Tư liệu về lịch sử Đảng bộ Huyện CưM''''gar-ĐăkLăk - Pdf 16

BÀI LÀM DỰ THI TÌM HIỂU THÂN THẾ, SỰ NGHIỆP
CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VÀ LỊCH SỬ ĐẢNG BỘ
HUYỆN CƯM’GAR
………………
Câu 1: Huyện Cư M’gar thành lập vào ngày tháng năm nào? Hiện nay có bao
nhiêu đơn vị hành chính (xã, thị trấn) và tên gọi của các đơn vị hành chính ấy.
Trả lời: Huyện Cư M’gar thành lập vào ngày 23 tháng 01 năm 1984, theo Nghị
định số 15/ NĐ-HĐBT của Hội đồng bộ trưởng – nay là Chính phủ.
Hiện nay, huyện CưM’gar có 15 xã và 02 thị trấn. Đó là:
Thị trấn Quảng Phú và thị trấn EaPôk
Các xã: Cư M’gar, Cư Suê, Cuôr Đăng, Ea Drơng, Ea Hding, Ea Kiết, Ea Kpal, Ea
Kuêh, Ea Mdroh, Ea Mnang, EaTar, EaTul, Quảng Hiệp, Quảng Tiến, Cư Dlê
Mnông.
Câu 2: Cấp uỷ Đảng đầu tiên của huyện Cư M’gar được thành lập vào tháng năm
nào? Từ khi được thành lập đến nay, đảng bộ huyện đã trải qua bao nhiêu kỳ Đại
hội, được tổ chức vào thời gian nào, tại đâu? Nêu tên các đồng chí Bí thư huyện uỷ
từ khi cấp uỷ đầu tiên được thành lập đến nay?
Trả lời:
Đầu năm 1960, Liên khu uỷ khu V chia tỉnh Đắk Lắk ra làm 4 đơn vị (mật danh là
B3, B4, B5, B6). Địa bàn Cư M’gar là một bộ phận của B6, do đồng chí Nguyễn
Thành làm Bí thư Ban cán sự. Trên địa bàn B6 (bao gồm thị xã Buôn Ma Thuột và
vùng nông thôn xung quanh thị xã) lại chia thành 4 đơn vị, với mật danh là K (từ
K.61 đến K.64). Địa bàn Cư M’gar là bộ phận của K.61.
Tháng 8 – 1960, Ban cán sự Đảng K.61 được thành lập. Đồng chí Lê Chí Quyết,
Tỉnh uỷ viên tỉnh Gia Lai tăng cường cho Đắk Lắk được chỉ định làm uỷ viên Ban
cán sự B6, trực tiếp làm Bí thư Ban cán sự K.61. Có thể coi Ban cán sự K.61 là cấp
uỷ Đảng tiền thân của 3 huyện: Cư M’gar, Ea Súp và Buôn Đôn ngày nay.
Tính đến đầu năm 1961 số lượng cán bộ quân dân chính đảng của K.61 có trên
10 đồng chí. Buôn Ea M’Droh và một số buôn lân cận như buôn Cuôr, buôn
Dhung, buôn Ya Wầm được chọn làm căn cứ đứng chân đầu tiên và một số năm
sau này của Ban cán sự K.61.

Đại hội đại biểu huyện Đảng bộ Cư M’gar lần thứ V được tiến hành từ ngày 11 đến
ngày 13 – 12 – 2000. Tại Nhà văn hoá huyện Cư M’gar.
Đại hội bầu ra Ban Chấp hành gồm 33 đồng chí; đồng chí Y Xuân Mlô, được bầu
làm Bí thư Huyện uỷ. Đến cuối năm 2002, do điều kiện sức khoẻ đồng chí Y Xuân
Mlô nghỉ, Tỉnh uỷ Đắk Lắk phân công đồng chí Trần Hiếu - Tỉnh uỷ viên về làm
Bí thư Huyện uỷ.
Đại hội lần thứ VI: ( 2005 – 2010)
Đại hội đại biểu huyện Đảng bộ Cư M’gar lần thứ VI được tiến hành từ ngày 07
đến ngày 08 – 09 – 2005. Tại Nhà văn hoá huyện Cư M’gar.
Đại hội bầu ra Ban Chấp hành gồm 39 đồng chí; đồng chí Trần Hiếu được bầu làm
Bí thư Huyện uỷ. Đến năm 2006, đồng chí Trần Hiếu chuyển về Tỉnh, đồng chí
Phạm Văn Trình, làm Bí thư Huyện uỷ.
