Chương II: HÌNH THÁI HỌC CÔN TRÙNG Côn trùng là động vật phân đốt, cơ thể côn trùng do 18-20 đốt nguyên thủy tạo
nên, các đốt này tập hợp thành ba phần rõ rệt: đầu, ngực và bụng.
- Đầu là một khối đồng nhất, trên đầu có mắt, râu đầu và các bộ phận của
miệng.
- Ngực gồm ba phần: ngực trước, ngực giữa và ngực sau. Mỗi phần mang một
đôi chân ngực, ngực giữa và ngực sau mỗi phần còn mang mộ
t đôi cánh.
- Bụng được cấu tạo bởi 12 đốt nhưng các đốt trong quá trình tiến hóa thường
gắn chặt vào nhau nên người ta chỉ quan sát được từ 8 đến 11 đốt. Phần bụng thường
không mang các bộ phận di chuyển nhưng thường mang các phụ bộ ở cuối bụng.
I. SỰ PHÂN ĐỐT
Sự phân đốt rõ rệt nhất được ghi nhận ở phần bụng, là nơi mà các đốt có cấu tạo
đơn giản nhất. Mỗi đốt bụng cơ bản gồm hai phiến cứng (sclerites): phiến lưng và
phiến bụng. Hai phiến này được nối liền với nhau bởi vùng màng nằm hai bên cơ thể.
Các phiến lưng hoặc các phiến bụng còn được nối liền với nhau bởi các màng giữa
đố
t. Nhờ những vùng màng này mà côn trùng có thể co dãn, cử động dễ dàng. Các
phiến lưng và phiến bụng không phải là những phiến bằng phẳng mà phần cuối phía
trước của những phiến này thường được xếp thành từng lớp vào phía trong của vách da
tạo thành những chóp nổi ở phía trong cơ thể và một đường nối hiện diện ở phía ngoài
được gọi là đường nối Antecostal. Phần vành hẹp ở phía trên phiến lưng, nằ
m ở phía
trước đường nối Antecostal được gọi là Acrotergite và tương tự, phần vành hẹp ở phía
Hình II.2. Đốt và sự cấu tạo của các đốt cơ thể (A+B)
(Lawrence và ctv., 1991) II. CẤU TẠO VÁCH DA CƠ THỂ
Ở người và các loài có xương sống khác, bộ xương hiện diện phía trong cơ thể
và được gọi là bộ xương trong, nhưng ở các động vật thuộc lớp côn trùng và thuộc
ngành chân khớp (Arthropoda) thì vách da hóa cứng hiện diện ở phía ngoài cơ thể và
được gọi là bộ xương ngoài. Vách da hay bộ xương ngoài của côn trùng không những
là phần bảo vệ bên ngoài của cơ thể mà còn là chỗ cho các hệ cơ bám vào và giữ cho
cơ thể
côn trùng có một hình dạng nhất định.
1. Cấu tạo da côn trùng
Da côn trùng gồm có 3 lớp chính:
- Lớp biểu bì: lớp ngoài cùng có cấu tạo chitine, protein và sắc tố.
- Lớp tế bào nội bì: nằm phía dưới lớp biểu bì và tiết ra các chất tạo nên lớp
biểu bì.
- Màng đáy: là một lớp màng mỏng không có cấu tạo tế bào, nằm sát ngay dưới
lớp tế bào nội bì.
a - Biểu bì
a: tế bào lông; b: tế bào màng; c: tế bào nội bì; d: lông; e: biểu bì trên
(epicuticle); f: tế bào tuyến (Borror và ctv., 1981). 21
Hình II.4. Cấu tạo biểu bì da côn trùng Hình II.5. Vật phụ trên vách da côn trùng (a: lông cứng vật đơn tế bào;
b: gai nhỏ, vật phụ phi tế bào; c: mấu lồi - vật phụ đa tế bào)
2. Chitin
Là Polysaccharid có đạm, có công thức (C H NO)n. Đây là một chất đặc trưng
của ngành chân khớp (Arthropoda), hiện diện chủ yếu ở biểu bì dưới. Chất này hoàn
toàn không hiện diện ở biểu bì trên. Chitine là một chất rất bền vững, không tan trong
nước, rượu, acide loãng hay chất ki
ềm. Chitine không bị phân hủy bởi các enzyme của
động vật có vú, tuy nhiên chitine có thể bị phân hủy bởi các loại ốc, sên, một vài loại
côn trùng (như gián) và một vài loại vi khuẩn (như vi khuẩn Bacillus chitinivorous).
