổng số, tỷ lệ thuận so với khối lượng
công việc hoàn thành, chẳng hạn chi phí về nguyên liệu, nhân công trực tiếp ...
- Định phí là những chi phí không đổi về tổng số so với khối lượng công việc
hoàn thành, chẳng hạn các chi phí về khấu hao TSCĐ, chi phí thuê mặt bằng,
phương tiện kinh doanh,... Các chi phí này nếu tính cho một đơn vị sản phẩm thì lại
biến đổi nếu số lượng sản phẩm thay đổi.
* Phân loại chi phí sản xuất theo phương pháp tập hợp chi phí vào các đối
tượng chịu chi phí :
Cách phân loại này có tác dụng trong việc xác định phương pháp kế toán tập
hợp chi phí sản xuất. Theo đó CPSX được chia thành:
Lê Minh Đức 4 Lớp 948
Luận Văn Tốt Nghiệp
- Chi phí trực tiếp là những chi phí liên quan trực tiếp đến một đối tượng
chịu chi phí như từng loại sản phẩm, hoạt động, đơn đặt hàng. Loại chi phí này
thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí, ví dụ như: chi phí NVLTT, chi phí
NCTT.
- Chi phí gián tiếp là các loại chi phí liên quan đến nhiều đối tượng chịu chi
phí, do vậy cần tiến hành phân bổ các chi phí đó cho các đối tượng bằng phương
pháp gián tiếp thông qua các tiêu chuẩn phân bổ hợp lý.
1.2 Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất :
Đối tượng kế toán tập hợp CPSX là phạm vi, giới hạn mà các chi phí sản xuất
cần được tập hợp trong kỳ đó nhằm đáp ứng yêu cầu kiểm tra, kiểm soát tổng hợp
chi phí và tính giá thành sản phẩm. Xác định đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản
xuất là khâu đầu tiên trong việc tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm.
Khi xác định đối tượng kế toán CPSX phải căn cứ vào mục đích sử dụng của
chi phí, đặc diểm tổ chức kinh doanh, quản lý sản xuất kinh doanh, quy trình công
Để theo dõi chi phí nhân công trực tiếp, kế toán sử dụng TK 622 – Chi phí nhân
công trực tiếp. Tài khoản này được mở chi tiết theo từng đối tượng tập hợp chi phí
như TK 621. Nội dung và kết cấu của TK này như sau :
Bên Nợ : Chi phí nhân công trực tiếp thực tế phát sinh.
Bên Có : Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp.
TK 622 không có số dư vào cuối kỳ.
Bên cạnh đó, còn sử dụng các tài khoản có liên quan như 334, 338, 335.
Trình tự hạch toán chi phí NCTT được thể hiện qua (PHỤ LỤC 02).
1.3.1.3. Kế toán tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất chung :
- Chi phí sản xuất chung ( SXC ) : Là các khoản chi phí sản xuất liên quan đến
việc phục vụ và quản lý sản xuất trong phạm vi phân xưởng, tổ đội sản xuất.
Chi phí SXC bao gồm các yếu tố sau: Chi phí nhân viên phân xưởng; chi phí vật
liệu, công cụ dụng cụ; chi phí khấu hao TSCĐ; chi phí dịch vụ mua ngoài ...
Chi phí SXC có liên quan đến nhiều loại sản phẩm, dịch vụ, lao vụ trong phân
xưởng mà ngay từ đầu không thể hạch toán cho từng đối tượng hạch toán chi phí
sản xuất, vì vậy cần thiết phải phân bổ khoản chi phí này cho từng đối tượng theo
tiêu thức phù hợp.
Mức CPSXC Tổng CPSXC cần phân bổ Mức CPSXC
phân bổ cho từng = × phân bổ cho từng
đối tượng Tổng tiêu thức phân bổ của đối tượng
tất cả các đối tượng
Để theo dõi các khoản chi phí sản xuất chung, kế toán sử dụng TK 627 – Chi
phí sản xuất chung, mở chi tiết theo từng phân xưởng, bộ phận sản xuất, dịch vụ.
Kết cấu và nội dung phản ánh của TK 627 :
Bên Nợ : Chi phí sản xuất chung thực tế phát sinh trong kỳ.
