TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA TÀI CHÍNH-NGÂN HÀNG
000
Tiểu luận:
“ PHÂN TÍCH, CHẤM ĐIỂM TÍN DỤNG CÔNG TY CỔ PHẦN
THÉP VIỆT- Ý”
Giáo viên hướng dẫn: Dr. Nguyễn Thị Lan
Nhóm sinh viên thực hiện:
Hà Phương Ngân- Msv: 0853030118
Nguyễn Thị Yến- Msv: 0853030200
Phạm Thị Thu Nga-Msv: 0853030115
Phùng Thị Vân Anh-Msv: 0853030001
Hà Nội 9/2011
Trang 1
LỜI MỞ ĐẦU
Ngân hàng thương mại (NHTM) ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế
với chức năng là trung gian chuyển tiếp vốn giữa người thừa vốn và thiếu vốn đã thúc
đẩy sự phát triển, tạo nguồn đầu tư cho các tổ chức và cá nhân. Hoạt động này được thể
hiện rõ nét trong nghiệp vụ tín dụng.
Chiếm tỷ trọng lớn trong hoạt động ngân hàng, tạo ra nguồn thu chủ yếu cho các
NHTM nhưng đồng thời đó là nghiệp vụ có nhiều rủi ro nhất, tín dụng cần phải được
quan tâm nhiều hơn, được chú trọng trong chính sách tín dụng đúng đắn.
Chính sách tín dụng của một NHTM phản ánh quy trình làm việc, xem xét mức độ tín
nhiệm của một khách hàng. Đây là một khâu có ảnh hưởng rẩt lớn đến độ tín nhiệm của
khoản tín dụng. Đặc biệt, khi một khách hàng cá nhân hay doanh nghiệp có sự sụt giảm
uy tín hay về khả năng tài chính. Sự sụt giảm này có ảnh hưởng nhiều tới khả năng thu
hồi nợ của ngân hàng.
Trên cơ sở hiểu và nắm rõ tầm quan trọng như vậy, và mô hình giả định, bài
tiểu luận “ Phân tích báo cáo tài chính và chấm điểm tín dụng doanh nghiệp- Công ty CP
Thép Việt- Ý” gồm có:
Chương I: Vài nét về nghiệp vụ Tín dụng
nền kinh tế, tạo điều kiện thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
b. Rủi ro tín dụng và ảnh hưởng tới hoạt động Ngân hàng
Trang 3
• Khái niệm: Rủi ro tín dụng là các tổn thất phát sinh từ việc khách hàng không
trả được đầy đủ gốc và lãi vay của khoản vay hoặc khách hàng không thanh
toán đúng hạn nợ gốc và lãi đúng hạn sau khi được cấp các khoản tín dụng ( cả
nội bảng và ngoại bảng)
• Ảnh hưởng:
Rủi ro tín dụng khiến cho các NHTM bị mất cơ hội thu được khoản tiền lãi vay,
tổn thất trước hết là tới lợi nhuận và sau đó là nguồn vốn tự có của NHTM. Đồng
thời, vốn sử dụng để cho vay chủ yếu là nguồn vốn huy động từ khách hàng, nên
trong tình huống nợ xấu quá nhiều, NHTM phải sử dụng nguồn vốn của mình để
trả cho khách hàng gửi tiền và trong một giới hạn nào đó khi NHTM không còn
khả năng thanh toán thì sẽ dẫn đến việc phá sản.
1.3 Quy trình tín dụng
a. Tóm tắt quy trình
• Lập hồ sơ đề nghị cấp tín dụng
• Phân tích tín dụng
• Quyết định tín dụng
• Giải ngân
• Giám sát tín dụng
• Phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng
• Thanh lý khoản vay.
b. Chi tiết về chấm điểm,phân tích tín dụng
• Phân tích tín dụng là bước thứ hai trong quy trình tín dụng. Đây là quá trình mà
NHTM tìm hiểu thông tin về khả năng trả nợ và thiện chí trả nợ của người đi
vay. Bằng việc sử dụng các thông tin phi tài chính và tài chính mà NHTM có
quyết định cho vay hay không. .