Biểu bì cứng là do ở phần biểu bì ngoài có chứa một chất sừng gọi là sclerotin.
sclerotin được thành lập từ protein của biểu bì dưới tác dụng của các chất quinones. Ở
một số ít loài côn trùng (một số ấu trùng thuộc bộ
hai cánh và nhộng) và nhiều loài
giáp xác có chứa các muối calcium như những chất cứng hiện diện trong biểu bì,
nhưng sclerotin còn cứng hơn các loại muối calcium này, ngàm (hàm trên) của một số
loại côn trùng có thể cắn xuyên qua lớp kim loại.
Một số vùng trên biểu bì da côn trùng còn chứa chất protein co dãn gọi là
resilin, chính những chất này làm cho biểu bì có khả năng đàn hồi và tạo nên những
gân đàn hồi cho hầu hết các cơ thịt.
trùng thường có mầu sậm hơn so với lúc sống trong điều kiện khô ráo.
4. Các vật phụ trên vách da cơ thể
Ngoài những chóp nổi bên trong (được hình thành là do những đường xếp lõm
vào phía trong của da côn trùng) là chổ bám cho các hệ cơ, giúp cơ thể giữ được một
khung xương vững chắc và mộ
t hình dạng nhất định thì vách da cơ thể côn trùng còn
mang nhiều vật phụ ở phía ngoài cơ thể như lông, gai, vẩy, cựa, u lồi, Các vật này
bao gồm những phần không có cấu tạo tế bào (mấu lồi, gai nhỏ, lông nhỏ, ) hoặc có
cấu tạo tế bào (như lông cứng, gai, cựa). Lông trên da côn trùng thường là lông cảm
giác, có thể cảm thụ được nhiều thông tin khác nhau như va chạm cơ học, âm thanh,
mùi vị, nhiệt độ….
5. Các tuy
ến của da côn trùng
Các tuyến của da côn trùng sản sinh ra các chất cần thiết cho đời sống của sinh
vật. Do có nguồn gốc từ một số tế bào nội bì nên được xem như tuyến của da côn
trùng. Gồm 2 nhóm chính: tuyến nội tiết và tuyến ngoại tiết
5.1. Tuyến nội tiết
Tiết ra các hormon cần thiết cho quá trình sinh trưởng, phát triển và một số hoạt
động sống khác của côn trùng. Quan trọng nhất là tuyến Corpora allata ti
ết ra hormon
điều tiết sự sinh trưởng, còn gọi là hormone trẻ (juvenile hormon), và tuyến ngực trước
(prothoracic glands) tiết ra hormon lột xác (ecdyson hormon).
23
5.2. Tuyến ngoại tiết
Bao gồm một số tuyến chính như:
- Tuyến nước bọt: sản sinh nước bọt, còn được gọi là tuyến môi dưới. Ở các loài
côn trùng thuộc bộ Cánh vẩy, tuyến nước bọt biến đổi thành tuyến tơ.
- Tuyến sáp: phổ biến ở các nhóm rệp sáp thuộc tổng họ Coccoidea.
- Tuyến độc và tuyến hôi: Tuyến độc gây ngứa, phổ biến ở các loài sâu róm
- Đỉnh đầu và má được giới hạn bởi ngấn ót, phía sau ngấn ót là các khu vực
như: khu vực ót nằm ở phần lưng ngay phía sau ngấn ót và khu vực má sau nằm về
phía má, sau ngấn ót, cả hai khu v
ực này bị giới hạn về phía sau bởi ngấn ót sau, phía
sau ngấn ót sau là một vùng cứng hẹp gọi là ót sau bao quanh lấy lỗ sọ (nơi nối tiếp
giữa phần đầu và phần ngực) .
Ở côn trùng trưởng thành, đôi khi trên phần trán còn hiện diện một vết tích của
một ngấn hình chữ Y gọi là ngấn lột xác, ngấn này chia phần trên của đầu thành hai
24
khu vực và được gọi là ngấn trán. Đây là ngấn lột xác, ở giai đoạn ấu trùng, mỗi khi
lột xác thì ngấn này tách ra giúp cho cơ thể mới của côn trùng thoát ra khỏi lớp da cũ.