Câu 3: Nêu diễn biến trận đánh chiếm đồi Cư M’gar của quân và dân ta nhằm lập
thành tích chào mừng kỷ niệm 80 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh?
2
Giữa lúc đồng bào chiến sỹ 2 miền Nam – Bắc đang ra sức “Thi đua giết
giặc Mỹ” thì ngày 2 – 9 – 1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh – lãnh tụ kính yêu của nhân
dân cả nước ta qua đời. Nhân dân Cư M’gar cũng như đồng bào chiến sỹ cả nước
phải chịu một tổn thất vô cùng lớn lao và mang nỗi đau buồn vô hạn. Để Tưởng
nhớ công ơn của Người huyện đã tổ chức một đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng cho
cán bộ, đảng viên, các lực lượng vũ trang và đồng bào các dân tộc với chủ đề “Học
tập và làm theo Di chúc thiêng liêng của Bác Hồ”. Một đợt thi đua ngắn ngày (từ
15 – 09 đến 15 – 12 – 1969) đã được huyện phát động.
Qua 3 tháng thi đua lập công đền ơn Bác Hồ, quân và nhân dân trong huyện
đã đánh trên 30 trận lớn nhỏ, diệt và làm trọng thương gần 100 tên địch, bắn hạ 1
máy bay lên thẳng và 1 xe bọc thép M – 113, đưa được trên 1.000 dân trở về buôn
ấp cũ.
Nhằm lập thành tích chào mừng kỷ niệm 80 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ
Chí Minh và mở thông hành lang của ta ở phía Bắc thị xã Buôn Ma Thuột, tỉnh và
huyện đã quyết định tiêu diệt cứ điểm đồi Cư M’gar (cao điểm 529). Tiểu đoàn đặc

trong khi đó hệ thống chính trị còn mới mẻ, đội ngũ cán bộ còn thiếu. Được sự chỉ
đaọ trực tiếp của Tỉnh ủy, HĐND và UBND tỉnh, sự hỗ trợ giúp đỡ của các sở,
ban, ngành của tỉnh; cùng với sự đoàn kết thống nhất của Đảng bộ và nhân dân các
dân tộc trong huyện quyết tâm vượt qua mọi khó khăn thách thức, tập trung chăm
lo phát triển kinh tế - xã hội, ổn định tình hình, chăm lo xây dựng đời sống cho
nhân dân, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số; tập trung xây dựng hệ thống
chính trị vững mạnh, bảo đảm quốc phòng an ninh, tăng cường truy quét bọn
FULRO giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội. Với nỗ lực phấn đấu
Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong huyện quyết tâm vượt khó vươn lên, tích
cực đổi mới cách nghĩ, cách làm trên tất cả các lĩnh vực đã đem lại kết quả to lớn
sau 25 năm xây dựng và phát triển:
Trên lĩnh vực kinh tế: Huy động mọi nguồn lực để đầu tư phát triển kinh
tế, đầu tư có trọng tâm, trọng điểm và hiệu quả theo hướng vững chắc, có nhiều
chủ trương, biện pháp để tổ chức phát triển nông nghiệp theo hướng toàn diện, bền
vững. Tổng diện tích gieo trồng năm 1984 là : 9115 ha, đến nay đã lên 70.368 ha
tăng gấp 8 lần; trong đó diện tích cây hàng năm là 22.313 ha, cây công nghiệp dài
ngày 48.047 ha ( năm 1984 là 2.217 ha), tổng sản lượng lương thực hàng năm tăng
khá cao, năm 2008 trên 78.000 tấn tăng gấp 8 lần so với năm 1984. Giá trị thu nhập
từ trồng trọt đến nay bình quân hàng năm trên 1600 tỷ đồng.
Ngành chăn nuôi cũng phát triển đáng kể, có nhiều trang trại chăn nuôi gia
súc, gia cầm quy mô công nghiệp được hình thành, ứng dụng các tiến bộ khoa học
4
kỹ thuật về giống, về thức ăn, hàng năm tạo ra một sản lượng thực phẩm phục vụ
cho nhân dân trên địa bàn, góp phần tăng thêm giá trị của ngành nông nghiệp và
thu nhập của nhân dân.