• Việc phân tích tín dụng không chỉ giúp các NHTM giảm bớt rủi ro khi cho vay
khách hàng xấu mà còn giúp các NHTM có các biện pháp nhằm hạn chế rủi ro
văn phòng tại Hà Nội, 01 ban quản lý dự án tại Hải Phòng và 03 xưởng sản xuất
b. Ngành nghề kinh doanh
• Công ty chuyên chính trong sản xuất và kinh doanh các loại thép thương hiệu Việt-
Ý
• Chuyên sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu nguyên vật liệu phục vụ cho ngành
thép
• Kinh doanh, vận tải hàng hóa
c. Các công ty con-liên kết và số vốn chủ sở hữu
• Công ty con-liên kết: Công ty cổ phần luyện thép Sông Đà với vốn góp là 199.41
tỷ đồng, chiếm 42.5% vốn chủ sở hữu.
Trang 6
• Vốn điều lệ : 300,000,000,000 đồng
• Số lượng cổ phiếu lưu hành: 30,000,000 cổ phiếu
2.2. Phân tích báo cáo tài chính- Kết quả hoạt động kinh doanh từ các năm 2008
đến 2010 và sáu tháng đầu năm 2011
2.2.1. Phân tích chỉ số tài chính:
Báo cáo tài chính của công ty thép Việt-Ý:
BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN
Trang 7
2008 2009 2010 2011F
I - TÀI SẢN NGẮN HẠN 687,565,073,190 687,168,144,821 1,335,467,535,482 926,019,334,655
1. Tiền và các khoản
tương đương tiền 89,616,330,369 180,125,491,523 226,782,408,392 143,360,520,613
2. Các khoản đầu tư tài
chính ngắn hạn 56,000,000,000
3. Các khoản phải thu
ngắn hạn 342,005,478,082 170,611,503,172 91,091,376,747 276,920,392,544
4. Hàng tồn kho 243,655,983,725 322,656,760,798 861,125,626,132 483,900,359,377
5. Tài sản ngắn hạn khác 12,287,281,014 13,774,389,328 100,468,124,211 21,838,062,121
cung cấp dịch vụ 1,716,456,968,046 2,084,025,041,394 3,104,305,259,335 981,121,842,860
2. Các khoản giảm trừ doanh
thu 7,248,713,831 15,894,602,648 20,142,313,948 8,733,711,080
3. Doanh thu thuần về bán
hàng và cung cấp dịch vụ 1,709,208,254,215 2,068,130,438,746 3,084,162,945,387 972,388,131,780
4. Giá vốn hàng bán 1,453,951,753,773 1,746,230,158,828 2,851,494,649,843 894,177,690,798
5. Lợi nhuận gộp về bán hàng
và cung cấp dịch vụ 255,256,500,442 321,900,279,918 232,668,295,544 78,210,440,982
6. Doanh thu hoạt động tài
chính 6,781,860,528 10,705,284,064 15,800,854,826 2,867,859,706
7. Chi phí tài chính 78,921,978,446 33,026,681,915 55,856,537,963 17,088,572,014
Trong đó: Chi phí lãi vay 52,313,067,600 23,333,359,035 33,547,519,220 16,073,148,651
8. Chi phí bán hàng 25,074,935,328 26,012,708,609 26,828,554,702 10,610,663,927
9. Chi phí quản lý doanh
nghiệp 13,924,211,129 18,422,026,904 22,688,751,074 5,953,867,714
10. Lợi nhuận thuần từ hoạt
động kinh doanh 144,117,236,067 255,144,146,554 143,095,306,631 47,425,197,033
11. Thu nhập khác 7,549,354,813 5,114,316,047 4,701,707,382 30,000,000