Nói chung có một sự khác biệt rất lớn về sự hiện diện của các ngấn và các khu
vực trên bề mặt của đầu ở các nhóm côn trùng khác nhau. Nhiều ngấn và các khu vực
được trình bày ở trên có thể không hiện diện ở
nhiều loại côn trùng.
2. Chi phụ của đầu
a - Râu đầu
* Cấu tạo: gồm cơ bản các đốt như sau:
- Đốt chân râu (scape): mọc từ ổ chân râu, ổ chân râu thường nằm ở vị trí
khoảng giữa hai mắt kép thuộc khu trán.
- Đốt cuống râu (pedicel): thường ngắn và thường mang các cơ quan cảm giác.
- Đốt roi râu (flagellum): đốt này thường phân thành nhiều đốt nhỏ, hình dạng
roi râu rất thay đổi tùy theo các nhóm côn trùng.
Nói chung ở h
ầu hết côn trùng, râu đầu có thể cử động dễ dàng nhờ có hệ thống
- Râu lông nhỏ (ruồi nhà): ngắn, đốt cuối thường phình to, có mộ
t lông cứng ở
phía lưng đốt cuối. Hình II.7. Một số dạng râu đầu
a: râu lông cứng (chuồn chuồn); b: râu sợi chỉ (chân chạy); c: râu hình
chuỗi hạt (mối); d: râu hình răng cưa; e: râu lông nhỏ (ruồi); f: râu dùi
đục (cánh cứng);g: râu cầu lông (muỗi); h: râu hình lá lợp (bọ hung); i:
râu đầu gối (vòi voi).
26
Hình II.8. Râu hình cầu lông của muỗi Hình II.9. Râu hình đầu gối của
kiến Hình II.10. Râu hình lông cứng Hình II.11. Râu hình răng lược đơn
C
B
A
Miệng nhai có cấu tạo cơ bản như sau:
- Môi trên (Labrum): đây là một mảnh cứng, nằm phía dưới mảnh clypeus,
ngay phía trên các chi phụ khác của miệng.
- Hàm trên (Mandible): gồm một đôi xương cứng không phân đốt, nằm ngay
phía dưới môi trên. Hàm trên cũng thay đổi tùy theo các loại côn trùng, ở một số loài
(như cào cào) mặt trong hàm có những khía răng nhọn để cắn và nhai, ở một s
ố loài
khác (nhóm ăn thịt, thuộc bộ Coleoptera), hàm trên kéo dài ra và có dạng lưỡi hái.
- Hàm dưới (Maxillae): gồm một đôi xương cứng nằm ngay phía dưới hàm
trên. Hàm dưới gồm nhiều đốt: đốt chân hàm, đốt thân hàm, lá ngoài hàm, lá trong
hàm và râu hàm dưới. Lá trong hàm thường cứng và có khía răng nhọn để cắt nghiền
thức ăn. Râu hàm dưới cũng gồm có nhiều đốt, được dùng để nếm hoặc ngửi thức ăn.
28
- Môi dưới (Labium): là một mảnh duy nhất nằm ở phía dưới môi trên. Môi
dưới được chia thành hai phần bởi một đường nối ngang, hai phần này có tên gọi là
cằm trước và cằm sau. Ở các loài cào cào, cằm sau lại chia làm hai phần: cằm phụ và
cằm chính. Cằm trước gồm có một đôi râu môi dưới, hai lá ngoài râu và hai lá giữa
môi. Cằm sau thường không cử động được mà phần cử động được là cằm trước với
các chi ph
ụ ở trên đó. Hình II.14. Cấu tạo đầu của bộ cánh thẳng Orthoptera (A: đầu nhìn từ mặt trước; B:
đầu nhìn từ mặt bên; C: đầu nhìn từ mặt sau); a: đỉnh đầu; b: mắt kép; c: mắt đơn;
d: ngấn lột xác; e: trán; f: clypeus; g: môi trên; h: hàm trên; i: râu đầu; j: má; k:
ngấn dưới má; l: hàm dưới; m: môi dưới; n: ngấn ót; o: ngấn ót sau; p: lỗ sọ; q: má
vòi, lưỡi cũng là một thùy nhỏ nằm trong vòi. Vòi không giữ nhiệm vụ trực tiếp lấy
thức
ăn, khi côn trùng lấy thức ăn vòi sẽ bẻ cụp về phía sau và nằm ở phía ngoài, chỉ
có các kim châm (chích) vào thức ăn để hút dịch. Bên trong vòi, các kim chích kết hợp
lại thành hai ống nhỏ: một ống dẫn thức ăn và một ống dẫn nước bọt.
