Đề cơng ôn thi tốt nghiệp Môn Ngữ văn 12(GV-HS tham khảo )
Phần văn học Việt nam
Cõu 1: 1.Tiu s H Chớ Minh :
- Sinh nm 1890 ti Kim Liờn, Nam n, Ngh An.
- Lỳc nh, hc Hỏn hc nh. Ln lờn, theo cha vo kinh, hc trng
Quc hc Hu. Mt thi gian, Ngi dy hc trng Dc Thanh (Phan
Thit)
- Nm 1911, Bỏc ra i tỡm ng cu nc t Bn Nh Rng
- 1941, sau 30 nm bụn ba tỡm ng cu nc, Ngi tr v Vit Nam
thnh lp Mt trn Vit Minh, trc tip lónh o cỏch mng Vit Nam
- 1942-1943, ngi b bt giam ti nh tự Tng Gii Thch khi sang õy
tranh th s vin tr ca Trung Quc. Sau 13 thỏng, Ngi c tr t do
- Ngy 2/9/1945, ti Qung trng Ba ỡnh, Ngi c Tuyờn ngụn c lp,
khai sinh nc Vit Nam dõn ch cng ho.
- Nm 1946, Ngi c bu lm Ch tch nc. T õy, Ngi ó lónh o
nhõn dõn v CM Vit Nam ginh thng li trong hai cuc khỏng chin chng
Phỏp v chng M.
-2-9-1969, ch tch H Chớ Minh qua i
2. Quan im sỏng tỏc vn hc ca Ch tch H Chớ Minh
-H Chớ Minh xem vn ngh l mt ht ng tinh thn phong phỳ v
phc v cú hiu qu cho s nghip cỏch mng. Ngi ó xỏc nh v trớ v
vai trũ to ln ca ngh s trong s nghip u tranh gii phúng dõn tc v
phỏt trin x hi. Tinh thn ú ó c Ngi núi lờn trong bi th Cm
tng c Thiờn gia thi:
Nay trong th nờn cú thộp
Nh th cng phi bit xung phong
Cht thộp õy chớnh l xu hng cỏch mng v tin b v t tng l
cm hng u tranh xó hi tớch cc ca th ca. Quan im ca H Chớ minh
l s tip th, k tha quan im dựng vn chng lm v khớ chin u
trong truyn thng dõn tc v c nõng cao trong thi i cỏch mng vụ
sn. Trong bc th gi cỏc ha s trong dp trin lóm hi ho ton quc
chiến.
+ Di chúc.
- Đặc điểm: giàu chất trí tuệ và tính luận chiến, suốt ½ thế kỉ tấn công
trực diện kẻ thù bằng sức mạnh và ngòi bút. . Mạch văn sắc sảo,thuyết phục.
2. Truyện và kí:
- Tác phẩm tiêu biểu:
Lời than vãn của bà Trưng Trắc, Đồng tâm nhất trí, Vi hành, Những trò lố
hay là Va ren và Phan Bội Châu, Con rùa, Giấc ngủ 10 năm, Nhật kí chìm
tàu…
- Mục đích: Dựa vào sự thật tai nghe mắt thấy và cả hư cấu nghệ thuật
để vạch trần tội ác, bản chất tàn bạo xảo trá của thực dân Pháp và tay sai,
đồn thời đề cao tấm gương đấu tranh yêu nước của nhân dân.
2
- Đặc điểm:
+ Nội dung cô đọng, cốt truyện sáng tạo, kết cấu độc đáo.
+ Mỗi tác đều có tư tưởng riêng, hấp dẫn, sáng tỏ, ý tưởng thâm thuý,kín
đáo, chất trí tuệ toả trong hình tượng và phong cách giàu tính hiện đại.
3. Thơ ca
- Là lĩnh vựcc nổi bật nhất trong sáng tạo văn chương Hồ Chí Minh
- Tác phẩm chính:
+ Nhật kí trong tù: 133 bài. Đây là tập thơ tiêu biểu nhất trong di
sản thơ ca HCM. , sáng tác khi người bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt
giam 1942-1943. Nội dung : phê phán bộ mặt nhà tù Tưởng Giứoi Thạch và
xã hội Trung Quốc thời đó, là bức chân dung tự họa thể hiện rõ vẻ đẹp tâm
hồn HCM. Nghệ thuật : sắc thái cổ điển ( bút ppháp chấm phá ước lệ, thể thơ
thất ngôn tứ tuyệt Đường luật…), tinh thần thời đại ( hình tượng thơ luôn có
sự vận động…)
+ Thơ Hồ Chí Minh: 86 bài.
+ Thơ chữ Hán Hồ Chí Minh: 36 bài.
- Nội dung: + Thể hiện lòng yêu thương con người sâu nặng, khát vọng đấu
thực, ngôn ngữ hùng hồn, đầy cảm xúc.
Câu 5: Nêu đối tượng, mục đích hướng tới của bản “Tuyên ngôn Độc
lập”?
• Đối tượng:
-Đồng bào cả nước.
-Nhân dân thế giới.
