Lời nói đầu
Quán triệt t tởng chỉ đạo của Đảng và Nhà nớc: du lịch là ngành kinh
tế mũi nhọn, phát triển du lịch là một hớng quan trọng trong chiến lợc phát
triển kinh tế - xã hội của đất nớc. Toàn Đảng, toàn ngành du lịch đang phấn
đấu xây dựng và phát triển du lịch, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, chuyển dịch cơ cấu kinh tế- xã hội với chủ đề trọng
tâm: Việt Nam - Điểm đến của thiên niên kỉ mới.
Hà Tây, tỉnh có tài nguyên đa dạng và phong phú lại nằm ở vùng lân
cận trung tâm du lịch lớn của cả nớc đó là thủ đô Hà Nội, đang có tiềm năng
du lịch to lớn. Mở ra các loại hình du lịch mới và đặc trng với chất lợng cao
nhằm thu hút ngày càng nhiều khách du lịch đến với Hà Tây.
Là một địa phơng tập trung nhiều danh lam thắng cảnh và di tích văn
hoá lịch sử. Cho đến nay, Hà Tây có hơn 300 di tích đã đợc Bộ Văn hoá
thông tin xếp hạng, có nhiều danh thắng nổi tiếng nh: Ba Vì, Quan Sơn,
Đồng Mô, Khoang Sanh - Suối Tiên..... Hơn nữa, sinh hoạt văn hoá Hà Tây
còn mang tính cộng đồng đậm đà bản sắc dân tộc thông qua các lễ hội
truyền thống và các làng nghề cổ truyền nổi tiếng. Đó là những tài nguyên du
lịch quý giá, là cơ sở để phát triển du lịch văn hoá và du lịch sinh thái đầy
hấp dẫn với du khách trong và ngoài nớc. Từ cuối năm 1999, chính phủ đã
ban hành chế độ làm việc 40 giờ/tuần. Đến nay, nhiều ngời lao động đợc nghỉ
hai ngày cuối tuần. Nh vậy, số thời gian rỗi tăng lên và ngời dân có nhiều
thời gian cho du lịch cuối tuần. Chính điều này tạo tiền đề cho sự phát triển
du lịch cuối tuần, tạo ra nhiều công ăn việc làm cho dân c địa phơng, khuyến
khích và bảo tồn và khai thác có hiệu quả các danh thắng và di tích văn hoá
lịch sử, bảo vệ môi trờng sinh thái và đem lại nhiều lợi ích thiết thực cho địa
phơng về kinh tế, xã hội, văn hoà, nâng cao mức sống ngời dân.
1
Nhìn từ góc độ lý luận, du lịch Hà Tây đang đặt ra nhiều cơ hội và
thách thức. Vậy, muốn phát triển du lịch cuối tuần, ngành du lịch cùng các
ngành các cấp phải làm gi?, làm nh thế nào?
Xuất phát từ thực tiễn trên, em chọn đề tài Một số giải pháp để phát
ngời
kg/ngời 300 395 31,67
7. Giá trị sản xuất công
nghiệp
1.172,2 2.476,2 18,6
8. Giá trị sản xuất nông
nghiệp
tỷ đồng 2.030,9 3.003,5 8,1
9. Giá trị hàng xuất khẩu
triệu USD 9,7 34,9 29,1
10. Giá trị hàng nhập khẩu triệu USD 2,3 47 83,1
Đầu t nớc ngoài đến hết năm 1999 có 35 dự án với tổng số vốn đăng
ký 568 triệu USD. Một số dự án lớn nh Nhà máy bia Đông Nam á, Công ty
nớc giải khát Cocacola - Ngọc Hồi...
3
Về sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp những năm gần đây
đã có sự tăng trởng bình quân đáng khích lệ nh tốc độ tăng trởng có nhiều
sản phẩm đợc tạo ra không những đáp ứng đủ nhu cầu trong tỉnh mà còn xuất
sang các tỉnh bạn và xuất khẩu bình quân sang các nớc. Các sản phẩm công
nghiệp cũng góp phần quang trọng cung cấp các vật t cho du lịch, bảo đẩm sự
đa dạng phong phú các sản phẩđợc tạo điều kiện thuận lợi cho du khách và
ngày càng bảo đảm tính hoàn thiện.
Về nông lâm nghiệp củng có sự thay đổi cả về cơ cấu lẫn hiệu quả nh
tính từ năm 1993, cơ cấu nông nghiệp của tỉnh là 53,95% thì đến năm 1997
cơ cấu này là 40,4% giá trị sản xuất nông lâm nghiệp tăng từ 2.597,3 tỉ đồng
năm 1995 lên 2.800,5 tỉ đồng năm 1997.