Công tác trồng, bảo vệ chăm sóc rừng, phòng chống cháy rừng, truy quét
lâm tặc và chống nạn phá rừng làm rẫy được tiến hành mạnh mẽ hàng năm, nhằm
cố gắng giữ được vốn rừng hiện có, tiếp tục trồng mới theo phương thức trồng cây
phân tán, rừng vành đai, rừng phòng hộ để nâng cao độ che phủ, cải tạo sinh thái
và sinh lợi từ rừng cho người dân.

nghề như: chế biến nông sản, cơ khí, sản xuất các mặt hàng phục vụ cho sản xuất
và tiêu dùng. Tính đến năm 2008 giá trị của sản xuất công nghiệp và xây dựng ước
đạt 290 tỷ đồng.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế ngành thương mại-dịch vụ có những
bước chuyển biến đáng kể, sôi động, phong phú và ngày càng tiếp cận, thích ứng
kịp thời với cơ chế thị trường. Tổng giá trị của ngành thương mại - dịch vụ năm
2008 ước đạt trên 500 tỷ đồng tăng gần 30 lần so với năm 1984.
Tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội. Với đặc thù là
một huyện miền núi địa hình phức tạp, nhất là giao thông, đặc biệt là mùa mưa đi
lại khó khăn ách tắc, bằng sự quan tâm của nhà nước và của huyện, cùng với sự
đóng góp của nhân dân đến nay hệ thống giao thông được xây dựng trên 160km
đường nhựa, với tổng nguồn kinh phí 243 tỷ đồng, trong đó ngân sách tỉnh chiếm
76%, ngân sách huyện chiếm 22,3%. Huyện đã huy động và tranh thủ các nguồn
vốn, bố trí vốn hợp lý có trọng tâm, trọng điểm và lồng ghép các chương trình, dự
án như: 159, 135, 168 để xây dựng trung tâm cụm xã, hệ thống lưới điện, kiên cố
hóa, cao tầng hóa trường học với tổng nguồn vốn xây dựng hàng trăm tỷ đồng.
Đến nay đã có 100% xã, thị trấn đã kéo điện về đến trung tâm và trên 80% dân số
sử dụng điện sinh hoạt và sản xuất.
Tổng thu ngân sách hàng năm tăng khá cao đến năm 2008 tổng thu ngân
sách trên địa bàn đạt trên 110 tỷ đồng. Về chi ngân sách trong những năm đầu mới
thành lập huyện và cả những năm của thập niên 90 phần lớn dựa vào ngân sách
tỉnh cấp, trong những năm gần đây, một thành tựu nổi bật phản ảnh sự phát triển
của huyện, đó là: đã đáp ứng gần 60% nguồn chi thường xuyên trên địa bàn, bảo
đảm tăng thu để chi đầu tư phát triển.
Nhìn toàn cảnh bức tranh kinh tế của huyện qua 25 năm đã có sự phát triển
vượt bậc, nhất là từ khi Đảng ta tiến hành đổi mới toàn diện nền kinh tế đất nước,
tạo điều kiện cho huyện phát huy được tiềm năng, lợi thế, huy động mọi nguồn lực
của địa phương để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế và phát triển một nền kinh
6
tế của huyện năng động, hiệu quả, bền vững. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân

và hàng năm có trên 21.000 hộ đạt chuẩn gia đình văn hóa; các thủ tục lạc hậu, mê
7
tín dị đoan cơ bản được xóa bỏ. Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho công tác tuyên
truyền được đầu tư xây dựng, nâng cấp nhằm thông tin tuyên truyền các chủ trương
đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước đến nhân dân. Đầu tư nâng
cấp đài truyền thanh của huyện và đã xây dựng được 16/17 trạm truyền thanh FM
ở các xã, thị trấn; phong trào văn hóa, thề dục thể thao được duy trì và phát triển
rộng khắp các hoạt động đã hướng về cơ sở và thu hút được đông đảo nhân dân
tham gia.