-Đặc biệt là thực dân Pháp, Mĩ, bởi chúng có ý đinh cướp nước ta.
• Mục đích: (Khẳng bác thể)
-Khẳng định quyền độc lập tự do của dân tộc Việt Nam
-Bác bỏ những luận điệu xảo trá của Pháp và Mĩ trước dư luận Quốc tế
-Thể hiện ý chí gang thép của người Việt Nam, quyết tâm bảo vệ nền độc
lập dân tộc bằng mọi giá.
Câu 6: Nguyễn Ái Quốc đã vạch trần luận điệu của thực dân Pháp như
thế nào qua Tuyên ngôn Độc lập
1. Cơ sở pháp lý và chính nghĩa của bản Tuyên ngôn Độc lập
- Là khẳng định quyền bình đẳng, quyền được sống, quyền tự do và quyền
mưu cầu hạnh phúc của con người. Đó là những quyền không ai có thể xâm
phạm được; người ta sinh ra phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền
lợi.
- Hồ Chủ Tịch đã trích dẫn 2 câu nổi tiếng trong 2 bản Tuyên ngôn của Mĩ và
Pháp, trước hết là để khẳng định Nhân quyền và Dân quyền là tư tưởng lớn,
cao đẹp của thời đại, sau nữa là “suy rộng ra…” nhằm nêu cao một lý tưởng
4
về quyền bình đẳng, quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do của các
dân tộc trên thế giới.
- Cách mở bài rất đặc sắc, từ công nhận Nhân quyền và Dân quyền là tư tưởng
thời đại đi đến khẳng định Độc lập, Tự do, Hạnh phúc là khát vọng của các
2- luật pháp dã man, chia để trị,
3- chém giết những chiến sĩ yêu nước của ta,
4- ràng buộc dư luận và thi hành chính sách ngu dân,
5
5- đầu độc bằng rượu cồn, thuốc phiện.
- Năm tội ác lớn về kinh tế:
1- bóc lột tước đoạt,
2- độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng,
3- sưu thuế nặng nề, vô lý đã bần cùng nhân dân ta,
4- đè nén khống chế các nhà tư sản ta, bóc lột tàn nhẫn công nhân
ta,
5- gây ra thảm họa làm cho hơn 2 triệu đồng bào ta bị chết đói năm
1945.
- Chúng lên tiếng bảo hộ Việt Nam những thực tế trong vòng 5 năm (1940
– 1945) thực dân Pháp đã hèn hạ và nhục nhã “bán nước ta 2 lần cho Nhật”.
- Chúng rêu rao tự do bình đẳng nhưng thực tế lại cướp nước ta, áp bức
đồng bào ta, dìm các cuộc khởi nghĩa của ta trong bể máu.Thẳng tay khủng bố
Việt Minh; “thậm chí đến khi thua chạy, chúng còn nhẫn tâm giết nốt số đông
tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng”.
- Chúng khoe công khai hóa VN nhưng thực tế lại đầu độc dân ta bằng chính
sách ngu dân, rượu cồn, thuốc phiện.
- Chúng tuyên bố Đông Dương là thuộc địa của chúng, nay phải trở về tay
chúng nhưng từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật chứ
không phải thuộc địa của Pháp nữa. Nhân dân ta đã nổi dậy giành chính quyền
khi Nhật hàng Đồng minh. Như vậy. chúng ta đã lấy lại VN từ tay Nhật
chứ ko phải từ tay Pháp. Luận điểm này vô cùng quan trọng về mặt pháp lí
dẫn tới sự phủ nhận triệt đề mọi đặc quyền, đặc lợi của thực dân Pháp ở VN.
Hệ thống lí lẽ và dẫn chứng ở trên đã vạch ra một cách sâu sắc bản chất
của thực dân Pháp: giả dối, phản trắc, lọc lừa, có tội chứ ko có công với người
VN.
trong văn nghệ dân tộc”? (Liên hệ với hoàn cảnh lịch sử đất nước, hoàn
cảnh gia đình nhà thơ)
1. Nêu vấn đề
- Đánh giá so sánh Nguyễn Đình Chiểu là:
+ Ngôi sao có ánh sáng khác thường: ánh sáng đẹp nhưng chưa quen nhìn nên
khó thấy
+ Phải chăm chú nhìn mới thấy và càng nhìn càng thấy sáng: phải dày công
nghiên cứu thì mới thấy.
Luận đề: Nguyễn Đình Chiểu là nhà thơ yêu nước mà các tác phẩm của ông
là những trang bất hủ ca ngợi cuộc chiến đấu oanh liệt của nhân dân ta, một
tác giả cần được nghiên cứu đề cao hơn nữa.
Tác giả đã vào đề một cách trực tiếp, thẳng thắn, độc đáo: nêu vấn đề một
cách trực tiếp và lí giải nguyên nhân với cách so sánh cụ thể, giàu tính hình
tượng. Đó cũng là cách đặt vấn đề khoa học, sâu sắc vừa khẳng định được vị
trí của Nguyễn Đình Chiểu vừa định hướng tìm hiểu thơ văn Nguyễn Đình
Chiểu .