Sự đóng góp tích cực của các ngành kinh tế là điều kiện quyết định
góp phần tăng thu nhập, cải thiện đời sống ngời dân. Thu nhập bình quân của
ngời dân Hà Tây đã dợc tăng lên đáng kể trong những năm gần đây. Năm
1997 thu nhập bình quân ở mức 350.000 đồng/tháng thì năm 2000 đã là
Tuýên Hà Nội-Hà Đông Ba La-Vân Đình-Hơng Sơn.
Đây là tuyến du lịch hành hơng và lễ hội chính của tỉnh với lợng
khách chiếm tới 50% số du khách đến tỉnh đặc biệt trong mùa lễ hội.
Về giao thông đờng thuỷ, có tuyến sông Đà, sông Hồng và tuyến sông
Đáy với cảng Hồng Vân, Sơn Tây và một vài cảng nhỏ
Khi các sông Đà, sông Hồng đợc chỉnh tu ổn định, Hà Tây sẽ có thể
khai thác các tuyến sông chính:
Tuyến Phà Đen-Sơn Tây-Đá Chông( dọc sông Hồng và sông Đà)
Tuyến du lịch sông Đáy tới chùa Hơng và nối với Ninh Bình
5
b. Thông tin liên lạc
Ngành này đang phát triển từng bớc để phục vụ cho các ngành kinh tế,
quốc phòng và an ninh. Những năm gần đây, sự phát triển mạnh mẽ nhất của
bu điện là đổi mới công nghệ, ngành sử dụng rất nnhiều và đồng bộ những
tiến bộ của khoa học kĩ thuật. Bao gồm những thành tựu của khoa học hệ
thống đến các thành tựu khoa học sản xuất phần cứng và phần mềm với các
chiến lợc phát triển viễn thông nông thôn, chiến lợc đi thẳng vào hiện đại và
số hoá, đã tạo điều kiện cho việc kết nối trong và ngoài nớc, phục vụ đắc lực
cho phát triển du lịch.
Năm 1991, ngành đã xây dựng các loại tổng đài điện tử tự động ở các
tỉnh và huyện.
Năm 1995 hoàn thành chiến lợc số hoá, cơ bản xây dựng xong mạng
viễn thống số (IDN), 100% số huyện có tổng đài điện tử số và truyền dẫn.
Trong các dịch vụ bu chính viễn thông của tỉnh có những dịch vụ:
chuyển tiền nhanh, bu phẩm chuyển phát nhanh EMS, PCN.
Theo thống kê, số máy điện thoại của tỉnh năm 19856 có 0,18 máy
trên 100 dân. Đến năm 1995-1 máy/100 dân.
Đây là số liệu đáng phấn khởi cề mức sống và mức sử dụng thành tựu
khoa học thông tin của ngời dân. ngoài khu vực thị xã và các cơ quan Nhà n-
ớc thì 100% số xã trong tỉnh có máy điện thoại. Tính đến hết năm 1998, toàn
Địa hình đồi: 54400 ha
Địa hình đồng bằng ( 1,7 -11m) 144450ha
Trong đó có các dạng địa hình có giá trị du lịch :
Địa hình Karst: dạng địa hình này ở Chơng Mỹ, Mỹ Đức..là dạng địa
hình với hệ thống hố, phễu, máng, trũng tạo nên những khối đá vôi riêng biệt
dạng tháp và tháp cụt cùng nhiều hang động đẹp ( động Hơng Tích, Chùa
7
Tiên ,Chảy Tuyết, Hin Đồng) mà tiêu biểu là phía tây huyện Mỹ Đức với hai
dãy Hơng Sơn và Lơng Ngãi chạy theo hớng tây bắc- đông nam.
Địa hình núi + Karst: là khu vực Ba Vì với núi đá phân bố thành cụm
nhỏ trong khu vực Núi Che, Xóm Mít, Suối Ma.
Nhìn chung địa hình Hà Tây là tơng đối đa dạng. Đây thực sự là nguồn
tài nguyên hết sức có giá trị tạo nên cảnh quan thiên nhiên độc đáo có thể
diễn ra các hoạt động du lịch cuối tuần .
b. Khí hậu
Hà Tây nằm ở trung tâm đồng bằng bắc bộ do đó khí hậu mang đặc
điểm nhiệt đới ẩm gió mùa. Từ tháng 5 đến tháng 10 là mùa hạ, khí hậu ẩm -
ớt nhiều ma. Từ tháng 11 đến tháng 4 là mùa đông lạnh. Giữa 2 mùa là thời
kì chuyển tiếp tạo cho tạo cho Hà Tây có 4 mùa xuân, hạ, thu, đông.
Xét theo chiều cao của địa hình Hà Tây có 3 tiểu vùng khí hậu: vùng
đồng bằng (tơng đối nóng ẩm hơn các vùng khác), vùng đồi (khí hậu lục địa)
và vùng núi Ba Vì từ 700 m trở lên( mát mẻ).