- Miệng chích hút của muỗi (Diptera)
Vòi cũng do môi dưới hình thành, trong vòi có 6 kim chích do môi trên, hàm
trên, hàm dưới và lưỡi tạo thành. Kim chích rất mỏng mảnh và có dạng sợi chỉ. Ống
nước b
ọt hiện diện trong lưỡi và ống thức ăn được hình thành do sự kết hợp giữa
đường rãnh của môi trên với lưỡi.
- Miệng của ruồi ăn mồi (Asilidae, Diptera)
Có cấu tạo miệng tương tự như các nhóm trên nhưng hoàn toàn không có vết
tích của hàm trên và bộ phận châm (chích) duy nhất là do lưỡi biến hóa thành. Có 4
kim châm: một do môi trên, hai do đôi hàm dưới và một do lưỡi. Ống nước bọt hiện
diện trong lưỡi và ống th
ức ăn nằm giữa môi trên và lưỡi. Các loại ruồi ăn mồi có kiểu
miệng này thường tấn công trên các loại côn trùng khác hoặc trên các loài nhện.
- Miệng liếm hút của ruồi nhà (Diptera)
Gồm có một cái vòi đàn hồi đính vào phần màng hình chóp của phần dưới đầu.
Râu hàm dưới hiện diện ở gần cuối vòi. Mặt trong của vòi là dạng lòng máng được che
bởi phiến môi trên và lưỡi. Môi trên và lưỡi hợp lại tạo thành
ống dẫn thức ăn, trong
lưỡi có ống nước bọt. Phần cuối vòi phình to thành hai thùy to, mềm, hình bầu dục gọi
là đĩa vòi. Mặt dưới của đĩa vòi có nhiều vòng máng ngang nhỏ được sử dụng như
những ống dẫn thức ăn, Các vòng máng này thông với cửa rãnh của vòi giúp cho ruồi
có thể dùng đĩa vòi để liếm và hút các thức ăn dạng lỏng. Do có tính co dãn nên ở
trạng thái không ăn vòi có thể được xếp sát m
ặt dưới của đầu hoặc trong một khe hở ở
mặt dưới của đầu.
31
Hình II.17. Miệng chích hút của bọ xít (Hemiptera) A: phần đầu cắt ngang; B: thiết
diện cắt ngang của vòi hút; a: kim chích; b: vòi chích; c: môi trên; d: môi dưới; e:
râu đầu; f: ống dẫn thức ăn; g: ống nước bọt; h: hàm trên; i: hàm dưới
(Borror và ctv,1981)
BA
Hình II.18. Miệng chích hút của Rhynchocoris poseidan (A) và Physomerus
grossipes (B) Hình II.19. Miệng liếm hút của ruồi nhà (Diptera).
a: vòi hút; b: clypeus; c: râu hàm dưới; d: môi trên; e: đĩa vòi; f: râu đầu; g: mắt kép; h:
môi dưới; i: ống dẫn thức ăn; j: ống nước bọt; k: lưỡi. (Borror và ctv., 1981)
32Hình II.20. Miệng hút của bướm (Lepidoptera)
a: râu môi dưới; b: vòi hút; c: mắt kép; d: râu đầu; e: ống dẫn thức ăn.
Hình II.21. Miệng gậm hút của ong (Hymenoptera).
A: miệng nhìn từ mặt trước; B: miệng nhìn từ mặt sau. a: clypeus; b: hàm trên;
c: môi trên; d: râu hàm dưới; e: râu môi dưới; f: vòi; g: mắt kép; h: râu đầu lá
ngoài của hàm dưới (Borror và ctv,1981)
thì được gọ
i là mảnh lưng ngực trước, mảnh bên ngực trước và mảnh bụng ngực trước.
Các mảnh hiện diện trên ngực giữa và ngực sau cũng có tên gọi tương ứng. Trên các
mảnh cứng này lại có những ngấn nhỏ, các ngấn này phân chia bề mặt của các đốt
ngực thành những phiến (mảnh) cứng nhỏ có tên gọi riêng.
