Xây dựng hệ thống hỗ trợ kết hợp với du lịch lữ hành tại Việt Nam - Pdf 16

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
XÂY DỰNG HỆ THỐNG HỖ TRỢ KẾT
HỢP VỚI DU LỊCH LỮ HÀNH TẠI
VIỆT NAM
I/ Tóm tắt dự án :
Trong những năm gần đây tỉ lệ người nước ngoài nhập cư vào việt
nam tăng vọt.Số lượng khách định cư lâu dài cũng tăng lên Ngành Du lịch
Việt Nam đã hoàn thành kế hoạch của năm 2007, đón từ 4,0-4,4 triệu lượt
khách quốc tế, 19-20 triệu lượt khách du lịch nội địa, và tổng doanh thu từ
du lịch ước đạt khoảng 56.000 tỷ đồng. Lượng khách quốc tế đến Việt Nam
trong năm 2007 tương đối ổn định đạt trung bình 350.000 lượt/tháng, tăng
bình quân 17% so với năm 2006. Sự kiện này còn là cơ hội xúc tiến, quảng
bá Du lịch Việt Nam trên các phương tiện thông tin, truyền thông trong và
ngoài nước. Nó thể hiện một kết quả khả quan của chính phủ việt nam trong
thời gian qua nhất là sau khi hội nhập WTO thế nhưng chưa có một biện
pháp hoàn chỉnh hỗ trợ cho khách nước ngoài tại Việt Nam .Nó khiến cho
những người nước ngoài sống tại Việt Nam chưa thực sự thoải mái và tạo ấn
tượng tốt nhất cho khách nước ngoài về sản phẩm dịch vụ tại Việt Nam.
Phần lớn những sản phẩm dịch vụ tại Việt Nam hiện nay do các công ty tự
nhân phụ trách và còn rời rạc chưa thống nhất. Vì thế chúng em chọn đề tài
khoa học lần này là hệ thống hỗ trợ kết hợp với du lịch,lữ hành Việt Nam để
đưa ra giải pháp xây dựng một hệ thống hoàn chỉnh về hỗ trợ dịch vụ du
lịch tại Việt Nam dành cho khách quốc tế.
II/ Khai thác đề tài:
1/ phạm vi nghiên cứu :
Trong quá trình tìm hiểu người nước ngoài đến tham quan du lịch
việt nam chúng tôi đưa ra hai loại đối tượng mà hệ thống hỗ trợ cần đáp ứng:
những người đi tham gia du lịch theo tour của các công ty du lịch trong nước
như là viettravel,việt nam tourist,phương nam tourist,rest tour… và những
đối tượng đi tham quan việt nam một cách tự túc .
1

t?t
trung bình
kém
tốt
trung bình
kém
CHƯƠNG II
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA DU LỊCH QUỐC TẾ VÀ
KINH DOANH DU LỊCH
I/ Lữ hành và họat động kinh doanh lữ hành:
1. / Lữ hành:
Nói về quan điểm lữ hành là gì có rất nhiều ý kiến khác nhau trong
phạm vi nghiên cứu đề tài em xin được trình bày hai quan điểm :
+ Quan niệm chung về lữ hành :”Lữ hành là sự di chuyển của con
người từ nơi này đến nơi khác”theo cách đề cập này thì hoạt động du lịch
bao gồm yếu tố lữ hành nhưng không phải tất cả các hoạt động lữ hành đều
là du lịch
+ Theo quan niệm của Việt Nam” Lữ hành chỉ là một lĩnh vực kinh
doanh trong ngành du lịch ,lữ hành bao gồm những hoạt động tổ chức,sắp
xếp các chương trình du lịch cho khách”
2 / Sự ra đời của các hoạt động kinh doanh lữ hành:
Cách đây gần 2 thế kỷ, Tomas Cook, một nhà du lịch và nhà kinh tế
Anh đã sớm nhìn ra yêu cầu cần có các tổ chứ du lịch .Năm 1841, ông đã tô
chức một chuyến tham quan đặc biệt trên tàu hoả Leicester đến
Lafburroy(dài 12 dặm) cho 570 khách đi dự hội nghị .Giá dịch vụ vận
chuyển là 1 sterling cho một hành khách.Chuyến đi rất thành công đã mở ra
dịch vụ tổ chức các chuyến lữ hành cho du khách .Năm 1942,Tomas Cook tổ
chức văn phòng du lịch đầu tiên có tính chuyên nghiệp ở Anh(và cũng là văn
phòng đầu tiên có tính chuyên nghiệp trên thế giới) với chức năng tổ chức
cho công dân Anh đi du lịch khắp nơi. Đây là một mốc quan trọng đánh dấu