2. Giải quyết vấn đề:
a. Luận điểm 1: Cuộc đời, con người và quan niệm sáng tác thơ văn
của Nguyễn Đình Chiểu.
7
- Hoàn cảnh sống: nước mất nhà tan, mang thân phận đặc biệt: mù cả hai mắt.
- Con người: nhà nho yêu nước, vì mù mắt nên hoạt động chủ yếu bằng thơ
văn; nêu cao tấm gương anh dũng, khí tiết, sáng chói về tinh thần yêu nước
và căm thù giặc sâu sắc.
- Quan niệm sáng tác: dùng văn chương làm vũ khí chiến đấu, ca ngợi đạo
đức, chính nghĩa.
Quan niệm văn chương của Nguyễn Đình Chiểu hoàn toàn thống nhất với
quan niệm về lẽ làm người.
b. Luận điểm 2: Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu.
- Tái hiện một thời đau thương, khổ nhục mà vĩ đại của đất nước, nhân
và trong cuộc kháng chiến chống Mĩ
- Tỏ niềm tiếc thương thành kính.
Vừa có tác dụng khắc sâu, vừa có thể đi vào lòng người niềm xúc cảm thiết
tha.
Câu 9 : Ý nghĩa nhan đề bài thơ Tây Tiến của nhà thơ Quang Dũng
-Tây Tiến là một đơn vị quân đội thành lập đầu năm 1947 có nhiệm vụ
phối hợp với bộ đội Lào, bảo vệ biên giới Việt – Lào và đánh tiêu hao lực
lượng quân đội Pháp ở Thượng Lào cũng như miền tây Bắc Bộ Việt Nam. Địa
bàn đóng quân và hoạt động của đoàn quân Tây Tiến khá rộng, bao gồm các
tỉnh Sơn La, Lai Châu, Hòa Bình, miền tây Thanh Hóa và cả Sầm Nưa ( Lào).
Chiến sĩ Tây Tiến phần đông là thanh niên Hà Nội, trong đó có nhiều học
sinh, sinh viên chiến đấu trong những hoàn cảnh rất gian khổ, vô cùng thiếu
thốn về vật chất, bệnh sốt rét hoành hành dữ dội. Tuy vậy, họ sống rất lạc
quan và chiến đấu rất dũng cảm. Đoàn quân Tây Tiến, sau một thời gian hoạt
động ở Lào, trở về Hòa Bình thành lập trung đoàn 52.
-Cuối năm 1948, Quang Dũng chuyển sang đơn vị khác. Rời xa đơn vị
cũ chưa bao lâu, tại Phù Lưu Chanh, Quang Dũng viết bài thơ Nhớ Tây
Tiến.Tây Tiến có nghĩa là tiến về miền Tây, nơi đoàn quân đang dốc hết sức
mình bảo vệ tổ quốc và giúp sức cho đất nước bạn.
Câu 10: Con đường hành quân gian khổ của binh đoàn Tây tiến được
Quang Dũng miêu tả như thế nào? Phân tích kĩ những biện pháp nghệ
thuật đặc sắc.
Bức tranh thiên nhiên ở miền Tây lần lượt hiện ra qua khung cảnh, địa
bàn hoạt động. Đoàn binhTây Tiến phải trải qua một đoạn đường hiểm trở
trên một địa bàn rộng với các địa danh Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông, Mai
Châu
Dốc lên khúc khuỷu , dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời.
lọc những nết tiêu biểu của từng người lính để tạc nên bức tượng đài tập thể
mang tinh thần chung của đoàn quân.
+ Vẻ đẹp hào hoa
- Nếu người lính trong Đồng chí (Chính Hữu), Nhớ (Hồng Nguyên)Cá nước,
Tố Hữu; Đồng chí, Chính Hữu mang dáng dấp của những người nông dân ra
trận, chất phác, hồn nhiên , ra đi từ mái tranh gốc rạ, bến nước cây đa ( ), thì
người lính của binh đoàn Tây Tiến hầu hết là các chàng trai Hà thành thuở ấy.
Họ là những thanh niên trí thức mang trong mình sự sôi nổi, lãng mạn và một
bầu nhiệt huyết đối với quê hương đất nước. Họ khao khát được khẳng định
mình trong môi trường khốc liệt của chiến tranh (thực chất đây là một sự ý
thức sâu sắc về mình ).
10
- Sự khác biệt ấy còn xuất phát từ chất tâm hồn của chính Quang Dũng. Cái
chơi vơi, thăm thẳm, xa khơi, oai linh thác gầm thét, oai hùm, của cảnh và
người trong Tây Tiến cũng là những giai điệu, những sắc màu của thế giới
tâm hồn Quang Dũng. Chính vì thế, nhà thơ đặc biệt đồng điệu đồng cảm với
chất lính Tây Tiến hào hoa, phóng khoáng, nên thơ.