34
B
A
Hình II.24. Ngực của Cào cào (Acrididae) (A); Ngực của Bọ ngựa (Mantidae) (B) B
A
Hình II.25. Ngực phát triển của rầy sừng Membracidae (Homoptera) (A và B) 2. Chi phụ của ngực
a - Chân ngực
Là chi phụ, phân đốt điển hình của côn trùng với các đốt cơ bản như: đốt chậu
(coxa), đốt chuyển (trochanter), đốt đùi (femur), đốt chày (tibia), đốt bàn (tarsus) và
đốt cuối bàn (móng, vuốt). Hình II. 26. Sự phân đốt của chân côn trùng
35
giữa móng; h: empodium; i: pullvili) (Borror và ctv., 1981). Hình II.29. Các dạng chân côn trùng. (a: chân chạy; b: chân nhảy; c: chân bắt
mồi; d: chân đào bới; e: chân bơi; f: chân lấy phấn).
Côn trùng có rất nhiều dạng chân khác nhau, sau đây là một số dạng chân ngực phổ
biến:
- Chân chạy: rất phổ biến ở các loài côn trùng. Chân này có các đốt dài, nhỏ
phát triển khá đều nhau (gián, bọ chân chạy carabids, )
- Chân nhảy: đốt đùi rất phát triển. Đốt chày thường dài, hình ống (cào cào, dế,
một số loại rầ
y, ).
- Chân bắt mồi: điển hình nhất là chân ngực trước của Bọ ngựa (Mantidae).
Đốt chậu dài vươn ra phía trước, đốt đùi rất phát triển, mặt bụng đốt đùi có một đường
rãnh, trên hai bờ rãnh này có hai hàng gai sắc nhọn. Đốt chày về phía mặt bụng cũng
có hai hàng gai nhọn. Khi đốt chày gập lại thì có thể nằm lọt vào rãnh của đốt đùi,
trông tựa như chiếc dao cạo râu. Nhờ cách g
ập lại này cùng với những dãy gai nhọn
mà con mồi bị kẹp chặt (giữ) lại.
- Chân đào bới: chân thường ngắn, to, thô. Đốt chày phình to và phía mép
ngoài có những răng cứng để đào đất và bới đứt rễ cây (dế nhũi).
- Chân bơi: phổ biến ở các loại côn trùng sống trong nước. Chân giữa và chân
sau thường dẹp, trên mép đốt chày, đốt bàn chân có lông rất dài, hoạt động như mái
chèo khi côn trùng bơi trong nước (Dytiscidae).
- Chân l
ấy phấn: thường gặp ở các loài ong. Đặc điểm: phía cuối đốt chày
chân sau thường dẹp và rộng, phía ngoài lõm và trơn nhẵn. Bờ rãnh lõm có lông dài
tạo thành một lẳng chứa phấn hoa. Đốt gốc của bàn chân cũng phình to, mặt trong có
nhiều dãy lông cứng xếp thành hàng ngang dùng để chải các phấn hoa dính trên lưng
phần cuối để tạo nên một lớp màng, trên có những mạch (gân) cánh, trong mạch có sự
hiện diện c
ủa máu, dây thần kinh và khí quản. Khi cánh phát triển hoàn chỉnh lớp tế
bào nội bì biến mất và cánh có cấu tạo hoàn toàn bởi biểu bì không có cấu tạo tế bào.
Sự nghiên cứu hệ thống khí quản ở cánh rất quan trọng cho công tác phân loại, đặc
biệt là ở những nhóm mà sự phân loại dựa chủ yếu trên hệ thống mạch cánh.
38
- Mạch cánh
Có một sự thay đổi rất lớn trong hệ thống mạch cánh ở các bộ, họ côn trùng.
Dựa trên những sự tương đồng của các mạch cánh, một hệ thống mạch cánh mang tính
nguyên thủy giả thuyết đã được xây dựng bởi Comstock và Needham. Mặc dù không
phải nhà côn trùng học nào cũng đồng ý với sơ đồ mạch cánh của Comstock và
Needham. Nhưng hệ thống này cho đến nay vẫn là cơ sở
cho việc xác định nghiên cứu
và xây dựng hệ thống mạch cánh cho nhiều nhóm côn trùng khác nhau.