của họ thời gian 25 gờ hoặc hơn,
Định nghĩa trên mắc phải sai lầm đó là không đánh giá đúng mức độ
ảnh hưởng hay phụ thuộc giữa các ngành với nhau trong du lịch. Định nghĩa
vẫn chư giới hạn đầy đủ đặc trưng về lĩnh vực của cá hiện tượng và các mối
quan hệ kinh tế du lịch(các mối quan hệ thuộc loại nào:kinh tế,chính trị,xã
hội,văn hoá).Ngoài ra, định nghĩa cũng còn bỏ sót hoạt động của các công ty
giữ nhiệm vụ trung gian nhiệm vụ tổ chức du lịch và nhiệm vụ sản xuất hàng
hoá dịch vụ đáp ứng nhu cầu khách du lịch.
Xuất phát từ những thực tế đó chúng ta có thể nhìn nhận du lịch quốc tế
như sau: Du lịch quốc tế là hình thức du lịch mà ở đó điểm xuất phát và
4
điểm đến của cuộc haàn trình nằm ở các quốc gia khác nhau. Ở hình thức
này du khách phải vượt qua biên giới và tiêu ngoại tệ ở nơi đến du lịch.Từ
cách nhìn nhận trên chũng ta có thể thấy rằng du lịch quốc tế là những hình
thức du lịch có dính dáng tới yếu tố nước ngoài, điểm đi và điểm đến của
hành trình ở các quốc gia khác nhau,khách du lịch sử dụng ngoại tệ của nước
đến nước du lịch hay dùng những thẻ và các hình thức tính dụng khác dùng
để chi tiêu trên quốc gia du lịch để chi tiêu cho nhu cầu du lịch của mình.
2/ Phân loại du lịch quốc tế:
Du lịch quốc tế được chia làm hai loại: Du lịch quốc tế chủ động và du
lịch quốc tế bị động.
+ Du lịch quốc tế chủ động là hình thức du lịch của khách ngoại quốc
đến một đất nước nào đó ví dụ như là Việt Nam và tiêu tiền kiếm được từ
đất nước của họ.
+ Du lịch quốc tế bị động là hình thức du lịch có trong trường hợp các
công dân Việt Nam đi ra ngoài biên giới nước ta và trong chuyến đi ấy họ
tiêu tiền kiếm được tại Việt Nam.
Xét trên phương diện thực tế,du lịch quốc tế chủ động gần giống hoạt
động xuất khẩu vì nó làm tăng thu nhập ngoại tệ cho đất nước du lịch.
Khách du lịch quốc tế đến Việt Nam đổi ra ngoại tệ để chi tiêu số tiền chi

con người.
+Tiêu dùng du lịch thường xảy ra theo thời gian.
Qua những đặc điểm du lịch trên ,ta thấy vai trò của kinh doanh du lịch
quốc tế như sau:
4.1/ Du lịch quốc tế tạo nguồn thu nhập ngoại tệ đáng kể cho đất nước.
Thật vậy, năm 1998, Mêhico đã thu được 7,8 tỷ USD, đứng thứ 2 về
thu nhập của cả nước, đứng thứ 14 thế giới về thu nhập từ du lịch.
Ngoại tệ thu đựoc từ du lịch quốc tế góp phần cải thiện cán cân thanh
toán của đất nước và thường được sử dụng để mua sắm thiết bị máy móc cần
thiết cho qúa trình tái sản xuất xã hội. Do vậy, du lịch quốc tế góp phần xây
dựng cơ sở vật chất kỹ thuật và tăng thu nhập quốc dân.
4.2/ Tạo điều kiện cho đất nước phát triển du lịch.
6
Cũng như ngoại thương, du lịch quốc tế tạo điều kiện cho đất nước phát
triển du lịch, tiêt kiệm lao động xã hội khi xuất nhập khẩu một số mặt hàng.
Nhưng xuất khẩu theo đường du lịch quốc tế có lợi hơn nhiều so với ngoại
thương. Trước hết, một phần rất lớn đối tượng mua bán quốc tế là các dịch
vụ (lưu trữ, bổ sung, trung gian …) Do vậy,xuất khẩu của du lịch quốc tế
còn là hàng ăn uống, hoa quả, rau xanh, hàng lưu niệm. Như vậy, xuất khẩu
qua du lịch quốc tế là : “xuất khẩu tại chỗ” hàng hoá, dịch vụ, những hàng
hoá không thể hay khó xuất khẩu được qua con đường ngoại thương thông
thường, mà nếu muốn xuất khẩu chuũn phải đầu tư nhiều chi phí cho việc
đóng gói, bảo quản và vận chuyển mà giá cả lại thấp hơn.
Việc xuất khẩu thông qua du lịch quốc tế luôn đảm bảo thực hiện
doanh thu lớn hơn nếu cùng xuất khẩu những hàng hoá đó theo đường ngoại
thương vì hàng hóa xuất khẩu theo đường du lịch quốc tế theo giá bán lẻ còn
nếu xuất khẩu hàng hoá đó bằng con đuờng ngoại thương thì giá này lại là
giá bán buôn.
Xuất khẩu thông qua du lịch quốc tế không tốn chi phí vận chuyển quốc
tế, tốn chi phí đóng gói và bảo quản hơn xuất khẩu ngoại thương vì nó được