+ Vẻ đẹp giản dị mà kiêu hùng
- Hình tượng người lính Tây Tiến mang vẻ đẹp hào hùng, lẫm liệt - có bóng
dáng của các tráng sĩ xưa - coi cái chết nhẹ nhàng, thanh thản: Chiến trường đi
chẳng tiếc đời xanh/áo bào thay chiếu anh về đất/Sông Mã gầm lên khúc độc
hành nhưng cũng rất thời đại, rất mới mẻ.
-Hình ảnh người lính Tây Tiến hiện lên một cách chân thực, gần gũi trong nét
hồn nhiên , tinh nghịch (Người lính trong Đồng chí của Chính Hữu không có
dáng dấp tráng sĩ mà gần với Văn tế NSCG ). Họ là những người chiến sĩ của
chủ nghĩa anh hùng cách mạng, bước vào cuộc chiến khốc liệt với tư thế
ngang tàng, bất chấp hiện thực nghiệt ngã: "Heo hút cồn mây súng ngửi
trời" "Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc - Quân xanh mâu lá dữ oai hùm";
"Chiến trường đi chằng tiếc đời xanh". Nhưng điều làm nên sức mạnh thực sự
của người lính Tây Tiến là nguồn lực tinh thần. Ý chí chiến đấu quên mình,
vẻ oai hùm, phóng túng, mà luôn thăng hoa trong chất tâm hồn, trong từng
giai điệu cảm xúc của người lính giữa cảnh tàn khốc của chiến tranh. Cái nhìn
của nhà thơ cũng là cái nhìn từ đôi mắt mộng mơ của người lính. Đôi mắt ấy
đã cảm nhận được về đẹp đầy chất thơ của thiên nhiên, con người, cuộc sống
miền Tây Tổ quốc: "Người đi Châu Mộc chiều sương ấy - Có thấy hồn lau
nẻo bến bờ - Có nhớ dáng người trên độc mộc - Trôi dòng nước lũ hoa đong
đưa". Cũng từ cái nhìn ấy, thế giới của cái đẹp, của thi ca, nhạc hoạ, của tình
yêu và tình người luôn hiện hữu, bất chấp thực tại đầy gian nan, khắc nghiệt,
bất chấp cái chết luôn đồng hành: "Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa - Kìa em
xiêm áo tự bao giờ - Khèn lên man điệu nàng e ấp - Nhạc về Viên Chăn xây
hồn thơ"; "Mắt trừng gửi mộng qua biên giới - Đêm mơ Hà Nội dáng kiều
thơm" Cũng bằng cảm quan đầy chất lãng mạn, lí tưởng hoá, sự hi sinh của
những người lính vô danh đã được biểu hiện bằng hình tượng thơ mang vẻ
đẹp thiêng liêng, kì vĩ: "Áo bào thay chiếu anh về đất -Sông Mã gầm lên khúc
độc hành".
Câu 12: 1. Tiểu sử Tố Hữu:
- Sinh năm 1920 - Là đứa con của “Huế đẹp và thơ”, như ông viết:
“Hương Giang ơi, dòng sông êm,
Qua tim ta, vẫn ngày đêm tự tình”
(Bài ca quê hương)
- 19 tuổi đã trở thành đảng viên Đảng Cộng sản, tiếp tục hoạt động bí mật
chống Pháp - Nhật.
- Sau Cách mạng, ông phụ trách công tác Văn nghệ, là cán bộ cao cấp của
Đảng và Nhà nước.
- Tố Hữu là nhà thơ lớn của đất nước ta. Hơn nửa thế kỷ làm thơ, năm 70
tuổi ông viết:
12
“Bạc phơ mái tóc, mây đưa mộng
Thanh bạch hồn thơ, nắng nở hoa”.
(“Bảy mươi” – 10/1990)
(người ở lại nhắn gửi hỏi “mình” (người về). Cảnh tiễn đưa, cảnh phân ly
ngập ngừng, lưu luyến bâng khuâng: “Tiếng ai tha thiết bên cồn… áo chàm
đưa buổi phân li…” Có 8 câu hỏi liên tiếp (đặt ở câu 6): “Có nhớ ta… có nhớ
không… có nhớ những ngày… có nhớ những nhà… có nhớ núi non… mình
13
có nhớ mình…” Sự láy đi láy lại diễn tả nỗi niềm day dứt khôn nguôi của
người ở lại. Bao kỷ niệm sâu nặng một thời gian khổ như vương vấn hồn
người:
Các câu 8 hầu như ngắt thành 2 vế tiểu đối 4/4, ngôn ngữ thơ
cân xứng, hài hòa, âm điệu thơ êm ái, nhịp nhàng, nhạc điệu ngân nga thấm
sâu vào tâm hồn người, gợi ra một trường thương nhớ, lưu luyến mênh mông.
“Mình” và “ta” trong ca dao, dân ca là lứa đôi giao duyên tình tự. “Mình”,
“ta” đi vào thơ Tố Hữu đã tạo nên âm điệu trữ tình đậm đà màu sắc dân ca,
nhưng đã mang một ý nghĩa mới trong quan hệ: người cán bộ kháng chiến với
đồng bào Việt Bắc; tình quân dân, tình kẻ ở người về.