12. Chi phí khác 135,012,092 74,295,562 2,339,094,687 298,273,088
13. Lợi nhuận khác 7,414,342,721 5,040,020,485 2,362,612,695 -268,273,088
14. Phần lãi (lỗ thuần) trong
công ty liên doanh/liên kết
15. Tổng lợi nhuận kế toán
trước thuế 151,531,578,788 260,184,167,039 145,457,919,326 47,156,923,945
16. Chi phí thuế TNDN hiện
hành 20,913,035,965 34,490,158,870 34,884,342,027 11,936,159,132
17. Chi phí thuế TNDN hoãn
lại -591,902,453 269,381,872 158,182,936 356,747,626
18. Lợi nhuận sau thuế thu
nhập doanh nghiệp 131,210,445,276 225,424,626,297 110,415,394,363 34,864,017,187
2.009 1.333 1.247 1.382 1.31
Tỷ số thanh toán nhanh(x)
1.297 0.707 0.443 0.66 0.61
Tỷ số khả năng thanh toán
tiền mặt(x)
0.262 0.349 0.264 0.214
Hệ số thanh toán lãi vay
3.51 10.66 4.29 2.17 3.02
Nhóm chỉ tiêu kết cấu tài chính
Tỷ số nợ(%)
64.93 70.69 64.93 53.42
Tỷ số nợ trên VCSH(%)
246.34 241.14 185.11 114.67
Hệ số tự tài trợ(%)
26.36 29.31 35.07 46.58
Hệ số nhân vốn chủ sở hữu
379.41 341.14 285.11 214.67
Tỷ số nợ dài hạn (%)
31.45 36.25 0.32 0.06
Nhóm chỉ tiêu hiệu quả hoạt động
Kỳ thu tiền bình quân( ngày)
56.63 44.28 44.66 67.52 49.34
Vòng quay hàng tồn
kho( vòng)
5.96 6.17 4.82 1.33 3.02
Vòng quay tổng tài sản
1.67 1.38 1.86 1.57
Nhóm tỷ số khả năng sinh lời
Tỷ suất lợi nhuận(%)
7.64% 10.82% 3.56% 3.55%
thời gian khủng hoảng vào năm 2008, tình hình tài chính của công ty cũng gặp nhiều
khó khăn nên 2 năm 2009 và 2010, công ty cũng vay nợ nhiều hơn nên tỷ số lại càng
sụt giảm.
Tuy nhiên ta cũng có thể nhận thấy rằng, tuy tỷ số này giảm đáng kể nhưng vẫn
trên mức chỉ tiêu ngành và luôn luôn lớn hơn 1, điều này cho thấy công ty vẫn có khả
năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn tương đối tốt. Đến 6 tháng đầu năm 2011 với
Trang 10
Tốc độ tăng/ giảm 2009 2010 2011F
tỷ số thanh toán -33.68% -6.43% 10.81%
tỷ số thanh toán nhanh -45.51% -37.35% 48.95%
tỷ số khả năng thanh
toán tiền mặt 33.38% -24.41% -18.99%
hệ số thanh toán lãi vay 204% -60% -49%
tình hình kinh tế có nhiều biến động, khả năng thanh toán của công ty đã được cải
thiện rất nhiều, tăng 10.81% so với năm 2010.
• Với tỷ số thanh toán nhanh:
Sau khi loại đi hàng tồn kho bình quân cho thấy có sự khác biệt khá lớn. Khi mà
mức chênh lệch thay đổi giữa năm 2010 và năm 2009 cho thấy số lượng hàng tồn kho
của năm 2010 tăng gấp gần 3 lần. Công ty có nhiều hàng tồn kho có thể là do tích trữ
nguyên vật liệu, vì đặc điểm của ngành thì mùa xây dựng vào khoảng tháng 11-12 nên
việc công ty tích trữ nguyên vật liệu để phục vụ cho hoạt động xây dựng cuối năm
cũng là điều hợp lý.