Bên Có : - Các khoản ghi giảm chi phí sản xuất chung.
- Kết chuyển (hay phân bổ) chi phí SXC vào chi phí sản xuất.
Tài khoản 627 cuối kỳ không có số dư do đã kết chuyển hay phân bổ hết cho
phận sản xuất,...) và theo thể loại, nhóm sản phẩm, chi tiết sản phẩm, lao vụ,..của cả
bộ phận sản xuất kinh doanh chính, sản xuất kinh doanh phụ, chi phí thuê ngoài gia
công chế biến ... Được hạch toán vào TK 631 bao gồm ba loại chi phí sau: chi phí
nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung.
Nội dung phản ánh của TK 631:
Bên Nợ : - Giá trị của sản phẩm dở dang dầu kỳ.
- Các chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ liên quan đến SX sản phẩm.
Bên Có : - Kết chuyển giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ vào TK 154.
- Tổng giá thành sản phẩm, lao vụ, dịch vụ hoàn thành kết chuyển vào
TK 632 - Giá vốn hàng bán.
- Giá trị thu hồi ghi giảm chi phí từ sản xuất.
TK 631 cuối kỳ không có số dư.
Trình tự kế toán được thể hiện qua (PHỤ LỤC 05)
Lê Minh Đức 7 Lớp 948
Luận Văn Tốt Nghiệp
1.4. Phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ:
Sản phẩm dở dang là khối lượng sản phẩm, công việc còn đang trong quá trình
chế biến, trong giai đoạn SX. Để tính được giá thành sản phẩm, tuỳ thuộc đặc điểm
tổ chức sản xuất, quy trình công nghệ và tính chất của sản phẩm mà doanh nghiệp
có thể áp dụng một trong các phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang sau:
1.4.1. Đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí NVL trực tiếp hoặc chi phí NVL
chính:
Phương pháp này vận dụng phù hợp cho những doanh nghiệp mà trong cấu
thành sản phẩm thì chi phí NVL trực tiếp hoặc chi phí NVL chính chiếm tỷ trọng
lớn, thông thường là lớn hơn 70%. Như vậy vẫn đảm bảo được độ chính xác và đơn
giản, giảm bớt được khối lượng tính toán.
Trên thực tế thì các doanh nghiệp chỉ tính phần chi phí nguyên vật liệu chính
do vậy đều tổ chức hạch toán chi tiết khoản NVLTT thành VNL chính và NVLTT
khác.
hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm theo phương pháp định mức,
có đầy đủ các định mức chi phí.
Theo phương pháp này, căn cứ vào định mức tiêu hao cho các khâu, các
bước, các công việc trong quá trình chế tạo sản phẩm để xác định sản phẩm dở
dang.
1.5. Giá thành sản phẩm và phương pháp tính giá thành sản phẩm:
1.5.1. Giá thành sản phẩm và phân loại giá thành sản phẩm:
1.5.1.1. Khái niệm giá thành sản phẩm :
Là chi phí sản xuất tính cho một khối lượng, đơn vị sản phẩm do doanh nghiệp
sản xuất hoàn thành trong một kỳ nhất định. Nói cách khác, giá thành sản phẩm là
toàn bộ hao phí về lao động cần thiết, lao động vật hoá và các chi phí cần thiết khác
tính cho khối lượng sản phẩm hoàn thành.
1.5.1.2. Phân loại giá thành sản phẩm:
Để đáp ứng các yêu cầu của quản lý, hạch toán và kế hoạch hoá giá thành cũng
như yêu cầu xây dựng giá cả hàng hoá, giá thành được xem xét dưới nhiều góc độ,
nhiều phạm vi tính toán khác nhau.
* Phân loại căn cứ vào thời điểm và cơ sở tính giá thành:
Theo cách phân loại này, giá thành sản xuất sản phẩm trong doanh nghiệp
được chia thành 3 loại:
- Giá thành kế hoạch: Được xác định trước khi bước vào kinh doanh trên cơ
sở giá thành thực tế kỳ trước và các định mức, các dự toán chi phí của kỳ kế hoạch.