2. Sáu mươi tám câu tiếp theo là người về trả lời kẻ ở lại. Có thể nói
đó là khúc tâm tình của người cán bộ kháng chiến, của người về. Bao trùm nỗi
nhớ ấy là “như nhớ người yêu” trong mọi thời gian và tràn ngập cả không
gian:
- Nhớ cảnh Việt Bắc, cảnh nào cũng đầy ắp kỷ niệm:
- Nhớ con người Việt Bắc giàu tình nghĩa cần cù gian khổ: Điều đáng nhớ
nhất là nhớ người ở lại rất giàu tình nghĩa, “đậm đà lòng son”:
Nhớ cảnh 4 mùa chiến khu. Nỗi nhớ gắn liền với tình yêu thiên nhiên, tình
yêu sông núi, đầy lạc quan và tự hào. Nhớ cảnh nhớ người, “ta nhớ những hoa
cùng người”. Nhớ mùa đông “Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi”. Nhớ “Ngày
xuân mơ nở trắng rừng”. Nhớ mùa hè “Ve kêu rừng phách đổ vàng”. Nhớ
cảnh “Rừng thu trăng rọi hòa bình”. Nỗi nhớ triền miên, kéo dài theo năm
tháng.
- Nhớ chiến khu oai hùng:
- Nhớ con đường chiến dịch:
tổ quốc độc lập tự do.
Câu 15 : Hình ảnh Đất Nước trong bài thơ cùng tên của Nguyễn Khoa
Điềm
1. Đất nước - cội nguồn dân tộc
-Đất nước có đã lâu rồi từ những “ngày xửa ngày xưa mẹ thường hay kể”.
Đất nước gắn liền với mĩtục thuần phong, với cổ tích truyền thuyết “Đất nước
bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn - Đất nước lớn lên khi dân mình biết
trồng tre mà đánh giặc – Tóc mẹ thì bới sau đầu – Cha mẹ thương nhau bằng
gừng cay muối mặn”.
- Đất nước gắn bó với những cái bình dị thân thuộc quanh ta:
-Đất nước là “nơi ta hò hẹn”, là “nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ
thầm”, là “nơi anh đến trường” là “nơi em tắm”…
- Đất nước gắn liền với dân ca “con chim phượng hoàng bay về hòn núi
bạc…, con cá ngư ông móng nước biển khơi”, gắn liền với huyền thoại “Trăm
trứng” thiêng liêng:
- Đất nước trường tồn theo thời gian đằng đẵng, trải rộng trên một “không
gian mênh mông”. Yêu thương biết bao, bởi lẽ “Đất nước là nơi dân mình
đoàn tụ”, là quê hương xứ sở ngàn đời:
- Đất nước lâu đời “ngày xửa ngày xưa”, Đất nước hôm nay, và Đất nước
15
mai sau. Một niềm tin cao cả thiêng liêng:
Đất nước là của mọi người, trong đó có một phần của “anh và em hôm
nay”. Đất nước mỗi ngày một tốt đẹp vững bền, trở nên “vẹn tròn to lớn”. Đất
nước hình thành và trường tồn bằng máu xương của mỗi chúng ta. Tình yêu
nước là sự “gắn bó và san sẻ”. Đây là một trong những đoạn thơ tâm tình sâu
lắng, hay nhất trong bài thơ nói về tình yêu đất nước:
2. Đất nước của Nhân dân - Đất nước của ca dao thần thoại
- Đất nước hùng vĩ. Giang sơn gấm vóc. Ý tưởng ấy, niềm tự hào ấy đã
được nhiều thi sĩ bao đời nay nói đến thật hay, thật xúc động. Nguyễn Khoa
Điềm nói về ý tưởng ấy niềm tự hào ấy rất thơ và rất độc đáo. Tượng hình,
Điềm đã góp cho đề tài Đất nước một bài thơ hay, ý vị đậm đà.
Câu 16 : Vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ trong bài thơ Sóng của Xuân
Quỳnh:
Sóng của Xuân Quỳnh là tiếng nói của một tâm hồn thiếu nữ đang trong
độ tuổi hai mươi, tiếng nói của một trái tim chân thành và đam mê, luôn rực
cháy chất trẻ trung mãnh liệt, khao khát được sống hết mình và yêu hết mình:
- Ba hình ảnh sông, sóng, bể như là những chi tiết bổ sung cho nhau :
sông và bể làm nên đời sóng, sóng chỉ thực sự có đời sống riêng khi ra với
biển khơi mênh mang thăm thẳm. Tất cả các khía cạnh tương phản dữ dội -
dịu êm, ồn ào - lặng lẽ tạo nên một cái nhìn bao quát về sóng. Mạch sóng
mạnh mẽ như bứt phá không gian chật hẹp để khát khao một không gian lớn
lao. Hành trình tìm ra tận bể chất chứa sức sống tiềm tàng, bền bỉ để vươn tới
giá trị tuyệt đích của chính mình.