Tuy nhiên 6 tháng đầu năm 2011 cho thấy số hàng tồn kho giảm đi đáng kể, có thể
lý giải cho điều này là vì thảm hoạ động đất sóng thần ở Nhật bản vào đầu năm 2011
đã phá huỷ các khu công nghiệp và hải cảng quan trọng của Nhật Bản nên nhu cầu
xây dựng của nước này tăng lên. Theo số liệu thống kê tính đến tháng 6/2011,cả nước
đã xuất khẩu 98,9 triệu USD sản phẩm từ sắt thép, tăng 53,4% so với tháng 5, nâng
kim ngạch xuất khẩu sản phẩm từ sắt thép 6 tháng đầu năm lên 493 triệu USD, tăng
36,58% so với cùng kỳ năm 2010. Điều này cho thấy rằng, công ty thép Việt Ý cũng
là một trong những doanh nghiệp xuất khẩu thép sang thị trường Nhật, vì vậy hàng tốn
Năm 2009 tăng vọt so với năm 2008, đến năm 2010 và năm 2011 giảm hẳn đi,
dao động quanh mức 50%, giảm cách đáng kể. Điều này cho thấy công ty tạm thời
không thể thanh toán được mức lãi vay tài chính để phục vụ hoạt động sản xuất. So
Trang 12
sánh thời gian cùng kì hết quý 2 năm 2010, hệ số thanh toán lãi vay giảm 13.7%, một
phần là do chi phí trả lãi Q2/2010 thấp hơn so với chi phí trả lãi Q2/2011, tốc độ tăng
chi phí trả lãi nhanh hơn với 50.65% so với tốc độ tăng EBIT chỉ có trên 30%
Kết luận: So sánh các chỉ số với chỉ số trung bình ngành năm 2010, có thể thấy
công ty thanh toán lãi vay tốt hơn so với các công ty trong ngành khác.Tuy nhiên việc
thanh toán các khoản nợ ngắn hạn lại thấp hơn so với chỉ số ngành, công ty không
nắm giữ khoản tiền để chi trả các khoản nợ trong thời gian ngắn.
Về nhóm tỷ số kết cấu tài chính:
Tăng/giảm(%) 2009 2010
Tỷ số nợ(%) 5.76 -5.76
Tỷ số nợ trên VCSH(%) -5.2 -56.03
Hệ số tự tài trợ(%) 2.95 5.76
Hệ số nhân vốn chủ sở hữu -10 -16
Tỷ số nợ dài hạn (%) 4.8 -35.93
• Với Tỷ số nợ trên VCSH:
Nhận thấy rằng, tỷ số này ở công ty rất cao, ở cả 4 năm đều lớn hơn 1, đặc biệt là năm
2008 và 2009 lên đến 2,4. Có thể lý giải con số lớn này là do khủng hoảng tài chính năm
2008 nhưng đến năm 2010 và đầu năm 2011, tỷ số này tuy giảm khoảng 5,76% so với
những năm trước nhưng vẫn ở mức quá cao. Điều này cho thấy tình trạng của công ty rất
khó khăn, trên góc độ ngân hàng, tỷ số này nên nằm trong khoảng từ 0 đến 1. Công ty đã
quá lệ thuộc vào vốn vay và như vậy nếu cho doanh nghiệp vạy thì rủi ro sẽ dồn hết cho
ngân hàng gánh chịu.
• Với tỷ số nợ:
Qua các năm 2008-2010, công ty thép Việt Ý sử dụng từ 64%-70% nguồn vốn để tài
trợ cho tài sản của công ty là từ nợ phải trả. Có thể thấy rằng tỷ số nợ của công ty khá là
cao, nếu các chủ nợ đòi cùng một lúc thì công ty sẽ lâm vào tình trạng khó khăn.
đầu năm 2011, với việc chuẩn bị đưa vào công nghệ sản xuất mới nên hệ số này tất
nhiên giảm đi so với năm 2010
• Kỳ thu tiền bình quân ( tương ứng với mức khoản phải thu và doanh thu
bán hàng của công ty):
Năm 2008 do công ty tăng thêm một khoản phải thu khác cao hơn đó là tiền góp
vốn của cán bộ công nhân viên ủy quyền công ty đầu tư vào công ty Bất động sản Dầu
Trang 14
khí, doanh thu của năm 2009 cao gấp gần 2 lần so với năm 2008. Đến năm 2009 và
năm 2010, do khoản phải thu dài hạn và ngắn hạn tính đến ngày 31/12/2009 chủ yếu
là phải thu công ty CP Luyện thép Sông Đà và năm 2010 thì VIS chuyển toàn bộ dư
nợ này cho CTCP Luyện thép sông Đà. So sánh với chỉ số ngành năm 2010 cho biết
khả năng chính sách đòi nợ của công ty chặt chẽ hơn so với bình quân ngành.