Giá thành kế hoạch có tác dụng phân tích tình hình hoàn thành kế hoạch giá
thành và tình hình tiết kiệm chi phí của doanh nghiệp.
- Giá thành định mức:Cũng như giá thành kế hoạch, giá thành định mức cũng
được xác định trước khi bắt đầu sản xuất sản phẩm. Tuy nhiên, khác với giá thành
kế hoạch được xây dựng trên cơ sở các định mức bình quân tiên tiến và không biến
đổi trong suốt cả kỳ kế hoạch, giá thành định mức được xác định trên cơ sở các định
mức về chi phí hiện hành tại từng thời điểm nhất định trong kỳ kế hoạch (thường là
ngày đầu tháng) nên giá thành định mức luôn thay đổi phù hợp với sự thay đổi của
các định mức chi phí đạt được trong quá trình thực hiện kế hoạch giá thành.
hoàn thành mà còn liên quan đến cả sản phẩm dở dang cuối kỳ và sản phẩm hỏng.
Còn giá thành sản phẩm không liên quan đến chi phí sản xuất của sản phẩm dở
dang cuối kỳ và sản phẩm hỏng nhưng lại liên quan đến chi phí sản xuất của sản
phẩm dở dang cuối kỳ trước chuyển sang.
1.5.3 Đối tượng tính giá thành sản phẩm và kỳ tính giá thành:
1.5.3.1 Đối tượng tính giá thành sản phẩm:
Việc xác định đối tượng tính giá thành chính là việc xác định sản phẩm, bán
thành phẩm, công việc, lao vụ nhất định đòi hỏi phải tính giá thành một đơn vị. Đối
Lê Minh Đức 10 Lớp 948
Luận Văn Tốt Nghiệp
tượng đó có thể là sản phẩm cuối cùng của quá trình sản xuất hay đang trên dây
truyền sản xuất tuỳ theo yêu cầu của hoạch toán kinh tế nội bộ và tiêu thụ sản phẩm.
1.5.3.2 Kỳ tính giá thành:
Trên cơ sở đối tượng tính giá thành đã xác định được, căn cứ vào cuối kỳ
sản xuất, đặc điểm tổ chức, tính chất sản phẩm để xác định kỳ tính giá thành.
Những doanh nghiệp sản xuất hàng loạt, kỳ tính giá thành thường là quý hoặc
tháng, còn những doanh nghiệp sản xuất theo đơn đặt hàng kỳ tính giá thường là
khi kết thúc hợp đồng.
1.5.4 Phương pháp tính giá thành sản phẩm:
1.5.4.1 Tính giá thành theo phương pháp trực tiếp (phương pháp giản đơn):
Phương pháp này thường được áp dụng trong các doanh nghiệp có quy trình
công nghệ sản xuất giản đơn, chỉ sản xuất một hoặc một số ít hàng với số lượng
lớn, chu kỳ sản xuất ngắn, sản phẩm dở dang không có hoặc có không đáng kể.
Đối tượng tập hợp chi phí là đối tượng tính giá thành, đều là sản phẩm hoàn thành.
Công thức tính giá thành :
Tổng giá thành Chi phí Chi phí sản Các khoản Chi phí sản
sản phẩm hoàn = sản xuất dở + xuất phát - làm giảm - xuất dở
thành trong kỳ dang đầu kỳ sinh trong kỳ chi phí sx dang cuối kỳ
Giá trị đơn vị ‗ Tổng giá thành sản phẩm sản xuất trong kỳ
Theo phương pháp này, kế toán không cần tính giá thành bán thành phẩm hoàn
thành trong từng giai đoạn mà chỉ tính giá thành thành phẩm hoàn thành bằng cách
tổng hợp chi phí nguyên, vật liệu chính và các chi phí chế biến khác trong các giai
đoạn công nghệ.
1.5.4.4. Phương pháp loại trừ CPSX sản phẩm phụ :
Phương pháp này áp dụng ở các doanh nghiệp mà trong cùng một quá trình
SX bên cạnh các sản phẩm chính còn có thể thu được các sản phẩm phụ. Để tính
giá thành sản phẩm chính, kế toán cần loại trừ giá trị các sản phẩm phụ khỏi tổng
CPSX sản phẩm. Giá trị sản phẩm phụ có thể xác định theo nhiều phương pháp
như : Giá có thể sử dụng được, giá ước tính, giá kế hoạch và giá NVL ban đầu .