Hệ thống mạch cánh các côn trùng gồm có các mạch dọc và mạch ngang:
- Mạch dọc
Là gân cánh chạy từ gốc cánh theo chiều dọc của cánh ra phía mép cánh. Gân
ngang là gân ngắn nối liền ngang giữa hai gân dọc. Gân dọc và gân ngang đều có tên
gọi nhất định. Gân dọc gồm các gân chủ yếu như sau:
- Mạch dọc mép (Costa = C): nằm sát rìa trên của cánh, mạch này không bao
giờ phân nhánh.
- Mạ
ch dọc mép phụ (Subcosta = Sc): nằm phía dưới mạch Costa, mạch này đôi
khi cũng phân thành hai nhánh nhỏ (Sc1 và Sc2).
- Mạch ngang chày (Radial = r): nối liền R1 và R2.
- Mạch ngang chày chung (Sectorial = s): nối liền R3 và R4 hoặc nối liền R2+3
và R4+5.
- Mạch ngang chày giữa (Radio-medial = r-m): nối liền R và M.
- Mạch ngang giữa (Medial = m): nối liền M2 và M3.
- Mạch ngang giữa khuỷu (Medio-cubital = m-cu): nố
i liền M và Cu
- Mạch ngang khuỷu mông (Cubito-anal =Cu-a): nối liền 1A với Cu2.
Vanalis và Analis, khu đuôi nằm phía sau của khu mông được giới hạn bởi đường gấp
Jugalis và mép sau cùng của cánh gần góc cánh.
- Buồng cánh
Các vùng trên cánh được giới hạn bởi các mạch, được gọi là buồng cánh.
Buồng cánh được phân thành hai dạng: buồng cánh kín (giới hạn hoàn toàn bởi gân
cánh) và buồng cánh hở (giới hạn bởi mạch cánh và mép ngoài của cánh). Tên của
buồng cánh được gọi dự
a theo tên gọi của các mạch dọc nằm phía trên buồng cánh, ví
dụ: buồng hở nằm giữa mạch R2 và R3 được gọi là buồng R2. Buồng cánh nằm phía
góc cánh thường gọi tên theo tên gọi của phần góc của mạch dọc (phần chưa phân
nhánh) nằm ở phía trên của buồng cánh, ví dụ như buồng R, M và buồng Cu. Nếu hai
buồng được ngăn cách nhau bởi một mạch ngang, các buồng này sẽ có cùng một tên
gọi nhưng có số
thứ tự khác nhau, ví dụ như mạch ngang Medial chia buồng M2 thành
Bộ Cánh vẩy (Lepidoptera): các nhà côn trùng chuyên nghiên cứu về bộ cánh
vẩy thường dùng các khóa phân loại dựa trên hệ thống mạch cánh, các mạch cánh
thường được ký hiệu bởi các số: từ số một đến số 8 hoặc số 12, bắt đầu từ phía sau lên
phía trước. Tuy nhiên các con số này sau đó được thay thế bởi việc sử dụng các tên gọi
như: C, Sc, R, SR
B
ộ Hai cánh (Diptera): cho đến nay hầu như chưa có một công trình nghiên
cứu về hệ thống mạch cánh của bộ hai cánh được hoàn chỉnh. Olroy và Roth đã xây
dựng một sơ đồ xác định tên gọi của hệ thống mạch cánh các loại thuộc bộ hai cánh
như sau:
1 - C
2 - Sc
3 - R1
4 - R2+3 (Nhánh đầu tiên của SR)
5 - R4+5 (Nhánh thứ 2 của SR)
6 - M1+2 (Nhánh đầu tiên của M)
7 - M3+4 (Nhánh thứ 2 của M)
8 - Cu1
9 - Cu2
10 - A
11 - ax
Bộ Cánh màng (Hymenoptera): hệ thống mạch cánh của côn trùng thuộ
c bộ
Cánh màng mang dạng hình lưới rất đặc biệt vì vậy việc chuẩn hóa các nhóm côn
trùng thuộc bộ này rất khó khăn, tuy nhiên các nhà sinh vật học nghiên cứu về bộ cánh
này cũng có một số thuật ngữ riêng để sử dụng riêng cho hệ thống mạch cánh của bộ
này.
- Các nếp gấp trên cánh