• Vòng quay hàng tồn kho:
Vòng quay hàng tồn kho năm 2009 tăng 4% so với năm 2008 nhưng lại giảm 22%
vào năm 2010. Tính đến cuối năm 2010 thì vòng quay cao hơn toàn ngành cho thấy
công ty hoạt động tốt hơn, bán được nhiều hàng hóa hơn. Tuy nhiên, so sánh giữa
nguyên vật liệu của năm 2010 cao hơn gấp 3 lần năm 2009, thành phẩm gấp gần 2 lần,
trong khi đó số hàng gửi đi bán lại thấp hơn so với 2009. Mặt khác, giá vốn hàng bán
năm 2009 thấp hơn so với năm 2010, do nền kinh tế lạm phát lớn, giá nguyên vật liệu
sản xuất cao hơn, đẩy giá thành sản phẩm lên. Cùng kì hết Q2/2011 cao hơn so với
2010 chứng tỏ giá vốn hàng bán trong năm nay tăng lên khá cao. Tuy nhiên có thể
nhận thấy rằng vòng quay hàng tồn kho của ngành thép rất thấp chứng tỏ hiệu quả
hoạt động trong ngành này không cao.
Nhìn chung hiệu quả hoạt động của ngành thép không được cao, tuy nhiên so với
bình quân ngành thì công ty sử dụng tài sản khá tốt và có chính sách tín dụng chặt chẽ
hơn các công ty khác, quản lý các khoản phải thu tốt hơn. Vòng quay hàng tồn kho
tương đối thấp vì công ty tích trữ nhiều nguyên vật liệu. Do chịu ảnh hưởng của rủi ro
tỷ giá và biến động giá phôi thép thế giới (70% lượng phôi thép của VIS phải nhập
khẩu) nên hiện tại hiệu quả hoạt động, của VIS thấp hơn so với cùng kỳ năm ngoái
nhưng vẫn cao so với các doanh nghiệp cùng ngành.
với các công ty khác cùng ngành. Điều này lý giải cho việc trang thiết bị sử dụng
trong sản xuất còn chưa hiệu quả.
• Tỷ suất lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu (ROE):
Tương tự như với tỷ số ROA, tỷ số ROE cũng cho biết khả năng tạo ra lợi nhuận
của công ty nhưng lại so với vốn chủ sở hữu. Năm 2009, tỷ số này tăng 3% so với
năm 2008 nhưng sau đó tiếp tục giảm 32% rồi 13% vào năm 2010 và 2011. Với việc
tăng vốn điều lệ lên 300 tỷ đồng- gấp đôi so với 2009 thông qua việc chào bán cổ
phiếu thưởng( sở hữu 2 cổ phiếu được thêm 1 cổ phiếu) và chào bán theo phương thức
thực hiện quyền mua ( cổ đông sở hữu 2 cổ phiếu được quyền mua thêm 1 cổ phiếu)
và giá thép giảm dẫn đến lợi nhuận của VIS giảm trong năm 2010. Tuy nhiên mức tỷ
suất lợi nhuận cũng khá cao và hấp dẫn nhà đầu tư với 19% mặc dù vẫn thấp hơn mức
trung bình ngành là 23%.
Sau đây là biểu đồ so sánh về chỉ số ROA và ROE trong năm 2010 của công ty
thép Việt-Ý so với các công ty cùng ngành:
Trang 17
Nhận thấy ROA và ROE của các công ty ngành thép tương đối cao và hấp dẫn nhà
đầu tư, VIS nằm trong top 3 công ty có hai chỉ số này cao chỉ đứng sau POM và SMC.