Tổng Sản phẩm Chi phí Sản phẩm Chi phí
giá thành = làm dở + sản xuất - làm dở - sản xuất
SP chính đầu kỳ trong kỳ cuối kỳ sản phẩm phụ
1.5.4.5 Phương pháp hệ số:
Phương pháp này áp dụng với các doanh nghiệp có cùng một quy trình công
nghệ, sử dụng cùng một loại NVL, kết quả sản xuất thu được đồng thời nhiều loại
sản phẩm khác nhau và chi phí không tập hợp riêng cho từng loại sản phẩm mà
được tập hợp chung cho cả quy trình sản xuất. Theo phương pháp này, kế toán căn
cứ vào hệ thống quy đổi các loại sản phẩm về sản phẩm chính rồi dựa vào tổng chi
phí liên quan đến giá thành các loại sản phẩm đã tập hợp để tính giá thành sản phẩm
chính và giá thành từng loại sản phẩm.
Số lượng SP (i) = Số lượng thực tế SP(i) × Hệ số SP(i)
Lê Minh Đức 12 Lớp 948
Luận Văn Tốt Nghiệp
Giá thành Tổng giá thành SX của các loại SP
đơn vị =
SP gốc Tổng số SP gốc quy đổi
Giá thành ĐVSP từng loại = Giá thành ĐVSP gốc × Hệ số quy đổi từng loại SP
1.5.4.6 Phương pháp tính giá thành theo định mức:
TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN MAY 19
2.1 Tổng quan về Công ty Cổ phần May 19:
2.1.1 Qúa trình hình thành và phát triển của Công ty:
Công ty Cổ phần May 19 là đơn vị sản xuất kinh doanh có tư cách pháp
nhân, hạch toán độc lập, có con dấu riêng.
Tên giao dịch quốc tế: 19 Garment joint Stock Company
Trụ sở chính: số 311 đường Trường Chinh, quận Thanh Xuân, Hà Nội.
TK Số 4311- 010023 - 01 Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội.
TK Ngoại tệ số 361- 111- 055- 083 Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam.
Điện thoại: (04) 853 1153 – 853 7502 – 853 1908 Fax: (04) 853 0154
Tiền thân của Công ty là trạm may đo X19 được thành lập cuối năm 1982
và đi vào hoạt động từ ngày 01/04/1983 theo quyết định số 07/QCPK của Quân
chủng Phòng không (nay là QC PK-KQ) với nhiệm vụ may quân phục k82 cho các
cán bộ cấp tá và phục vụ nhu cầu Quốc phòng. Đến năm 1993 theo nghị định số
338/NĐ-CP của Chính phủ, Xí nghiệp May X19 được thành lập theo quyết định số
384 ngày 27/07/1993 của Bộ Quốc phòng chính thức được phê duyệt là doanh
nghiệp Nhà nước, được Nhà nước giao vốn, có nhiệm vụ tự quản và phát triển
vốn. Ngày 03/10/1996, Xí nghiệp May 19 được sáp nhập với 3 đơn vị khác thuộc
Quân chủng Phòng không – Không quân thành Công ty 247 – BQP theo quyết
định số 1619/QĐ/BQP.
Đến ngày 05/09/2005 Công ty 247- Doanh nghiệp Nhà nước được chuyển
đổi thành Công ty Cổ phần May 19 theo quyết định số 1917/QĐ/BQP của Bộ
Trưởng Bộ quốc phòng. Công ty được phép sản xuất kinh doanh theo ngành nghề
đã đăng ký tại giấy phép kinh doanh số 0103009102 ngày 09/09/2005 do Sở Kế
hoạch & đầu tư Hà Nội cấp. Mã số thuế là 0100385836 do Cục thuế Hà Nội cấp
ngày 15/10/2005.