Công tác chính sách xã hội với truyền thống uống nước nhớ nguồn huyện đã
quan tâm thực hiện tốt chính sách đối với người có công theo đúng quy định của
nhà nước; hiện nay toàn huyện có 1400 đối tượng, trong 25 năm qua đã xây dựng
173 ngôi nhà tình nghĩa với tổng kinh phí trên 2 tỷ đồng, tặng trên 700 sổ tiết kiệm
tình nghĩa, với số tiền trị giá gần 300 triệu đồng. Thực hiện tốt việc phụng dưỡng
chăm sóc đối với các bà mẹ Việt Nam anh hùng; xây dựng các công trình gắng liền
với lịch sử anh hùng của huyện nhà như: nhà bia tưởng niệm các liệt sĩ hy sinh
trong cuộc đấu tranh chính trị xuân Mậu Thân 1968, nhà truyền thống, nghĩa trang
liệt sĩ trị giá hàng tỷ đồng.
Công tác xóa đói, giảm nghèo luôn được chú trọng, bằng nhiều biện pháp
như: hỗ trợ về vốn, khoa học kỹ thuật, giống cây trồng, vật nuôi, đất sản xuất, đến
nay tỷ lệ hộ nghèo còn 12,59% ; hàng năm giải quyết việc làm cho hơn 3000 lao
động. Công tác chính sách dân tộc, tôn giáo được tập trung chỉ đạo, triển khai thực
hiện theo đúng chính sách của Đảng và nhà nước, cơ bản đã giải quyết đất ở, đất
sản xuất, nhà ở, nước sinh hoạt cho đồng bào theo chương trình 134 của Chính
phủ, xây dựng hệ thống lưới điện và kéo điện sinh hoạt cho đồng bào theo chương
trình 168 của Chính phủ với nguồn kinh phí hàng tỷ đồng, đầu tư xây dựng hệ
thống giao thông nội buôn, thủy lợi, bến nước, khôi phục các lễ hội truyền thống
tạo ra một diện mạo mới, khởi sắc ở các buôn đồng bào dân tộc thiểu số. Chính
sách tôn giáo được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật tạo mọi điều kiện
để các tôn giáo hoạt động theo đúng pháp luật và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng

và củng cố nhằm xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh. Đi đôi với việc phát triển
kinh tế-xã hội huyện luôn chú trọng đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng,
xây dựng Chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể vững mạnh, tập trung kiện toàn
củng cố bộ máy chính quyền từ huyện đến cơ sở nhằm phát huy được vai trò quản
lý và điều hành trên các lĩnh vực. HĐND các cấp đã có nhiều đổi mới và chuyển
biến tích cực, các Nghị quyết xây dựng phù hợp với tình hình thực tế của địa
9
phương, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân và thực hiện có hiệu quả. Năng
lực quản lý điều hành của UBND các cấp ngày một nâng cao, thực hiện tốt các
mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh; công tác cải cách
hành chính đã đem lại những kết quả bước đầu trong việc giải quyết các thủ tục
hành chính trong nhân dân, thực hiện tốt việc công khai, minh bạch các thủ tục
hành chính góp phần mở rộng dân chủ trong đời sống xã hội. Quy chế dân chủ ở cơ
sở được triển khai sâu rộng, quyền làm chủ của nhân dân, của cán bộ, công chức,
người lao động được phát huy. Các phòng ban chuyên môn thuộc UBND huyện
được sắp xếp phù hợp theo đúng quy định, phát huy được năng lực làm tham mưu
theo ngành, theo lĩnh vực. Quan tâm đầu tư xây dựng trụ sở làm việc từ huyện đến
các xã, thị trấn khang trang, đồng thời đầu tư trang bị các phương tiện kỹ thuật để
phục vụ cho công tác điều hành, quản lý ngày càng thích ứng với công nghệ thông
tin hiện đại.
Công tác xây dựng Đảng luôn được xác định là nhiệm vụ then chốt, quan
tâm lãnh đạo xây dựng tổ chức Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức. Tổ
chức tốt việc quán triệt, triển khai các nghị quyết của Đảng các cấp, nhằm cụ thể
hóa thành các chương trình hành động để đưa nhanh nghị quyết của Đảng đi vào
cuộc sống, làm tốt công tác nắm bắt tình hình tư tưởng và định hướng dư luận xã
hội theo đúng quan điểm, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật
nhà nước. Chú trọng giáo dục chủ nghĩa Mác – LêNin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, đạo
đức cách mạng, truyền thống yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc.