- Trên hành trình ấy, điểm xuất phát của sóng tưởng chừng đã đưọc lý
giải rõ ràng: sóng bắt đầu từ gió. Nhưng rồi những băn khoăn cứ nối tiếp cho
đến lúc không thể giải đáp (và cũng không cần giải đáp) bằng lý trí, đó cũng là
lúc tầng tầng lớp lớp nghĩa của sóng hiện ra : con sóng của biển khơi tạo ra
sóng thơ, con sóng thơ dào dạt của tâm hồn làm xuất hiện con sóng của tình
yêu bất tận. Và khi đã thành sóng tình thì không bao giờ có thể lý giải được
khi nào ta yêu nhau? Những liên tưởng điệp trùng dào dạt đã nối kết được con
người với không gian biển khơi .
- Gắn với thế giới riêng tư của Anh và Em là cặp hình ảnh sóng - bờ.
Con sóng Xuân Quỳnh sâu kín, tinh tế trong một nỗi nhớ cháy lòng của tình
yêu. Nỗi nhớ gói gọn trong thời gian của một ngày đêm nhưng đủ sức dồn nén
dung lượng tình yêu của cả một đời người. Nỗi nhớ không chỉ có mặt trong
thời gian được ý thức mà còn gắn với tiềm thức - thời gian trong mơ. Vị ngọt
ngào mê đắm của tình yêu lan tỏa trong cách nói nghịch lý trong mơ còn thức.
Thế giới của Anh và Em không giới hạn chiều dài Bắc - Nam, không khoanh
vùng địa bàn mà nơi nào cũng có nỗi nhớ thường trực của tình yêu vĩnh viễn.
Xuân Quỳnh đã tiếp nhận nỗi nhớ ấy bằng tất cả sự nhạy cảm của lứa tuổi đôi
đẩy mạnh mẽ những cách tân nghệ thuật.
- Là một sự đột phá cho văn minh nhân loại⇒ Thanh Thảo đã từng viết : «
Lorca là nhà thơ của những giấc mơ, của những linh cảm nhoi nhói, một nhà
thơ có thể biến những giấc mơ thành nhịp điệu, có thể biến những linh cảm
thành ngôn từ. Lorca siêu thực một cách tự nhiên, và hiện thực một cách tự
nhiên » (Lorca trong tôi – Mãi mãi là bí mật, NXB Lao động, 2004).
Câu 18 : Phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân
Nguyễn Tuân có một phong cách nghệ thuật rất độc đáo và sâu sắc.
-Trước Cách mạng tháng Tám, phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân có
thể thâu tóm trong một chữ "ngông"Thể hiện phong cách này, mỗi trang viết
18
của Nguyễn Tuân đều muốn chứng tỏ tài hoa uyên bác. Và mọi sự vật được
miêu tả dù chỉ là cái ăn cái uống, cũng được quan sát chủ yếu ở phương diện
văn hoá, mĩ thuật.Ông đi tìm cái đẹp của thời xưa còn vương sót lại và ông gọi
là Vang bóng một thời.
-Sau Cách mạng, phong cách Nguyễn Tuân có những thay đổi quan
trọng . Ông không đối lập giữa quá khứ, hiện tại và tương lai.Văn Nguyễn
Tuân, vừa đĩnh đạc cổ kính, vừa trẻ trung hiện đại. Nguyễn Tuân học theo
"chủ nghĩa xê dịch". Vì thế ông là nhà văn của những tính cách phi thường,
của những tình cảm, cảm giác mãnh liệt, của những phong cảnh tuyệt mĩ, của
gió, bão, núi cao rừng thiêng, thác ghềnh dữ dội Ông vẫn tiếp cận thế giới,
con người thiên về phương diện văn hóa nghệ thuật, nghệ sĩ, nhưng giờ đây
ông còn tìm thấy chất tài hoa nghệ sỹ ở cả nhân dân đại chúng. Còn giọng
khinh bạc thì chủ yếu chỉ là để ném vào kẻ thù của dân tộc hay những mặt tiêu
cực của xã hội.
-Nguyễn Tuân cũng là một con người yêu thiên nhiên tha thiết. Ông có
nhiều phát hiện hết sức tinh tế và độc đáo về núi sông cây cỏ trên đất nước
mình. Phong cách tự do phóng túng và ý thức sâu sắc về cái tôi cá nhân đã
khiến Nguyễn Tuân tìm đến thể tuỳ bút như một điều tất yếu. Nguyễn Tuân
còn có đóng góp không nhỏ cho sự phát triển của ngôn ngữ văn học Việt
Câu 20 : Hình tượng người lái đò sông Đà qua sáng tạo nghệ thuật độc
đáo của Nguyễn Tuân:
-Ông lão lái đò, đơn độc trên chiếc đò nhỏ, xông pha vào một trận đồ
bát quái của sông Đà . Những con sống dồn dập lao tới, xiết mạnh qua
những tảng dá nửa nôỉ nửa chìm sôi réo lên , bắn tung bọt nước vào con đò
nhỏ , nhưng con đò với người lái đò cùng những động tác nhanh nhẹn , chính
xác đến từng li từng tí đã khéo léo chèo chống luồn lách qua từng tảng đá
ngầm , từng con nước xiết , từng cái hút mà nếu lỡ lọt vào là lập tức bị cuốn
thẳng ngay vào lòng sông rồi bị bao khối đá , bao luồng nước xâu xé để rồi lúc
nổi nên phía hạ lưu chỉ còn những mảnh võ cũng với một nỗi khiếp sợ bao
trùm lên dòng sông .