Từ năm 1997 đến năm 2007, với những sản phẩm chất lượng cao Công ty
đã giành 19 huy chương vàng và 8 huy chương bạc tại hội chợ Quốc tế hàng công
nghiệp Việt Nam, liên tục được Tư lệnh Quân chủng tặng bằng khen. Từ năm
1999, Công ty đã mở rộng thị trường tìm kiếm bạn hàng nước ngoài và các sản
2.863 3.542 679 23,72
4. Kim ngạch xuất khẩu
USD
1.594.327 1.973.345 379.018 23,77
5. Sản phẩm
Chiếc
1.952.336 2.463.725 511.389 26,2
6. Tổng số lao động
Người
1.115 1.205 90 8,07
7. Thu nhập bình quân
Nghìn đồng
1.090 1.215 125 11,47
Nhận xét: Qua số liệu vài năm gần đây, ta thấy các chỉ tiêu của công ty đều
tăng. Doanh thu năm 2007/2006 tăng 9,47% đây là một tỷ lệ tăng trưởng cao so
với tốc độ tăng trưởng của ngành. Sản lượng sản xuất năm 2007/2006 tăng 26,2%
là do công ty đã đầu tư thêm máy móc thiết bị, tuyển thêm lao động, mở rộng thị
trường.
Doanh thu tăng là nguyên nhân chính làm cho công ty có lãi và lợi nhuận
đạt được của năm 2007/2006 tăng 23,17%. Lợi nhuận tăng là điều kiện để đầu tư
mở rộng sản xuất, tạo công ăn việc làm cho người lao động, thu nhập tăng. Vì vậy
thu nhập bình quân của người lao động tại công ty đã tăng 11,47% đây không phải
là mức thu nhập cao so với thu nhập ngành nhưng nó cũng thể hiện sự nỗ lực của
công ty. Lợi nhuận tăng không những góp phần cải thiện đời sống của người lao
động, công ty còn nộp vào ngân sách Nhà nước một lượng đáng kể và cũng tăng
theo mức lợi nhuận thu được.
Lê Minh Đức 15 Lớp 948
Luận Văn Tốt Nghiệp
Kim ngạch xuất khẩu qua các năm đã tăng đáng kể là 23,77%, qua đó thể
chuyển sang để tiến hành thiết kế, may thử mẫu áo (nếu khách hàng yêu cầu) và
lập kế hoạch cắt đối với những đơn đặt hàng lớn, số lượng nhiều, sản xuất hàng
loạt; viết phiếu may đo đối với những hợp đồng may đo số lượng ít, khách hàng
thường xuyên. Phòng kế hoạch căn cứ vào Bảng định mức vật tư (Mẫu biểu 01) và
số lượng sản phẩm sản xuất ra trong tháng của từng loại sản phẩm, từng đơn đặt
hàng để tính ra số lượng NVL chính (vải) và NVL phụ (cúc, khóa,...) cần thiết để
sản xuất. Với quy trình công nghệ sản xuất khép kín nên NVL chính là các loại vải
Lê Minh Đức 16 Lớp 948
Luận Văn Tốt Nghiệp
được sản xuất một lần trực tiếp đến xí nghiệp cắt tạo ra bán thành phẩm, đồng thời
xí nghiệp cắt còn nhận chỉ để vắt sổ, phấn may và mex lót từ kho. Tại đây vải
được cắt và pha các bán thành phẩm hoàn thiện, đánh số thứ tự theo đơn đặt hàng.
Sau đó, bán thành phẩm được chuyển đến cho các xí nghiệp may.
Các xí nghiệp may chỉ nhận vật liệu như chỉ, cúc, market ... để may và hoàn
thiện sản phẩm. Tại các xí nghiệp này công nhân hoàn thiện sản phẩm, sau đó
những sản phẩm này được chuyển đến cho nhân viên KCS để kiểm tra. Những sản
phẩm đạt yêu cầu về quy cách, mẫu mã và chất lượng sản phẩm sẽ được chuyển
tiếp cho xí nghiệp hoàn thiện thùa khuy, đính cúc, là.... sau đó đóng gói bao bì,
nhãn mác. Cuối cùng là nhập kho thành phẩm hoặc xuất kho trả khách hàng.
2.1.4 Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý của công ty: (PHỤ LỤC 07)
Bộ máy quản lý của công ty được tổ chức: ban giám đốc và các Phòng, Ban
chức năng theo kiểu trực tuyến (đây là mô hình phù hợp với quy mô của doanh
nghiệp) và trực thuộc Quân chủng Phòng không – Không quân, thực hiện các chức
năng quản lý nhất định.