Giao thông vận tải, thông tin liên lạc, khách sạn, y tế, xây dựng. Du lịch
quốc tế có vai trò quan trọng trong việc giáo dục tinh thần quốc tế cho các
dân tộc, làm cho mọi người thấy được sự cần thiết phải phát triển và củng
cố các mối quan hệ quốc tế. Du lịch quốc tế góp phần là cho các dân tộc gần
gũi nhau hơn , bình thường hoá quan hệ quốc tế và tăng thêm phần hữu nghị
giữa các dân tộc.
5.C ác nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động du lịch quốc tế
Ngày nay với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế, lĩnh vực dịch vụ
đã đống vai trò quan trọng và ảnh hưởng sâu sắc đến mọi mặt của đời sống
kinh doanh xã hội của các nước đang phát triển cũng như các nước phát triển
.Năm 1970, dịch vụ chiếm 55% tổng sản phẩm của các nước đang phát triển.
Đến năm 1990, tỉ trọng của dịch vụ đã tăng lên tới 65%, trong đó phần lớn là
sự tăng trưởng của các ngành tham gia vào thương mại quốc tế. Chính vì
vậy, việc xác định các yếu tố ảnh hưởng đến lĩnh vực kinh doanh dịch vụ
quốc tế nói chung và kinh doanh du lịch quốc tế nói riêng có ý nghĩa vô
cùng quan trọng. Nó giúp khắc phục, hạn chế những tác động xấu đến những
lĩnh vực kinh doanh du lịch quốc tế, đồng thời góp phần thúc đẩy sự phát
8
triển của lĩnh vực này. Có thể liệt kê một vài yếu tố ảnh hưởng đến kinh
doanh du lịch quốc tế:
+Sự tăng cầu của người tiêu dùng về du lịch do thu nhập tăng.
+Sự tăng cầu của các hãng về du lịch.
+Khả năng cung ứng của các nhà cung cấp dịch vụ du lịch.
+Giá cả và chất lượng dịch vụ du lịch.
+Việc thiểu hoá và việc bảo tồn nguyên vật liệu cũng là một nguyên nhân
khiến cho tỉ trọng ngành du lịch tăng lên biểu hiện ở đầu ra công nghiệp.
+Thay đổi kỹ thuật đã nuôi dưỡng khả năng tồn tại và khả năng tiếp xúc với
nhau của cá hãng kinh doanh du lịch cách xa trên thế giới.
+Sự phát triển của các công ty đa quốc gia.
+Việc xoá bỏ hoặc lập các hàng rào chắn các quy định cũng tạo ra điều kiện