-Đơn phương độc mã chiến đấu với thủy quái Đà Giang , ông lái đò
không những không cảm thấy mệt mỏi mà ông lại càng minh mẫn, càng hào
hứng , thích thú và khoái chí mỗi khi kẻ thù của mình bị rớt lại đằng sau
Nhưng sông Đà vẫn chưa tung hết thủ đoạn , nó ra sức chảy xiết , cho nổi nên
một trận điạ đá chìm nổi tiềm ẩn bao mưu đồ thâm độc .Nhưng ông lái đò vẫn
bình tĩnh , bằng những động tác thuần thục , với suy nghĩ quyết đoán, quả
quyết , ông dần lấy thế chủ động và từ từ tiến vào trận đồ bát quái ngũ hành
_đá ngầm mà con sông Đà dã giắng sẵn chỉ chừo ông vào là ra tay hạ thủ …
-Lúc này không thể dùng sức đấu tay đôi như trước nữa mà bây giờ nếu
không có chiến thuật đối phó kịp thời thì sẽ thua trận và sẽ bị con thủy quái
Đà Giang nuốt chửng . Một lần nữa , ông lái đò lại thể hiện cho con thủy quái
kia thấy ông là người không dễ gì chịu khuất phục . Con sông réo lên ùng ục ,
hiện lên ba cưả đá . Trong ba cửa thạch môn đó chỉ có duy nhất một của sinh,
20
còn lại hai cửa tử kia lỡ họa họa đi vào là sẽ vĩnh viên không còn lối ra .Thế
nhưng thật kỳ là , ông lái đò luồn lách một hồi rồi đi thẳng vào cửa sinh trước
sự tức giận cảu thủy quái . Thủy quái càng tức giận lồng lên khiến mặt sông
đỏ ngầu sủi bọt , nố tiếp tục dâng đá tăng sóng . Không thể ẩn nấp tấn công du
kích như trước nữa , lần này nó hung hãn bao vậy thập diện rồi từ bốn
Nét đặc sắc trong sáng tác của ông là ở sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí
21
tuệ và tính trữ tình, giữa nghị luận sắc bén với suy tư đa chiều được tổng hợp
từ vốn kiến thức phong phú về triết học, văn hóa, lịch sử, địa lí,… Tất cả được
thể hiện qua lối hành văn hướng nội, súc tích, mê đắm và tài hoa.
Câu 22: Hình ảnh sông Hương qua cái nhìn đa chiều của Hoàng Phủ
Ngọc Tường
1. Vẻ đẹp sông Hương qua cảnh sắc thiên nhiên :
Khác với nhiều con sông “sông Hương là thuộc về một thành phố duy nhất”.
Nghĩa là sông Hương gắn liền với Huế.Điểm nhìn nghệ thuật của bài thơ là
sông Hương.
+ Sông Hương ở đầu nguồn (thượng nguồn):Tác giả miêu tả sông
Hương ở đầu nguồn với sức sống mãnh liệt, hoang dại nhưng cũng dịu dàng
và say đắm > “Rừng già đã hun đúc cho nó một bản lĩnh gan dạ, một tâm
hồn tự do và trong sáng”. Dòng sông đã được thổi bằng ngọn gió tâm hồn dào
dạt nhạy cảm, liên tưởng tự do để càng mạnh mẽ hơn, đắm say hơn ở địa phận
thượng nguồn.
+ Sông Hương ở đồng bằng:
- Sông Hương được thay đổi về tính cách: “Sông như chế ngự được bản năng
của người con gái” để “mang một sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ, trở thành người
mẹ phù sa của một vùng văn hóa xứ sở”
- Sông Hương lại có vẻ đẹp trầm mặc chảy dưới chân những rừng thông u tịch
với những lăng mộ âm u mà kiêu hãnh của các vua chúa triều Nguyễn.
-> Đó là vẻ đẹp mang màu sắc triết lí, cổ thi khi đi trong âm hưởng ngân nga
của tiếng chuông chùa Thiên Mụ, có vẻ đẹp “vui tươi” khi đi qua những bãi
bờ xanh biếc vùng ngoại ô Kim Long, có vẻ đẹp “mơ màng trong sương khói”
khi nó rời xa thành phố để đi qua những bờ tre, lũy trúc và những hàng cau
thôn Vĩ Dạ.
+ Đoạn tả sông Hương khi đi qua thành phố đã gây được nhiều ấn
tượng:
- Thế kỉ XVIII, nó vẻ vang soi bóng kinh thành Phú Xuân, gắn liền với tên
tuổi của người anh hùng Nguyễn Huệ.
- Nó đọng lại đến bầm da, tím máu “nó sống hết lịch sử bi tráng của thế kỉ
XIX”.