*Ban giám đốc:
- Giám đốc: Là người đứng đầu Công ty, điều hành và chịu trách nhiệm cao nhất
trước công ty và pháp luật về mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
- Phó giám đốc: Có hai phó giám đốc
- Thống kê xí nghiệp: ghi chép đầy đủ quá trình giao, nhận kế hoạch và bán
thành phẩm với số liệu trùng khớp.
- Nhân viên kỹ thuật: hướng dẫn công nhân cắt, may và kiểm tra sản phẩm
khi hoàn thành.
- Công nhân: được giao vải để hoàn thành bán thành phẩm theo chỉ tiêu kế
hoạch được giao.
2.1.5 Đặc điểm tổ chức kế toán tại công ty:
2.1.5.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy kế toán :( PHỤ LỤC 08)
Tổ chức công tác kế toán của công ty theo hình thức kế toán tập trung, xuất
phát từ đặc điểm tổ chức kinh doanh, tổ chức quản lý và quy mô của công ty.
Cơ cấu tổ chức bộ máy kế toán gồm:
- Kế toán trưởng (trưởng phòng kế toán): là người điều hành, giám sát
mọi hoạt động của bộ máy kế toán, chịu trách nhiệm trước giám đốc về toàn bộ
công tác kế toán của công ty.
- Kế toán tổng hợp kiêm kế toán TSCĐ: Chịu trách nhiệm tổng hợp tất cả
các số liệu do các kế toán viên cung cấp vào cuối tháng, quý, năm; tổng hợp chi
phí sản xuất, tính giá thành sản phẩm; ghi sổ cái theo từng khoản, lập báo cáo tài
chính; ghi chép, phản ánh đầy đủ số lượng TSCĐ hiện có và tình hình tăng, giảm
TSCĐ trong quá trình SXKD.
- Kế toán nguyên vật liệu và công cụ, dụng cụ: Theo dõi tình hình nhập,
xuất, tồn kho của các vật liệu và công cụ dụng cụ trong kỳ; đồng thời phán ánh các
số liệu phát sinh vào các sổ chi tiết, tính giá thực tế cho vật tư xuất dùng. Cuối kỳ,
lập bảng tổng hợp nhập, xuất, tồn kho và bảng phân bổ nguyên vật liệu sau đó
chuyển cho kế toán tổng hợp.
- Kế toán công nợ kiêm thanh toán: Theo dõi và phản ánh các khoản thu
chi, thanh toán công nợ trong công ty.
Lê Minh Đức 18 Lớp 948
Luận Văn Tốt Nghiệp
- Kế toán chi phí giá thành: Tính toán, tập hợp, phân bổ, ghi chép đầy đủ
2.2.2 Phương pháp kế toán tập hợp chi phí sản xuất tại Công ty:
2.2.2.1 Đặc điểm và phân loại chi phí sản xuất tại công ty:
Lê Minh Đức 19 Lớp 948
Luận Văn Tốt Nghiệp
Với đặc điểm sản xuất phức tạp kiểu chế biến liên tục, công ty cổ phần may
19 đã tổ chức quy trình công nghệ khép kín thông qua 04 xí nghiệp sản xuất và
phân loại chi phí sản xuất thành 3 loại:
+ Chi phí NVLTT: Tại công ty, nguyên vật liệu sử dụng trực tiếp cho sản
xuất sản phẩm bao gồm:
- Vật liệu chính: Các loại vải như casimia, vải peco, vải tuytsi, vải kaki,
coton....
- Vật liệu phụ: vải lót, cúc áo, khóa, mex, chỉ may, phấn may,...
- Công cụ dụng cụ bao gồm: mắc áo, giấy giác mẫu, ...
- Phụ tùng thay thế: chân vịt, dao thùa, ốc...
+ Chi phí NCTT: Bao gồm toàn bộ số tiền công và các khoản phải trả cho
công nhân trực tiếp sản xuất tại các xí nghiệp (công nhân cắt, công nhân may,
công nhân hoàn thiện sản phẩm). Đây là một khoản chi phí cấu thành nên giá trị
sản phẩm.