này.
+Sự không khuyến khích của chính phủ đối với việc cung cấo và tiêu thụ các
sản phẩm du lịch quốc tế.
Tuy nhiên sau khi vào WTO chính phủ việt nam đã có nhiều sửa đổi được cụ
thể hoá trong quyển: Những qui định mới nhất về nhập cảnh, xuất cảnh và
cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam(NXB Thanh niên) dày 208 trang,
được in thành ba thứ tiếng Việt - Anh - Pháp. Sách tập hợp những văn bản
pháp luật mới nhất của Nhà nước trong lĩnh vực xuất, nhập cảnh như Pháp
lệnh số 24/1999/PL-UBTVQH về nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người
nước ngoài tại Việt Nam, Nghị định số 21/2001/NĐ-CP.
_Du lịch quốc tế:
10
Các trở ngại đối với việc kinh doanh du lịch ở nước ngoài gồm hai hình thức
cơ bản: Các hàng rào hạn chế xâm nhập và những khó khăn của việc cung
cấp dịch vụ ở nước ngoài. Các hàng rào hạn chế xâm nhập thường được xem
là yếu tố để đảm bảo an ninh quốc gia,an ninh kinh tế. Chính phủ thường
đưa ra các biện pháp, chính sách để bảo hộ mạnh mẽ đối với hoạt động dịch
vụ trong nước. Các quy định bắt buộc các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài
phải bỏ ra một khoản chi phí lớn hơn so với các nhà cạnh tranh nội địa,
không cho phép tự do cạnh tranh trong một số lĩnh vực dịch vụ.
Như bất cứ một loại hình kinh doanh, một lĩnh vực kinh doanh nào
khác, lĩnh vực kinh doanh du lịch cũng chịu sự tác động, sự chi phối của môi
trường kinh doanh du lịch quốc tế. Mỗi một quốc gia, mỗi một khu vực đều
có những đặc trưng khác nhau về môi trường kinh doanh. Mỗi quốc gia có
một môi trường luật pháp, môi trường kinh tế, môi trường kinh tế, môi
trường chính trị, môi trường văn hoá, môi trường cạnh tranh khác nhau. Mặt
khác các nhân tố, các điều kiện của môi trường kinh doanh cũng rất phong
phú, đa dạng và luôn biến đổi khá phức tạp. Sự thay đổi đó có ảnh hưởng
không nhỏ tới hoạt động kinh doanh du lịch quốc tế. Nó đòi hỏi các nàyh
kinh doanh du lịch quốc tế phải nắm vững được đặc điểm, sự thay đổi của

thường đều chịu chi phối của các qui luật kinh tế như quy luật cung cầu, quy
luật cạnh tranh, qui luật giá cả, nhưng do có những đặc điểm riêng biệt nên
thị trường du lịch xuất hiện muộn hơn so với các thị trường hàng hoá khác.
Thị trường du lịch là tập hợp của cung, cầu về sản phẩm du lịch (trong đó
chủ yếu là dịch vụ) và các mối quan hệ để xác định giá cả giữa chúng.
12
Một đặc điểm tiếp theo của thị trường du lịch quocó tế đó là thị trường
du lịch quốc tế chịu sự tác động của các điều kiện kinh tế, điều kiện giao
thông, không khí hoà bình ổn định trong nước độ an toàn đối với du khách,
tính ổn định của thị trường du lịch bị ảnh hưởng rất lớn bởi các điều kiện
trên. Cụ thể là do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng châu Á gây suy thoái
kinh tế ở nhiều nước châu Á đã làm cho người ta ít đi du lịch nước ngoài
hơn. Người châu Âu chỉ thích đi du lịch các nước châu Âu và người châu Á
không muốn đi du lịch ở các nước ngoài châu á với lý do tiết kiệm chi phí.
Người Mỹ sẽ ít đi cu lịch các nước đạo hồi hơn vì lo ngại tình trạng khủng
bố của phong trào Hồi giáo quá khích. Vì lý do đó thị trường du lịch Mỹ la
tinh và vùng Caribe sẽ được lời nhờ thu hút được du hách Hoa Kỳ đến thăm
do sự thuận tiện về mặt địa lý, tường đồng với văn hoá Mỹ và tình hình
chính trị khá ổn định..
6.2. Kinh nghiệm phát triển hoạt động du lịch quốc tế của một số
nước trên thế giới .
Du lịch được người ta vĩ như một ngành công nghiệp không khói.
Ngành du lịch đã và đang góp phần tích cực trong sự phát triển kinh tế của
nhiều quốc gia. Ngành du lịch góp phần tăng thu ngoại tệ, tạo công ăn việc
làm, thúc dẩy nhiều ngành kinh tế khác cùng phát triển…Chúng ta có thể
tổng hợp một số kinh nghiệm quản lý, kinh doanh du lịch ở một số nước như
sau:
1.Coi trọng chiến lược, kế hoạch và các chính sách thúc đẩy phát triển
du lịch.
Kinh nghiệm của “Cường quốc” du lịch trên thế giới cho thấy, muốn

Trích đoạn Có những biện pháp hỗ trợ cho người nước ngoài tại Việt Nam:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status