- Nó đi vào thời đại của Cách mạng tháng Tám bằng những chiến công rung
chuyển.
- Nó chứng kiến cuộc nổi dậy tổng tiến công tết Mậu Thân 1968. Sông Hương
đã gắn liền với lịch sử của Huế, của dân tộc.
=>Bài bút ký kết thúc bằng cách lí giải tên của dòng sông; sông Hương,
sông thơm. Cách lí giải bằng một huyền thoại:
Người làng Thành Chung có nghề trồng rau thơm. Ở đây kể lại rằng vì yêu
quí con sông xinh đẹp, nhân dân hai bờ sông đã nấu nước của trăm loài hoa đổ
xuống dòng sông cho làn nước thơm tho mãi mãi.Huyền thoại ấy đã trả lời
câu hỏi : ai đã đặt tên cho dòng sông?
23
Câu 23: Số phận người nông dân miền núi trong tác phẩm “ Vợ chồng A
Phủ của Tô Hoài”.
Tác phẩm đã tái hiện bức tranh chân thực về cuộc sống đau khổ, bi thảm
của người lao động miền núi. Trong đó Mị và A phủ- 2 con người dưới ách áp
bức bóc lột của bọn chúa đát phong kiến, phải làm nô lệ, mang thân phạn phận
tủi nhục chính là là những nạn nhân tiêu biểu cho chế độ tàn bạo dã man nói
trên.
- Bọn chúa đất, bọn thống lí cấu kết với giặc Pháp, được bọn Tây đồn cho
muối về bán, ăn của dân nhiều, giàu lắm, nhà có nhiều nương, nhiều bạc nhiều
thuốc phiện nhất làng.
- Pá Tra cho vay nợ lãi, Mị trở thành con dâu gạt nợ nhà thống lí. Tuổi xuân
và hạnh phúc bị cướp mất. Mị sống khổ nhục hơn con trâu, con ngựa.
- A Phủ vì tội đánh con quan mà bị làng xử kiện, bị đánh, bị phạt vạ, trở
thành kẻ ở nợ cho Pá Tra.
- Cảnh Mị bị A Sử trói đứng. Cảnh A Phủ bị trói cho đến chết vì tội để hổ
lắng nghe tiếng ai thổi sáo rủ bạn đi chơi. Mị nghe tiếng sáo vọng lại, tha thiết
bổi hổi. Mị ngồi nhẩm bài hát của người đang thổi:
“Mày có con trai con gái rồi
Mày đi làm nương
Ta không có con trai con gái
Ta đi tìm người yêu”
Mị lén lấy hũ rượu, cứ uống ừng ực từng bát. Rồi say, Mị lịm mặt ngồi
đấy hồi tưởng lại ngày trước. Ngày trước, Mị thổi sáo giỏi, thổi lá cũng hay
như thổi sáo. Mùa xuân, Mị uống rượu trên bếp và thổi sáo. Có biết bao nhiêu
người mê, ngày đêm đã thổi sáo đi theo Mị hết núi này sang núi khác. Sức
sống lại dạt dào trong lòng nàng. “Mị thấy phơi phới trở lại, trong lòng độy
nhiên vui sướng như đêm tết ngày trước. Mị trẻ lắm, Mị vẫn còn trẻ, Mị muốn
đi chơi.” Tiếng sáo còn rập rờn trong đầu Mị, Mị quấn lại tóc, Mị mặc váy
hoa. Ai bảo cô Mị chỉ lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa? Dĩ nhiên tuổi
xuân của nàng đã bị tàn phá. Sức sống của nàng đã bị đè nén. A Sử trói Mị lại,
quấn tóc lên cột. Đóng cửa buồng rồi bỏ đi. Thật là tàn bạo, Mị vẫn đứng im
như không biết mình đang bị trói. Hơi rượu còn nồng nàn, Mị vẫn nghe tiếng
sáo đưa Mị đi theo những cuộc chơi.
“Em không yêu, quả pao rơi rồi
Em yêu người nào, em bắt pao nào”
Mị vùng vằng bước đi nhưng toàn thân đau nhức không cựa được. Sức
sống tiềm tàng trong người Mị bộc phát thật là dữ dội.
Sức sống tiềm ẩn của Mị bộc lộ tột đỉnh trong hành vi nổi loạn giải thoát
cho A Phủ và cho chính mình. A Phủ là người ở trừ nợ (vì đánh A Sử nên bị
phạt vạ) trong nhà thống lí. A Phủ chăn bò bị hổ ăn mất một con. A Phủ bị
trói. Đêm đêm, Mị dậy sưởi lửa thấy mắt A Phủ trừng trừng, biết A Phủ còn
sống, Mị vẫn lạnh lùng vì đời Mị khổ quá, Mị chỉ còn ở với ngọn lửa. Có đêm
A Sử thấy Mị ở đây đã đập Mị ngã xuống cửa bếp nhưng trái tim của cô gái
giàu yêu thương ấy lại thổn thức. Đêm khuya Mị trở dậy thổi lửa, ngọn lửa
25