+ Chi phí SXC: Là toàn bộ các khoản chi phí liên quan đến phục vụ, quản
lý sản xuất trong phạm vi phân xưởng, chi phí tiền công và các khoản phải trả
khác cho công nhân viên quản lý phân xưởng, chi phí về vật liệu, công cụ dùng
cho quản lý phân xưởng, chi phí khấu hao tài sản cố định.....
Các chi phí này được tập hợp theo từng khoản mục ở từng xí nghiệp sau đó
tập chung cho toàn công ty. Tại thời điểm phát sinh chi phí sản xuất các nhân viên
thống kê theo dõi một cách chi tiết các khoản chi phí phát sinh làm căn cứ cho kế
toán tổng hợp chi phí sản xuất một cách chính xác nhất. Riêng chi phí sản xuất
chung thường do giám đốc của từng xí nghiệp theo dõi. Cuối kỳ căn cứ vào số
liệu, từ các sổ liên quan, kế toán chi phí, giá thành sẽ tổng hợp chi phí sản xuất của
toàn xí nghiệp.
khoản:
- NVL xuất dùng trong tháng:
Nợ TK 621 525.758.550 ®
Có TK 152 525.758.550 ®
Trong tháng 01/2008, xí nghiệp cắt sử dụng vật liệu để cắt không kết còn
thừa nhưng không nhập kho mà để xí nghiệp tiếp tục sử dụng, kế toán ghi:
Nợ TK 152 5.611.356 đ
Có TK 621 5.611.356 đ
Cuối tháng, kế toán tổng hợp tiến hành kết chuyển “chi phí NVLTT” vào tài
khoản tính giá thành, ghi sổ nhật ký chung (Mẫu biểu 05), sau đó ghi vào Sổ cái
TK 621(Mẫu biểu 06) và các sổ liên quan.
Nợ TK 154 520.147.194 đ (= 525.758.550 – 5.611.356)
Có TK 621 520.147.194 đ
2.2.2.3 Kế toán chi phí nhân công trực tiếp:
Lê Minh Đức 21 Lớp 948
Luận Văn Tốt Nghiệp
**TK kế toán sử dụng: **Chứng từ kế toán sử dụng:
- TK 622: Chi phí nhân công trực tiếp - Bảng chấm công
- TK 334: Phải trả công nhân viên - Bảng tổng hợp năng suất- ngày công
- TK 338( TK 3382, 3383, 3384) - Phiếu giao nộp sản phẩm
- Bảng thanh toán lương....
** Phương pháp kế toán:
Hiên nay, công ty áp dụng hình thức trả lương theo sản phẩm đối với công
nhân trực tiếp sản xuất nhằm nâng cao ý thức làm việc của công nhân, đẩy nhanh
năng suất lao động. Để thuận tiện cho việc tính và trả lương, công ty lấy áo chiết
gấu làm sản phẩm chuẩn để tính hệ số quy đổi cho chi phí nhân công. Hệ số quy
đổi được xác định theo biểu sau (Mẫu biểu 07).
Ngoài ra, do công ty áp dụng hình thức lương sản phẩm có thưởng luỹ tiến
nhằm khuyến khích công nhân làm việc tốt, đạt năng suất cao sẽ được thưởng, căn
Lương TG = 945.500 : [ 25 × 8 ] × 10 × 150% = 70.913 đồng
Anh Hải được lĩnh tiền ăn ca, phụ cấp, ngày lễ là 150.000 đồng. Vậy tổng
thu nhập trong tháng của anh là:
945.500 + 151.280 + 70.913 + 150.000 = 1.317.693 đồng
Tương tự như chi phí NVLTT, công ty không thực hiện phân bổ chi phí
NCTT cho từng đơn hàng. Trên cơ sở “Bảng thanh toán tiền lương” (Mẫu biểu 9)
của từng xí nghiệp và “Bảng thanh toán tiền lương” (Mẫu biểu 10) của đội ngũ
cán bộ quản lý xí nghiệp, kế toán tiền lương tiến hành tổng hợp số tiền lương phải
trả trong tháng cho cán bộ công nhân viên và tổng số tiền công ty phải nộp về 3
khoản BHXH, BHYT, KPCĐ. Trong đó, BHXH, BHYT được trích theo mức
lương tối thiểu, còn KPCĐ tính theo lương thực tế của CNV theo tỷ lệ quy định.