Khí hậu Hà Tây tơng đối thuận lợi cho hoạt động du lịch. Đáng chú ý
hơn cả là khí hậu ở khu vực Ba Vì rất phù hợp cho hoạt động du lịch cuối
tuần. Do độ cao nên khí hậu nơi đây luôn mát mẻ, không khí trong lành nhiệt
độ trung bình năm 18 độ C.
Ma là hiện tợng thời tiết gây trở ngại đối với hoạt động du lịch đặc
biệt là du lịch cuối tuần vì hoạt động này chỉ diễn ra trong thời gian ngắn.
Chính vì vậy tại thời điểm du lịch ma càng ít càng thuận lợi. Lợng ma ở Hà
Tây tập trung vào mùa hè. Tuy nhiên, ma thờng ma rào, ma dông trong thời
động, thực vật. Về động vật, Ba Vì cũng rất đa dạng với chim( 144 loài thuộc
40 họ, 17 bộ trong đó có 6 loài quý hiếm), bò sát( 42 loài thuộc 12 họ, 3 bộ
trong đó có 12 loài quý hiếm ), lỡng c ( 27 loài, 6 họ, 1 bộ), thú có 44 loài
thuộc (23 họ,9 bộ,có 12 loài qúy hiếm)vv..vv.
9
Khu vực Hơng Sơn có hệ động vật khá phong phú. Ngoài thảm thực
vật thuỷ sinh nên vùng núi đá vôi có tới 550 loài thuộc 190 họ. Về động vật
hoang dã thống kê đợc 32 loài thú thuộc 17 họ, 7 bộ, 88 loài chim thuộc 37
họ, 15 bộ và 35 loài bò sát thuộc 16 họ,3 bộ.
Các loài nằm trong sách đỏ Việt Nam, Ba Vì có 6 loài chim,12 loài bò
sát, 12 loài thú. ở hơng sơn có 4 loài chim, 10 loài bò sát.Tính đang dạng
sinh học của hệ sinh thái làm tăng vẻ đẹp và tính hoang sơ của cảnh núi rừng
sông nớc là nét quyến rũ lớn dối với du khách nhất là ngời dân thành phố.
4. Tài nguyên du lịch nhân văn.
Trong quá trình lịch sử, Hà Tây vốn nổi tiếng là vùng đất văn hiến th-
ờng nằm vị trí tiếp giáp với các trung tâm chính trị, kinh tế văn hoá quan
trọng nhất của đất nớc nh Cổ Loa, Hoa l, Thăng Long( Đông Đô- Hà Nội).
Cùng với truyền thống của tỉnh, đây là điều kiện thuận lợi cho việc tiếp thu
và phát triển những tinh hoa dân tộc cho việc khôi phục các ngành nghề
truyền thống..vv..vv. Đặc biệt các di tích lịch sử, kiến trúc thể hiện tài năng
của ông cha ta từ xa để lại rất có giá trị đối với du lịch.
a. Di tích lịch sử văn hoá.
Tính đến tháng3/1999, Hà Tây có 326 di tích với mật độ cao 14 di
tích/100km2 và đợc coi là một trong những tỉnh, thành phố có nhiều di tích
của cả nớc.
10
Bảng số lợng và mật độ di tích của Hà Tây tính đến năm 1993
phân theo huyện, thị .
STT Các huyện, thị Diện tích(Km2) Số lợng
Mật
sức thu hút rất lớn, hàng năm có tới nửa triệu ngời dân Việt Nam trên mọi
miền đất nớc và hàng vạn khách quốc tế về vãn cảnh. Có thể nói, Hơng Sơn
có giá trị to lớn về tài nguyên du lịch nhân văn và tự nhiên xứng danh là"
Nam thiên đệ nhất động" và đã trở thành địa danh du lịch nổi tiếng trong và
ngoài nớc.
Ngoài ra, còn có các lễ hội khác nh lễ hội chùa Thầy(7/3 âm lịch) là
một công trình kiến trúc đợc xây dựng từ thế kỉ XVII ở Đầm Long Chiểu hay
lễ hội Hát Môn Đền thuộc xã Hát Môn huyện Phúc Thọ thờ hai Bà Trng và
còn một số lễ hội khác nh hội Đền Và, chùa Mía ( Sơn Tây), chùa Trầm( Ch-
ơng Mỹ)....
c. Các làng nghề
Hà Tây là quê hơng của các làng nghề thủ công nổi tiếng. Các làng
nghề thờng tập trung ở Hà Đông, Thờng Tín, Thanh Oai. Thị xã Hà Đông là
nơi quy tụ nhiều ngành nghề truyền thống. Ngoài các làng nghề tơ lụa, thuê
ren, thảm trên đất Hà Tây còn có nhiều làng nghề truyền thống về khảm trai,
trạm khắc , sơn...
Nghề thủ công truyền thống có sức hấp dẫn lớn bởi họ có thể xem tận
mắt các nghệ nhân chế tác và mua hàng lu niệm nên có thể khai thác cho
hoạt động du lịch cuối tuần.
12