Chăm lo xây dựng Đảng về tổ chức đến nay toàn Đảng bộ có 57 tổ chức cơ
sở Đảng (tăng 38 tổ chức so với năm 1984), 2.604 đảng viên (tăng 2.328 đảng viên

trực tiếp là Đảng bộ tỉnh Dak Lak. Đảng bộ, quân và nhân dân các dân tộc trong
huyện đã giành được trong 25 năm qua đó chính là sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo
các quan điểm, nghị quyết của Đảng, nhất là từ khi Đảng ta đề ra đường lối đổi
mới đánh dấu bước chuyển quan trọng trong nhận thức và từ đó đã xây dựng các
Nghị quyết, Chương trình, Kế hoạch và tổ chức thực hiện có hiệu quả. Quán triệt
quan điểm của Đảng phát triển kinh tế là trọng tâm, xây dựng Đảng là then chốt,
huyện đã dành nhiều công sức, trí tuệ của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân tập trung
cho nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, nền kinh tế liên tục tăng trưởng, tốc độ tăng
trưởng bình quân trên 12%, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ
trọng nông nghiệp còn 66%, công nghiệp xây dựng tăng 12%, thương mại dịch vụ
tăng 21%; thu ngân sách bình quân hàng năm tăng trên 15%, đời sống của nhân
dân không ngừng cải thiện, phát huy được thế mạnh, tiềm năng, lợi thế của huyện,
11
các thành phần kinh tế được tạo điều kiện và khuyến khích phát triển; sự nghiệp
giáo dục – đào tạo, y tế có nhiều tiến bộ, kết cấu hạ tầng phục vụ cho kinh tế xã hội
phát triển; các chính sách an sinh xã hội được quan tâm giải quyết. Hệ thống chính
trị và công tác xây dựng Đảng luôn được kiện toàn và củng cố, xây dựng Đảng
vững mạnh chính trị, tư tưởng, tổ chức; nâng cao nhận thức, niềm tin của cán bộ,
đảng viên và nhân dân về chủ nghĩa Mác – LêNin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và con
đường đi lên xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
những thành tựu đã đạt được của 25 năm qua là cơ bản, là những động lực
để thúc đẩy sự phát triển trên các lĩnh vực của huyện trong thời kỳ mới. Tuy nhiên
những khó khăn, thách thức đang diễn ra hết sức gay gắt sẽ tác động đến việc thực
hiện các nhiệm vụ trên địa bàn huyện. Với truyền thống anh hùng và đoàn kết
Đảng bộ, quân và dân các dân tộc huyện nhà nhất định sẽ vượt qua những khó
khăn, thức thách đó để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ, chỉ tiêu quan trọng trên
các lĩnh vực từ nay đến năm 2010 như sau:
- Tập trung chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại
hóa và phát triển bền vững. Trong đó, phấn đấu giảm dần tỉ trọng nông - lâm
nghiệp từ 66% xuống còn 64% vào năm 2010, tăng tỷ trọng công nghiệp, tiểu thủ

nông dân.
Quê hương của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ở làng Sen – Xã Kim Liên - Huyện Nam
Đàn - Tỉnh Nghệ An.
Câu 6: Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước vào ngày 5 tháng 6 năm 1911, tại bến
cảng Nhà Rồng, thành phố Sài Gòn, (nay là thành phố Hồ Chí Minh), bằng đường
biển, trên con tàu La-tu-sơ Tơ-rê-vin. Bác lấy tên là Văn Ba. Nguyễn Tất Thành rời
Tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước.
Câu 7: Chủ tịch Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ thiên tài của dân tộc Việt Nam, danh
nhân văn hoá thế giới, Người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, Người lái con thuyền
Cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Cả cuộc đời hoạt
động cách mạng Bác không một chút riêng tư. Cả cuộc đời Bác hy sinh cho dân tộc
Việt Nam, cho hạnh phúc nhân loại.
Trong bảy mươi chín mùa xuân ấy, mọi hành động suy nghĩ Người đều giành
cho nhân dân, đồng bào, cho dân tộc. Khao khát được tận mắt nhìn thấy sự “bình
đẳng, bác ái” Bác đã ra đi tìm đường cứu nước vào những năm đầu của thế kỷ 20.