Số liệu này được chuyển ghi vào “Bảng phân bổ tiền lương và bảo hiểm xã hội”
(Mẫu biểu 11).
- Tiền lương phải trả cho nhân công trực tiếp:
Nợ TK 622 831.570.891 đ
Có TK 334 831.570.891 đ
- Các khoản trích theo lương:
Nợ TK 622 87.249.418 đ
Có TK 338 87.249.418 đ
Sau đó kế toán tổng hợp kết chuyển nhân công trực tiếp vào chi phí sản xuất
kinh doanh dở dang để tính giá thành sản phẩm và ghi sổ “Nhật ký chung”
Nợ TK 154 918.820.309 đ
Có TK 622 918.820.309 đ
Cuối tháng, căn cứ vào sổ nhật ký chung, kế toán tiến hành ghi vào sổ
cái TK 622(Mẫu biểu 12) - Chi phí nhân công trực tiếp
2.2.2.4 Kế toán chi phí sản xuất chung:
*Kế toán chi phí nhân viên xí nghiệp :
Nhân viên xí nghiệp bao gồm: Các phó giám đốc, các nhân viên thống
kê và các nhân viên khác không trực tiếp tham gia sản xuất chế tạo sản phẩm.
Tiền công của các nhân viên này được tính trả theo hình thức lương thời gian
hao là 1%/ tháng. TSCĐ là nhà cửa vật kiến trúc được xác định tỷ lệ khấu hao là
4%/ năm. Mức khấu hao được xác định theo công thức :
Mức trích khấu hao tháng = Tỷ lệ khấu hao tháng × Nguyên giá TSCĐ
Ví dụ: Nhà cửa vật kiến trúc của công ty có nguyên giá là: 10.252.393.645
đồng, mức trích khấu hao hàng tháng của TSCĐ này là:
Mức trích khấu hao tháng = 4%/12 10.252.393.645 = 34.174.645 đồng
Do TSCĐ của xí nghiệp có giá trị nhỏ nên trong tháng hầu như không phát
sinh chi phí sửa chữa lớn mà chỉ có chi phí bảo dưỡng, sửa chữa nhỏ. Việc theo
dõi tình hình tăng, giảm, trích khấu hao TSCĐ do bộ phận kế toán tổng hợp đảm
nhận.
Lê Minh Đức 24 Lớp 948
Luận Văn Tốt Nghiệp
Sau khi tính mức khấu hao tháng, kế toán tiến hành phân bổ chi phí khấu
hao TSCĐ cho các bộ phận sử dụng có liên quan và lập Bảng phân bổ khấu hao
TSCĐ (Mẫu biểu 13), sau đó ghi Sổ nhật ký chung và Sổ chi tiết TK 627. Trong
tháng 01/2008, căn cứ bảng phân bổ và khấu hao TSCĐ, kế toán ghi:
Nợ TK 627 90.501.105 đ
Nợ TK 642 21.718.548 đ
Có TK 214 112.249.653 đ
* Kế toán chi phí dịch vụ mua ngoài phục vụ sản xuất ở các phân xưởng:
Khi phát sinh các nghiệp vụ mua ngoài, kế toán tiến hành ghi Sổ Nhật ký chi
tiền mặt (nếu thanh toán ngay bằng tiền mặt) hoặc ghi Sổ Chi tiết phải trả người
bán (nếu chưa trả tiền). Còn phần thuế GTGT được phản ánh vào Sổ chi tiết thuế
GTGT được hoàn lại, đồng thời phản ánh vào sổ chi tiết TK 627.
Ví dụ: Tháng 01/2008, tổng chi phí sản xuất chung cho sản xuất và các xí
nghiệp(chưa thuế) là 35.672.000 đồng. Thuế GTGT là 3.567.200 đồng, trong đó:
29.587.500 đồng là tiền điện dùng cho sản xuất, điện dùng cho hoạt động khác là
2.341.000 đồng và 3.743.500 đồng là tiền điện thoại dùng cho hoạt động của công