Về nhóm tỷ số giá trị thị trường
• Chỉ số EPS:
Thông qua việc tăng vốn điều lệ bằng việc phát hành cổ phiếu làm tăng số lượng
cổ phiếu đang lưu hành và dẫn đến làm giảm EPS của công ty, và xuống thấp hơn so
với toàn ngành, nhưng không đáng kể. Điều này khá dễ hiều khi năm 2010 khi mà nền
kinh tế có nhiều biến động, thì ngành thép cũng không phải là một ngoại lệ nên việc
tạo ra lợi nhuận ròng cao là điều khó. Giá thép biến động cùng với sự biến động của
nền kinh tế, của hoạt động cung cầu thép trên thế giới.
• Chỉ số P/E và P/B:
Chỉ số P/E và P/B của ngành thép khá thấp chỉ khoảng 6.5 và 1.5 lần cho thấy
ngành thép đang bị định giá thấp, so với các công ty khác trong ngành, VIS có chỉ số
P/E :8.25 và P/B: 2.07 là khá cao chứng tỏ VIS chưa thích hợp để đầu tư tại vùng giá
hiện tại.
+ 3.3X
3
+ 0.64X
4
+ 1.0X
5
Z” = 6.56X
1
+ 3.26X
2
+ 6.72X
3
+ 1.05X
4
Trong đó:
X
1
= vốn lưu động thuần/ tổng tài sản
X
2
= lợi nhuận giữ lại/ tổng tài sản
X
3
= EBIT/tổng tài sản
X
4
= thị giá cổ phiếu/ giá trị ghi sổ của tổng số nợ
X
Trang 21
những thách thức khó khăn mà ngành đang gặp phải để có một cái nhìn toàn diện và chính
xác nhất về tình hình của công ty CP Thép Việt- Ý.
3. 1.Ngành thép hiện nay,những thách thức và khó khăn
Những năm gần đây, sản xuất thép nước ta phát triển ở mức 20-30%/năm, nhưng
giống một số ngành công nghiệp khác, ngành thép đã bộc lộ nhiều điểm yếu mà để khắc phục
phải mất thời gian dài. Ðó là đầu tư tràn lan, không theo quy hoạch gây mất cân đối trầm
trọng. Các sản phẩm thép xây dựng, thép ống thông thường được đầu tư quá mức, vượt xa
nhu cầu, trong khi nhiều sản phẩm đặc chủng như thép tấm, cuộn cán nóng, thép chế tạo, bị
bỏ sót, mỗi năm phải nhập khẩu hơn năm triệu tấn, khiến nhập siêu của ngành thép khoảng
sáu tỷ USD/năm. Ðầu tư cho ngành thép thiếu tính bền vững, quy mô công suất nhỏ, công
nghệ lạc hậu, không đủ điều kiện vận hành ổn định lâu dài. Nhiều "siêu dự án thép" FDI với
mức đầu tư từ 5 đến 7 tỷ USD được cấp phép mà không cân nhắc kỹ, có nhiều dấu hỏi nghi
vấn về tính hiện thực. Tình hình cung vượt cầu trong ngành thép những tháng gần đây đã
khiến nhiều nhà máy phải ngừng sản xuất hoặc sản xuất cầm chừng, thép thành phẩm tồn kho
tới gần 500 nghìn tấn, chi phí trả lãi vay ngân hàng mỗi tháng tới hàng trăm tỷ đồng, trong
khi giá bán ở dưới mức giá thành. Cụ thể,những khó khăn mà ngành thép đang gặp phải là:
• Giá nguyên liệu đầu vào tiếp tục tăng cao.
Đầu vào cho ngành thép là quặng sắt và thép phế. Hiện nay, nước ta phải nhập khẩu tới 70%
thép phế và chỉ sản xuất được khoảng 20% thép dẹt với 100% nguyên liệu nhập khẩu. Như
vậy, ngành thép Việt Nam chịu ảnh hưởng rất nhiều từ biến động của giá phôi trên thế giới.