Ra đi rồi làm gì để sống? Đời sẽ ra sao? Bao câu hỏi của người bạn, cũng là lòng
quyết tâm vô hạn của anh thanh niên Văn Ba. Hai bàn tay và khối óc, anh Ba đã
lên đường và đã vượt qua muôn trùng khó khăn gian khổ. Thật là “ Đêm mơ nước,
ngày thấy hình của nước. Giấc ngủ trong chêm bao cũng xanh sắc biếc quê nhà”
13
Người ra đi tìm đường của nước, khi nước nhà đang chìm trong đêm dài nô lệ,
“núi sông một nửa, ruột liền chia ba…” Vậy điều đầu tiên là phải làm sao cho nước
nhà được độc lập, độc lập rồi nhân dân mới tự do. Bác Hồ là người có chí hướng
giành độc lập cho đất nước. Rời bến Nhà Rồng, lênh đênh trên biển cả mêng mông
Người đi khắp châu Mỹ, châu Phi rồi dừng lại ở châu Âu để tìm ra sự “văn minh”
“khai hoá” của “bình đẳng, bác ái”. Sau ba mươi năm bôn ba hải ngoại, Người thấy
ở đâu cũng có kẻ giàu, người nghèo, người bóc lột người, cùng khổ nhất vẫn là
người dân mất nước, dân nô lệ. Năm 1941, Người về nước, đặt chân lên mảnh đất
yêu thương của Tổ quốc. Từ đó Cách mạng nước ta có người “ngôi sao” sáng trên
bầu trời soi sáng con đường đấu tranh giải phóng dân tộc. Dưới sự lãnh đạo của tổ

14
kêu gọi toàn dân đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào. Một lần nữa dân tộc ta,
nhân dân ta lại cùng hành quân ra trận. Bác lại cùng chúng cháu hành quân, quét
hết lũ giặc cướp nước hung hăng nhất thời đại. Kháng chiến chống Mỹ tuy gay go
ác liệt nhưng với niềm tin của Bác, ngày Nam - Bắc sum họp đã đến. Non sông thu
về một mối. Nhân dân ta hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Ngày
vui đại thắng, chúng con vẫn có Bác mặc dù Bác đã đi xa. Bác vẫn có trong ngày
vui đại thắng, ba mươi năm cách mạng Việt Nam đã có Bác dẫn lối chỉ đường thì
ngày vui này Bác vẫn tươi cười trên khán đài, trong lòng mỗi người dân Việt Nam.
Chủ tịch Hồ Chí Minh một lòng vì dân tộc, Người có ham muốn tột bậc là “nước
nhà được độc lập, dân ta được tự do”. Trên một trăm năm đất nước ta bị đô hộ, bị
bóc lột, bị cướp hết cỏ cây, nòi giống tổ tiên. Dưới thời đại Hồ Chí Minh dân tộc ta
mới tiến lên ngang tầm thế giới, sánh vai với cường quốc năm châu.
Ở Bác Hồ, tình thương yếu bao la vô bờ bến, “ Bác sống như trời đất của ta, yêu
từng ngọn lúa mỗ cành hoa, tự do cho mỗi đời nô lệ, sữa để em thơ luạ tặng già”.
Thật vây, tình cảm của Bác luôn giành cho mỗi con người Việt Nam, trong đó có
thế hệ trẻ. Thanh, thiếu niên, nhi đồng là đối tượng được Bác thường xuyên quan
tâm dạy dỗ nhất. Bởi vì “tuổi trẻ là thế hệ tương lai” mà đào tạo thế hệ trẻ là nhiệm
vụ cực kỳ quan trọng. Chúng ta đã từng nghe câu chuyên quả táo Bác Hồ, tình
thương của Bác thật bao la. Trong lao tù Người không sao quên được tiếng trẻ
trong nhà pha. Trong kháng chiến gian khổ luôn giành mọi tình cảm cho thiếu nên
nhi đồng. “Trung thu trăng sáng như gương, Bác Hồ ngắm cảnh nhớ thương nhi
đồng. Sau đây Bác viết mấy dòng, gửi cho các cháu tỏ lòng nhớ thương.” Từ tình
thương của Bác thiếu niên nhi đồng không bao giờ quên lời Bác dạy, luôn học tập
thật tốt xứng đáng là con ngoan trò giỏi, là cháu ngoan Bác Hồ. Được học tập và
làm theo tấm gương đạo đức của Người là niệm vinh dự tự hào của mỗi chúng ta.
Bác Hồ đã đi xa nhưng tình cảm Người dành cho bao thế hệ người Việt Nam vẫn
ấm áp như ngày nào.
Chủ tịch Hồ Chí Minh suốt cuộc đời không gợn chút riêng tư, cả cuộc đời vì nước
vì non. Non sông đất nước đã sinh ra Người và Người đã làm rạng rỡ non sông đất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status