ĐAU THẮT NGỰC ỔN ĐỊNH (BỆNH TIM THIẾU MÁU CỤC BỘ MẠN TÍNH) (Kỳ 2) - Pdf 16

ĐAU THẮT NGỰC ỔN ĐỊNH
(BỆNH TIM THIẾU MÁU CỤC BỘ MẠN TÍNH)
(Kỳ 2)
II.Các xét nghiệm chẩn đoán

Hình 2-1. Các xét nghiệm chẩn đoán đau thắt ngực.
A.Điện tâm đồ lúc nghỉ: là một thăm dò sàng lọc trong bệnh mạch vành.
1.Có tới > 60% số bệnh nhân đau thắt ngực ổn định có điện tâm đồ (ĐTĐ)
bình thường. Một số bệnh nhân có sóng Q (chứng tỏ có NMCT cũ), một số khác
có ST chênh xuống, cứng, thẳng đuỗn. ĐTĐ còn giúp phát hiện các tổn thương
khác như phì đại thất trái, bloc nhánh, hội chứng tiền kích thích
2.ĐTĐ trong cơn đau có thể thấy sự thay đổi sóng T và đoạn ST (ST chênh
xuống, sóng T âm). Tuy nhiên nếu ĐTĐ bình thường cũng không thể loại trừ được
chẩn đoán có bệnh tim thiếu máu cục bộ.
B.Nghiệm pháp gắng sức (NPGS): Rất quan trọng trong đau thắt ngực ổn
định, giúp cho chẩn đoán xác định, tiên lượng cũng như điều trị.
1.NPGS sẽ gây ra tình trạng thiếu máu cơ tim cục bộ hoặc làm giãn ĐMV
và được theo dõi liên tục bằng một phương tiện nào đó như ĐTĐ gắng sức hay
siêu âm tim gắng sức. Độ nhạy và độ đặc hiệu của từng phương pháp gắng sức là
có sự khác nhau.
2.Phương pháp gây thiếu máu cơ tim cục bộ:
a.Gắng sức thể lực:
Cơ chế: Làm tăng nhu cầu ôxy cơ tim, làm cơ tim tăng co bóp, tăng tiền
gánh và hậu gánh. Việc tăng nhu cầu ôxy cơ tim sẽ dẫn đến tăng nhịp tim và ảnh
hưởng đến huyết áp. Dựa vào sự tăng nhịp tim này để xác định khả năng gắng sức
của bệnh nhân. Mặt khác, khi nhịp tim tăng lên sẽ làm cho nhu cầu tiêu thụ ôxy cơ
tim tăng lên và lúc đó sẽ xuất hiện những biến đổi trên ĐTĐ hoặc các hình ảnh
khác mà khi nghỉ có thể sẽ không thấy.
Gắng sức thể lực giúp dự đoán khả năng hoạt động thể lực của bệnh nhân
và giai đoạn gây ra thiếu máu cơ tim.
Tuy nhiên gắng sức thể lực không thể thực hiện được ở những bệnh nhân

o Không đủ khả năng chạy 6 phút theo phác đồ Bruce.
oNghiệm pháp dương tính sớm (£ 3 phút).
oKết quả gắng sức dương tính mạnh (ST chênh xuống ³ 2 phút).
oST chênh xuống ³ 3 phút sau khi đã ngừng gắng sức.
oST chênh xuống kiểu dốc xuống (down-sloping).
oThiếu máu cơ tim xuất hiện ở mức nhịp tim còn tương đối thấp (£ 120
ck/phút).
oHuyết áp không tăng hoặc tụt đi.
oXuất hiện nhịp nhanh thất ở mức nhịp tim £ 120 chu kỳ/phút.
b.Siêu âm tim gắng sức: Là thăm dò có giá trị, đơn giản và có thể cho
phép dự đoán vùng cơ tim thiếu máu và vị trí ĐMV tương ứng bị tổn thương.
oSiêu âm gắng sức có thể làm với gắng sức thể lực (xe đạp nằm) hoặc
thuốc (Dobutamine).
oTuy nhiên, kết quả của thăm dò này còn phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm
của người làm siêu âm và đôi khi khó khăn nếu hình ảnh mờ (Bệnh nhân béo,
bệnh phổi )
c.Phương pháp phóng xạ đo tưới máu cơ tim: Thường dùng Thalium
201

hoặc Technectium
99m
. Có độ nhạy, độ đặc hiệu cao, đo được từng vùng tưới máu
cơ tim song độ nhạy, độ đặc hiệu bị giảm ở những bệnh nhân béo phì, bệnh hẹp cả
3 nhánh ĐMV, bloc nhánh trái, nữ giới


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status