Nguyên liệu sản xuất phôi thép chủ yếu là quặng sắt và than cốc. Từ cuối năm 2010, giá bán
quặng sắt và than cốc trên thị trường thế giới đã tăng cao. Các nước Australia, Brazil chiếm
đến 70% thị phần thế giới. Họ gần như độc quyền và mỗi năm đều tăng giá từ 30 - 40%.
Than cốc cũng được cung cấp từ Trung Quốc và các nước này cũng đã tăng đến 70%.
Bên cạnh đó, giá điện, giá xăng dầu trong nước tăng cũng góp phần đẩy giá thành sản xuất
thép lên cao. Từ đầu năm 2011, giá xăng tăng 2.900 đồng/lít, mỗi tấn thép tiêu hao 50 lít
xăng, như vậy việc giá xăng trong nước tăng khiến mỗi tấn thép phải "đội" thêm 145.000
Trang 22
đồng. Giá điện cũng tăng từ 1/3, tuy không tác động lớn đến giá thành nhưng cũng chiếm từ
do không vay được vốn ngân hàng hoặc phải vay với lãi suất cao, làm cho dự án không còn
khả thi đã làm cho tiêu thụ thép trong nước nhiều tháng nay đã giảm rõ rệt. Sau khi có NQ11,
tiêu thụ thép giảm rõ rệt nhất là tháng 4,5,6/2011. Trong 6 tháng đầu năm, tăng trưởng thép
xây dựng đạt 13,5%, thép tiêu thụ gần 10%. Ngoài ra, từ 1/7 các ngân hàng phải thực hiện
quy định về tín dụng cho vay đối với lĩnh vực phi sản xuất giảm xuống ở ức đầu tiên 22%,
vài tháng nữa xuống dưới 20% thì ngành thép sẽ phải chịu đựng thử thách lớn hơn, mức tiêu
thụ chậm hơn.
• Khủng hoảng thừa
Ngành thép đang có nguy cơ đối mặt với khủng hoảng thừa. Hiện nhu cầu thép xây dựng
trong nước chỉ dao động ở mức hơn 6 triệu tấn mỗi năm, trong khi tổng công suất thép xây
dựng cả nước lên 9 triệu tấn. Đó là chưa kể sắp tới, ngành thép sẽ có thêm 5 dự án thép xây
dựng công suất lớn đi vào hoạt động với tổng công suất 1,5 triệu tấn mỗi năm.
3.2 .Đánh giá chung tình hình tài chính của công ty
Sau khi đã có một cái nhìn toàn diện về ngành thép hiện nay, cùng với lưu ý về việc
công ty vừa khởi công dự án nâng cấp công suất nhà máy lên 450000 tấn/năm với tổng số
vốn đầu tư là 903.63 tỉ đồng và thời gian hoàn vốn là 4năm, chúng ta có thể có một số kết
luận chung về tình hình tài chính của công ty như sau:
• Là một thành viên Tổng công ty xây dựng Sông đà, vì vậy hầu như các dự án xây
dựng của tổng công ty đều do Công ty CP Thép Việt- Ý cung cấp nguyên vật liệu.
Đây được coi là một điểm đáng chú ý bởi có thể thấy rằng đầu ra của sản phẩm được
đảm bảo một cách chắc chắn. Ngoài ra, mạng lưới phân phối của công ty khá là rộng
tao nên một bước đệm khá tốt cho việc kinh doanh của công ty.
• Về khả năng thanh toán, công ty đã cải thiện được khă năng thanh toán của mình so
với các năm trước. Tuy nhiên khă năng thanh toán lãi vay và lượng tiền mặt sẵn có
thấp do chi phí lãi vay tăng cao. Điều này sẽ có phần khả quan hơn khi NHNN ấn định
lãi suất cho vay ở mức 19%/năm.
Trang 24
• Về kết cấu tài chính, công ty đã dần trả được những khoản nợ kếch xù(điều rất dễ thấy
ở ngành thép) đặc biệt là nợ dài hạn. Đây là một tín hiệu khả quan với những ngân
hàng có ý định cho công ty vay dài hạn.